342
Vũ Đỗ Quỳnh
TÌNH TRẠNG HIỂU BIẾT
VỀ TÀI NGUYÊN GIÁO DỤC MỞ (OER) CỦA GIÁO VIÊN
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
Vũ Đỗ Quỳnh*1
1. MỞ ĐẦU
1.1. Về OER ở nước ta
Cơ quan giáo dục và văn hóa của Liên Hợp Quốc UNESCO có
định nghĩa như sau về những tài nguyên giáo dục mở, gọi tiếng Anh
là OER (Open Educational Resources): OER là những tài nguyên giáo
dục bất kỳ, thuộc công cộng hoặc được ban hành với một giấy phép
bản quyền mở. Do đó những tài nguyên giáo dục mở được sửa đổi, tùy
biến và phát tán lại tùy theo những điều kiện đã được ban hành với giấy
phép sử dụng của chúng (UNESCO).
Đối với các giáo viên thuộc các nước đang phát triển, đặc biệt ở
Việt Nam, khả năng tái sử dụng những tài nguyên OER là một cơ hội
cho phép nâng cao và đa dạng hóa kỹ thuật giảng dạy và chất lượng đào
tạo của bản thân mình. Và, đối với các trường đại học, trong đó đặc biệt
có Đại học Thăng Long (ĐHTL), việc nâng cao chất lượng đào tạo của
sinh viên là một trong những trọng tâm hàng đầu.
Thực tế, những tài nguyên giáo dục mở OER là một nguồn học liệu
TS., Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Thăng Long.
*1
tài nguyên giáo dục mở trong giáo dục đại học đã được điều chỉnh cho
phù hợp bối cảnh Việt Nam vào cuối tháng 4/2014.”. Tiếp theo, một
Vietnam Open Educational Resources : />
1
344
Vũ Đỗ Quỳnh
bảng hỏi khảo sát dự thảo sẽ được giao nộp vào giữa tháng 4/2014, để
một cuộc khảo sát sẽ được tiến hành từ cuối tháng 4/2014 cho tới cuối
tháng 6/2014 (sic). Tuy nhiên, sau cuộc họp nói trên, và cho đến bây giờ,
vẫn chưa thấy thành lập một nhóm kỹ thuật nào hết để soạn bảng câu hỏi
dự thảo cho cuộc khảo sát về OER như đã bàn.
Vì thế, sau khi ĐHTL được mời tham gia góp một bài tham luận
tại hội thảo cuối năm về OER do Khoa Thông Tin - Thư Viện (Trường
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội) tổ
chức, thì chúng tôi đã nghĩ rằng có lẽ Trường ĐHTL có thể thực hiện
một cuộc khảo sát ban đầu về OER nhằm đánh giá tình trạng hiểu biết
và sử dụng OER của đội ngũ giáo viên của Trường. Từ đó, Trường mới
có thể đánh giá yêu cầu dùng thực tế OER và đặt ra những nghiên cứu về
phương pháp sư phạm và về một chính sách hợp lý để phát triển nghiên
cứu việc sử dùng các OER trong quá trình giảng dạy của Trường.
Tuy nhiên phong trào phát triển và sử dụng OER tại Việt Nam còn
rất mới. Và theo chúng tôi, muốn một giáo viên dùng OER, để sau đó
được phát triển được nguồn OER ở Việt Nam, thì việc đầu tiên là giáo
viên đó phải có hiểu biết cụ thể OER là cái gì.
Trước khi bước vào tiến hành thiết kế và soạn các câu hỏi khảo sát
về OER tại Trường ĐHTL, chúng tôi đã tham khảo bên văn phòng
OER của đội ngũ giáo viên của Trường. Từ đó, chúng tôi mong muốn
tìm hiểu các câu trả lời cho những câu hỏi sau đây:
• Đội ngũ giảng dạy của Trường ĐHTL có biết OER là cái gì không?
• Đội ngũ giảng dạy của Trường ĐHTL đã dùng OER chưa?
• Đội ngũ giảng dạy của Trường ĐHTL có sẵn sàng dùng OER
trong giảng dạy không?
• Đội ngũ giảng dạy của Trường ĐHTL có sẵn sàng chia sẻ học
liệu của mình hay không?
• Đội ngũ giảng dạy của Trường ĐHTL có mong muốn tiếp tục
quan tâm đến OER không?
• Chúng tôi đã tạo ra 2 nhóm câu hỏi. Nhóm thứ nhất có 03 câu
hỏi nhằm mục đích xác định thành phần của người trả lời: là
giáo viên cơ hữu hay không, đã giảng tại trường từ bao nhiêu
lâu và thuộc đơn vị nào của Trường.
346
Vũ Đỗ Quỳnh
• Nhóm câu hỏi thư hai tập trung khảo sát về những khái niệm
liên quan đế OER, trong đó xem xét tinh thần sử dụng học liệu
do người khác tạo ra (chúng tôi gọi là học liệu ngoại) như thế
nào, có tinh thần tìm hiểu về giấy phép sử dụng học liệu hay
không và tinh thần sử dụng và chia sẻ OER trong tương lai như
thế nào. Cụ thể như sau:
• Về hiểu biết OER là gì: Sau khi đã giải thích và định nghĩa về
OER, chúng tôi đã hỏi các người được khảo sát là đã nghe đến
khái niệm về OER lần nào chưa và nếu có đến mức độ nào. Sau
đó chúng tôi đã hỏi người được khảo sát co biết đến 3 dự án
trực tuyến (Learning Management System - LMS) MOODLE đã có sẵn tại
Trường ĐHTL bằng cách tạo ra một lớp học dành riêng cho các cuộc khảo
sát và thiết kế cuộc khảo sát của chúng tôi với tên “Tình trạng hiểu biết và sử
dụng học liệu mở - OER - tại ĐHTL”. Các câu hỏi được thiết kế và chúng
tôi đã đề nghị một vài cán bộ tham khảo trực tuyến và trả lời các câu hỏi để
xem có câu nào không rõ ý nghĩa hay không?
Sau khi đã chỉnh sửa cuộc khảo sát, chúng tôi đã thực hiện khảo sát
thành 2 đợt, thứ nhất đối với những cán bộ nhân viên của Phòng Thông tin
Tư liệu - Thư viện (sau này sẽ gọi đơn giản là Thư viện) của Trường ĐHTL.
Tiếp theo đó, hệ thống khảo sát được tái thiết lập để mở rộng cuộc khảo
sát cho toàn Trường. Chúng tôi thông qua Phòng Hành chính Tổng Hợp
để thông báo rộng rãi về yêu cầu khảo sát cho tất cả các Phòng Ban, Khoa
bộ môn của Trường. Những cán bộ giảng dạy của Trường có thể trả lời trực
tuyến hoặc in một phiếu điều tra theo dạng PDF để điền bằng tay.
3. KẾT QUẢ KHẢO SÁT
Trong đợt một cuộc khảo sát, đã có 15 cán bộ nhân viên của Thư
viện tham gia cuộc khảo sát trong thời gian từ 4 đến 8 tháng 11/2015.
Đối với đợt thứ hai, ban đầu thời gian để trả lời được đề xuất là từ ngày
9/11/2015 cho đến ngày 15/11/2015. Tuy nhiên, sau đó, chúng tôi đã
phải kéo dài thời gian khảo sát cho đến ngày 20/11/2015. Tuy nhiên,
348
Vũ Đỗ Quỳnh
đến ngày 17/11, chúng tôi chỉ thu được 29 trả lời qua mạng, cho nên
chúng tôi đã phát tờ khảo sát đã in trên giấy đến tận các khoa/Bộ môn
của Trường. Chúng tôi đã kết thúc thu hồi các phiếu khảo sát để tiến
1 (6,7%)
1 (6,7%)
COL
14 (93,3%)
0 (0,0%)
1 (6,7%)
VOER
13 (86,6%)
1 (6,7 %)
1 (6,7%)
Về hiểu biết của giấy phép bản quyền Creative Commons, kết quả
khảo sát như trong hình 1 sau đây:
TÌNH TRẠNG HIỂU BIẾT VỀ TÀI NGUYÊN GIÁO DỤC MỞ (OER) ...
349
Hình 1. Tỷ lệ cán bộ phòng TTTL - TV đã trả lời biết/không biết về
Phần lớn các giáo viên đã trả lời đã giảng nhiều năm tại Trường,
từ 03-04 năm trở lên.
Về chuyên môn, hình 04 giới thiệu các khoa trực thuộc của những
người đã trả lời phiếu khảo sát:
TÌNH TRẠNG HIỂU BIẾT VỀ TÀI NGUYÊN GIÁO DỤC MỞ (OER) ...
351
Hình 04: Thành phần tham gia khảo sát ở các khoa của Trường (72 phiếu).
Trong trường, 02 khoa có số giáo viên đông nhất là Khoa Kinh tế
học, rồi đến Khoa Ngoại ngữ.
Hình 05: Tỷ lệ cán bộ giảng dạy đã biết về OER trước cuộc khảo sát (80 phiếu)
Các giáo viên Khoa Ngoại ngữ đã trả lời đông hơn các giáo viên
khoa Kinh tế.
3.2.2. Những câu trả lời liên quan đến học liệu ngoại, giấy phép bản
quyền và OER
3.2.2.1. Trả lời cho câu hỏi: “Trước khi trả lời cuộc điều tra này, anh/chị đã
biết về khái niệm hoặc về sự tồn tại của OER chưa?”:
Chỉ có 14% người trả lời đã khai biết và hiểu về OER. Số còn lại
hoặc hoàn toàn chưa biết (39%) hoặc chỉ có nghe đến mà không rõ
OER là cái gì (48%).
352
tưởng phổ biến (30% phiếu trả lời) là nếu lấy được tự do trên Internet
chẳng hạn có nghĩa là được dùng luôn.
Hình 08. Thái độ tìm hiểu về quyền sử dụng của học liệu ngoại
(76 phiếu).
3.2.2.5. Trả lời cho câu hỏi : Trước cuộc điều tra này, anh chị đã nghe đến
giấy phép tác giả Creative Commons như thế nào?
Hình 09: Tính hiểu biết đến giấy phép bản quyền Creative Commons
(80 phiếu).
354
Vũ Đỗ Quỳnh
Hình 09 cho thấy 74% người trả lời chưa bao giờ nghe đến giấy
phép bản quyền Creative Commons, và chỉ có 3% phiếu mới biết rõ
giấy phép bản quyền đó là có ý nghĩa gì.
3.2.2.6. Trả lời cho câu hỏi: Nếu anh chị tìm được một tài liệu OER có thể bổ sung
cho nội dung giảng dạy (anh chị chọn tất cả các câu trả lời thích hợp)
Hình 10: Thái độ khai thác nguồn OER
thích hợp với môn đang giảng (80 phiếu).
Hình 10 cho thấy 76% người được khảo sát đã tỏ ra ý tưởng sẵn
sàng tái sử dụng hoặc tùy biến các nguồn OER thích hợp với nội dung
giảng dạy của bản thân mình.
3.2.2.7. Trả lời cho câu hỏi: Trong tương lai, anh chị có thể chia sẻ những
nói thêm là đa số nhân viên của thư viện không được đào tạo về nghiệp
vụ và chủ yếu chỉ có nhiệm vụ trực các phòng học do đơn vị mình quản
lý. Những cán bộ của Thư viện chỉ có nghiệp vụ hạn chế ở công tác biên
mục, chưa tổ chức được nhiệm vụ phổ biến kiến thức thông tin khoa
học cho cán bộ giảng dạy và cho các sinh viên của Trường.
Do khái niệm về OER cũng tương đối mới, do UNESCO đưa ra
lần đầu tiên vào năm 2002 (UNESCO, không ngày), cách đây chỉ có
hơn một thập niên, cho nên việc biết đến khái niệm OER và sự tồn tại
của một số dự án điển hình về OER có một tỷ lệ thấp ở các phiếu trả
lời khảo sát là không có gì phải ngạc nhiên.
356
Vũ Đỗ Quỳnh
Ý thức tôn trọng bản quyền trí tuệ có lẽ là một khái niệm tương đối
mới trong xã hội Việt Nam, được chứng tỏ rằng bằng tỷ lệ cao (30%) những
người đã trả lời là dùng một cách tự do những nguồn học liệu đã tìm được
hoặc đã trả lời (7%) không quan tâm đến việc tìm hiểu có được phép dùng
học liệu ngoại hay không, cho nên không có gì ngạc nhiên khi 74% người
đã trả lời chưa hề nghe đến giấy phép bản quyền Creative Commons.
Liên quan đến việc sử dụng OER, 76% cán bộ giảng dạy trả lời sẵn
sàng dùng OER dưới nhiều hình thức, ngoài việc chỉ nguồn OER đó cho
sinh viên của mình, nếu như nguồn đó phù hợp với giáo trình mình đang
dạy. Còn việc chia sẻ học liệu do mình tạo ra thì chỉ có 3% phiếu trả lời tỏ ra
ý tưởng không muốn chia sẻ, còn lại bao nhiêu là có ý tưởng sẵn sàng chia
sẻ một phần học liệu của mình (39%) hoặc sẽ chia sẻ nếu như Trường hoặc
Khoa có yêu cầu (55%). Tuy nhiên cũng phải nhận là có 23% số cán bộ đã
trả lời sẵn sàng chia sẻ nhưng với điều kiện có một chính sách thoả đáng cho
Mười-Một 2015, từ />