```````-`
Chuyên ngành: Quản lý Giáo dục
MÃ SỐ: 60 14 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
Tiến sĩ TRẦN THỊ QUỐC MINH Thành phố Hồ Chí Minh - 2008
DANH MỤC KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT CB-GV-NV : Cán bộ-giảng viên-nhân viên
CBQL : Cán bộ quản lý
CN : Cử nhân
ĐH : Đại học
KS : Kỹ sư
KHCN : Khoa học công nghệ
LĐLĐ : Liên đoàn lao động
NCKH : Nghiên cứu khoa học
hủ yếu đã được UNESCO đúc kết và
khuyến cáo.
Ở nước ta hiện nay, nhìn chung chất lượng giáo dục - đào tạo vẫn còn nhiều vấn đề tồn tại cần
khắc phục. Việc nâng cao chất lượng giáo dục không chỉ còn là mối quan tâm của riêng những người
làm công tác giáo dục, mà là mối quan tâm của toàn xã hội. Nhiều hội nghị, báo cáo và trên các
phương tiện thông tin đại chúng đã đề cập đến vấn đề này. N
hiều văn bản chỉ đạo của Đảng và Nhà
nước ta đã vạch ra các chủ trương và giải pháp trong công tác quản lý nhằm nâng cao chất lượng giáo
dục-đào tạo. Trong đó, xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo được đặc biệt quan tâm. Mục 1, điều
99, chương VII của Luật giáo dục, do Quốc hội thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005, đã qui định nội
dung quản lý nhà nước về giáo dục “Tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo,
bồi dưỡng, quản lý nhà giáo và cán
bộ quản lý giáo dục”. Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010, được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
ngày 28 tháng 12 năm 2001, nêu rõ bẩy giải pháp để phát triển giáo dục, trong đó nhấn mạnh phát triển
đội ngũ nhà giáo là một trong các giải pháp trọng tâm. Tháng 4/2007, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết
định thành lập Cục Nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục thuộc Bộ giáo dục-đào tạo, càng thể hiện sự
qua
n tâm của Nhà nước trong việc phát triển, quản lý đội ngũ nhà giáo và tầm quan trọng của công tác
này ngày càng được đề cao.
Trong bối cảnh hiện tại, nhu cầu học tập của người dân ngày càng cao, hệ thống giáo dục đại
học ngày càng được mở rộng và phát triển đa dạng dưới nhiều hình thức. Công tác xây dựng và phát
triển đội ngũ giảng viên là một t
rong những nhiệm vụ cần được coi trọng, nhất là đối với các trường
mới được thành lập và các trường ngoài công lập như ở nước ta có bề dày hoạt động chưa lâu.
Trường ĐH Tôn Đức T
hắng đã thành lập và đi vào hoạt động được 10 năm. Nhà trường đang
trong quá trình củng cố, phát triển và mở rộng qui mô, từng bước khẳng định vị trí, uy tín trong xã hội và trong hệ thống các trường đại học Việt Nam. Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của trường hiện
Tuy nhiên, vẫn còn những tồn tại cần khắc phục, như: giảng viên chưa tích cực trong công
tác nghiên cứu khoa học, chưa quan tâm đến các hoạt động chung trong nhà trường, giảng viên cơ hữu
chưa thể hiện rõ vai trò là lực lượng nòng cốt trong các hoạt động của trường.
Đánh giá đúng thực trạng và áp dụng được những biện pháp quản lý hợp l
ý sẽ giúp giảng viên
phát huy hết nội lực của mình góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, đáp ứng yêu cầu đào
tạo và phát triển của nhà trường.
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về công tác quản lý giảng viên.
- Nghiên cứu thực trạng công tác quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ công tác của giảng viên cơ hữu
ở trường ĐH Tôn Đức T
hắng. Phân tích các nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên. - Đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý giảng viên để hoàn thành tốt nhiệm vụ
trong nhà trường.
6. PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Giảng viên trường đại học Tôn Đức Thắng chia làm ba đối tượng quản lý: cơ hữu, bán cơ hữu và
thỉnh giảng. Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng công tác quản lý đối với giảng viên cơ hữu, trên
cơ sở thực hiện 3 nhiệm vụ chính: giảng dạy, nghiên cứu khoa
học, và tham gia các hoạt động khác
trong nhà trường; không bàn sâu đến các khía cạnh khác của giảng viên. Chủ yếu nghiên cứu về công
tác quản lý giảng viên trong thời gian từ năm 2004 đến nay, từ khi nhà trường đặt nhiệm vụ trọng tâm
về tuyển dụng, xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên cơ hữu.
7. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
7.1 Các quan điểm phương pháp luận:
- Quan điểm hệ thống – cấu trúc
- Quan điểm lịch sử trong nghiên cứu khoa học
- Quan điểm thực tiễn trong nghi
ên cứu khoa học
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHIỆM VỤ CÔNG TÁC
CỦA GIẢNG VIÊN Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1.1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ:
Chỉ thị 40 CT/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã chỉ rõ: “Phát triển giáo dục và đào
tạo là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người. Đây là trách nhiệm của toàn
Đảng, toàn dân, trong đó nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là lực lượng nòng cốt, có vai trò quan
trọng” [1, tr.1].
Nhận thức tầm
quan trọng của vấn đề này nhiều tác giả đã nghiên cứu và công bố các đề tài
hoặc bài báo trong các hội nghị, hội thảo. Một số nghiên cứu có liên quan đã được thực hiện thời gian
qua, như sau:
- Luận văn tốt nghiệp lớp Chính trị cao cấp, với tên đề tài “Hoàn thiện cơ cấu tổ chức quản lý
Đại học Kinh tế Quốc dân”, của tác giả Mai Văn Bưu, đề tài hoà
n thành năm 2002. Nội dung tập trung
làm rõ thực trạng về cơ cấu tổ chức quản lý của Trường ĐH Kinh tế Quốc dân, đề ra những quan điểm
và giải pháp hoàn thiện cơ cấu tổ chức quản lý đến năm 2005 và 2010 của nhà trường, đáp ứng mục
tiêu xây dựng trường trọng điểm quốc gia, đa ngành, đa lĩnh vực, hội nhập với
khu vực và quốc tế.
- Luận văn tốt nghiệp lớp Chính trị cao cấp, với tên đề tài “Qui hoạch đội ngũ cán bộ chuyên
môn và cán bộ quản lý Trường Đại học khoa học Xã hội và Nhân văn – Thực trạng và giải pháp”, của
tác giả Phạm Xuân Hằng, đề tài hoàn thành năm 2003. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là khảo sát thực
trạng đội ngũ cán bộ của nhà trường khi tách ra khỏi Trường ĐH Tổng hợp để thành lập Trường ĐH
Khoa học Xã hội và Nhân văn t
huộc Đại học Quốc gia Hà Nội; Đề ra giải pháp ổn định đội ngũ và
nâng cao chất lượng qui hoạch cán bộ của trường. Nội dung nghiên cứu khẳng định khâu cán bộ và
PHCM quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên và
sinh viên từ 1995 đến 2000”, hoàn thành năm 2002. Đề tài đã xác định mục tiêu và các yêu cầu đối với
công tác NCKH từ đó phân tích thực trạng quản lý hoạt động này của Hiệu trưởng trường cao đẳng sư
phạm TPHCM, và đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động NCKH của GV và sinh viên để nâng
cao hiệu quả hoạt động NCKH.
- Luận văn thạc sĩ của tác giả Lê Bạt Sơn, với tên đề tài “Thực trạng và giải phá
p quản lý đội
ngũ giảng viên ở Trường cao đẳng sư phạm Phú Yên”, đề tài hoàn thành năm 2006. Trên cơ sở nhiệm
vụ chính trị của nhà trường tác giả đã phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý giảng viên của
trường cao đẳng sư phạm Phú Yên, từ đó đề xuất các giải pháp trong công tác quản lý đội ngũ GV của
trường, đáp ứng yê
u cầu đổi mới giáo dục hiện nay.
- Hội thảo về “Công tác quản lý giáo viên”, do Ban liên lạc các trường đại học Việt Nam tổ
chức tại Trường ĐH Cần Thơ tháng 01/2002. Đã có 22 bài tham luận xoay quanh vấn đề phát huy hiệu
quả làm việc của đội ngũ cán bộ giảng dạy, nhằm đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp
công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước tr
ong thời đại toàn cầu hóa. Chuyển đào tạo theo phương
châm lấy sinh viên làm trung tâm, phát triển các chương trình đào tạo tiên tiến, cải tiến phương pháp
giảng dạy và từ đó thúc đẩy sinh viên cải tiến phương pháp học tập, nâng cao hiệu quả quản lý trường
và không ngừng tăng cường cơ sở vật chất phục vụ đào tạo của trường.
- Hội thảo quốc gia “Đánh giá hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học của giảng viên”, do
Trung tâm đảm bảo chất lượng đào
tạo và nghiên cứu phát triển giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức tại Ninh Thuận vào tháng 6/2007. Gồm có 18 bài báo cáo bàn về các phương thức đánh giá hoạt
động giảng dạy và nghiên cứu khoa học của GV ở nước ta hiện nay, cũng như tìm hiểu kinh nghiệm
đánh giá GV ở một số nước phát triển.
Ngoài ra, còn nhiều tác giả, nhiều công trình nghiên cứu được công bố trên các tập san chuyên
ngành như: Tạp chí Giáo dục, Giáo dục và thời đại. Những công trình này thực sự nghiên cứu những
đề cập tới. Sau đây là một số định nghĩa:
- Theo F.Taylor: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu
đư
ợc rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [16, tr.21].
- Theo Henry Fayol: “Quản lý nghĩa là dự kiến, tổ chức, lãnh đạo, phối hợp và kiểm tra” [16,
tr.22]. - Theo Harold Koontz: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu; nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực
cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một
môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật
chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [22, tr.2].
- Từ điển tiếng Việt do Trung tâm từ điển ngôn ngữ Hà Nội xuất bản 1992, quản lý có nghĩa là:
Trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định; Tổ chức và điều khiển các hoạt động t
heo những
yêu cầu nhất định [22, tr.2].
- Tác giả Nguyễn Bá Sơn định nghĩa: “Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể những con
người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình lao động” [16, tr.8].
- Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy
động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong
và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao
nhất [16, tr.8].
Các khái niệm trên đây thuộc lĩnh vực quản lý xã hội, tuy có khác nhau, song chúng có các yếu
tố cơ bản chung của hoạt động quản lý là:
-
Hoạt động quản lý là những tác động hướng tới mục tiêu.
- Hoạt động quản lý được thực hiện bởi con người, tác động phối hợp các cá nhân nhằm đạt mục
tiêu của tổ chức.
- Hoạt động quản lý được thực hiện bê
nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào
tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ
trẻ và với từng học sinh” [37, tr.23].
Ngày nay, với quan điểm học thường xuyên, học suốt đời, công tác giáo dục không chỉ giới hạn
ở thế hệ trẻ mà cho mọi người, nên quản lý giáo dục được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc
dân, các trường trong hệ thống giáo dục quốc dân nhằm thực hiện mục tiê
u: nâng cao dân trí, đào tạo
nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.
Quản lý giáo dục được diễn ra trong phạm vi toàn quốc, trên địa bàn lãnh thổ (tỉnh, huyện) và
quản lý đơn vị cơ sở giáo dục (quản lý nhà trường). Quản lý giáo dục có nhiều cấp độ, dù ở cấp độ nào
quản lý giáo dục đều gồm 4 yếu tố cơ bản, đó là: chủ thể quản lý, đối tượng bị quản lý, khách t
hể quản
lý và mục tiêu quản lý. Các yếu tố này có mối quan hệ tương tác gắn bó với nhau.
Tóm lại: Quản lý giáo dục có thể hiểu là một chuỗi tác động mang tính tổ chức – sư phạm của
chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên và học sinh, đến những lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà
trường nhằm huy động họ cùng cộng tác, phối hợp, tham
gia vào hoạt động của nhà trường nhằm làm
cho qui trình vận hành tới việc hoàn thành những mục tiêu dự kiến.
Quản lý nhà trường là một bộ phận trong hệ thống quản lý giáo dục. Trường học là tổ chức
giáo dục cơ sở mang tính nhà nước – xã hội, trực tiếp làm công tác đào tạo thực hiện việc giáo dục toàn
diện cho thế hệ trẻ, trực tiếp tham gia vào quá trình thực hiện mục tiêu nâ
ng cao dân trí, đào tạo nhân
lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước. Trường học vừa là khách thể cơ bản của các cấp quản lý giáo
dục, vừa là một hệ thống độc lập tự quản của xã hội. Do đó, quản lý trường học nhất thiết phải vừa có
tính chất nhà nước vừa có tính chất xã hội.
Quản lý trường học là một dạng quản lý có tính chất đặc
thù, làm cho nó phân biệt với mọi loại
quản lý xã hội khác, được qui định trước hết là bản chất lao động sư phạm của giáo viên, bản chất quá
trình dạy học – giáo dục, trong đó học sinh vừa bị quản lý lại vừa tự giác hoạt động học tập của bản
thân.
tác chỉ đạo.
1.2.
3.4 Kiểm tra: Nhằm xem xét đánh giá thực trạng, phát hiện những sai lệch và điều chỉnh
đưa tổ chức đạt tới mục tiêu đề ra. N
hờ kiểm tra chủ thể quản lý tự đánh giá được các quyết định quản
lý của mình và thúc đẩy những người dưới quyền làm việc nghiêm túc để đạt được mục tiêu.
Tất cả các chức năng trên đều cần đến yếu tố thông tin. Thông tin có mặt trong suốt quá trình
quản lý, nó giữ vai trò cơ bản, là điều kiện, phương tiện không thể thiếu được cho mọi hoạt động quản
lý. Thông tin đầy đủ, kịp t
hời, cập nhật, chính xác là một căn cứ để hoạch định kế hoạch; thông tin
cũng là cơ sở cho các bộ phận trong cơ cấu tổ chức, là chất liệu tạo quan hệ giữa các bộ phận trong tổ
chức; thông tin chuyển tải mệnh lệnh chỉ đạo (thông tin xuôi) và phản hồi (thông tin ngược) diễn tiến
hoạt động của tổ chức; và thông tin từ kết quả hoạt động của tổ chức giúp cho người quản lý xem xét
mức độ đạt mục tiêu của toàn hệ thống.
Các chức năng nêu trên tạo thành chu trình quản lý, tác giả Trần Kiểm đã mô tả qua sơ đồ 1.1 Sơ đồ 1.1: Chu trình quản lý
Chức
năng kế
hoạch
hóa
Chức
năng tổ
chức
tại điều 46 đ qui định nhiệm vụ công tác của g
iảng viên:
- Hoàn thành nhiệm vụ giảng dạy và nghiên cứu khoa học được qui định theo giờ chuẩn do Bộ
giáo dục và đào tạo ban hành đối với các chức danh và ngạch tương ứng;
- Giảng dạy theo nội dung, chương trình đã được Bộ giáo dục và đào tạo, trường đại học qui
định. Viết giáo trình, bài giảng, tài liệu phục vụ giảng dạy - học tập theo sự phân công của các cấp
quản lý;
- Không ngừng tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, cải tiến phương pháp giảng dạy để nâng
cao chất lượng đào
tạo;
- Tham gia và chủ trì các đề tài nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, dịch vụ khoa học và
công nghệ, và các hoạt động khoa học và công nghệ khác;
- Chịu sự giám sát của các cấp quản lý về chất lượng, nội dung, phương pháp đào tạo và nghiên
cứu khoa học;
- Hướng dẫn, giúp đỡ người học trong học tập, nghiên cứu khoa học, rèn luyện tư tưởng, đạo
đức, tác phong, lối sống.
Bộ giáo dục và đào tạo đã nêu những nhiệm vụ đối với giảng viên trực tiếp giảng dạy, là
m
việc toàn thời gian trong các cơ sở giáo dục đại học (công văn số 113457/BGD-ĐT-NG ngày
25/10/2007):
Ngoài những nhiệm vụ chung của nhà giáo theo qui định của Luật giáo dục, giảng viên ở cơ sở
giáo dục đại học có nhiệm vụ:
1. Giảng dạy và giáo dục đại học
2. Nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ
3. Tham gia công tác quản lý đào tạo, quản lý khoa học và công nghệ tại cơ sở giáo dục đại học.
4. Thường xuyê
1.3.2 Các yếu tố xã hội ảnh hưởng đến công tác của giảng viên:
Sự biến đổi mạnh mẽ của nền kinh tế-xã hội có ảnh hưởng đến nền giáo dục nói chung và tác
động mạnh đến vai tr
ò, trách nhiệm công tác của nhà giáo nói riêng. Giảng viên trong nền giáo dục
hiện đại phải đáp ứng với bối cảnh của thời đại, đáp ứng những kỳ vọng của xã hội đối với nền giáo
dục đại học. Đó là thách thức lớn đối với nền giáo dục và từng giảng viên.
+ Thời đại ngà
y nay, với sự tiến bộ của khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin
và truyền thông, lượng thông tin ngày càng tăng mạnh, nhu cầu thông tin của mỗi người, mỗi tổ chức
cũng gia tăng, tốc độ truyền tin tăng lên. Việc này đã dẫn đến những thay đổi của nền giáo dục đại học:
1) Chuyển từ lấy việc dạy làm trọng tâm
sang lấy việc học làm trọng tâm. 2) Chuyển từ việc chú trọng
dạy kiến thức-kỹ năng sang chú trọng dạy năng lực. 3) Chuyển từ việc đào tạo tập trung sang đào tạo
không tập trung và 4) Chuyển từ quản lý tập trung sang quản lý tự chủ.
Những yêu cầu này đòi hỏi giảng viên phải không ngừng bồi dưỡng, học tập nâng cao nhận
thức, trình độ chuyên môn và nghiệp vụ, phương phá
p giảng dạy, nghiên cứu khoa học và năng lực
giảng dạy.
+ Sự bùng nổ dân số cùng với bối cảnh nền kinh tế tăng trưởng mạnh, những biến đổi xã hội
làm cho mức sống người dân được nâng cao, nhu cầu học tập ngày càng gia tăng. Giảng viên phải dạy
các lớp đông hơn, cường độ công việc tăng và trách nhiệm quản lý nặng nề hơn. D
o đó, có nhiều giảng
viên sẽ chỉ dạy mà không còn thời gian và sức lực để nâng cao và cập nhật trình độ chuyên môn hay
tham gia nghiên cứu khoa học.
+ Các thành tựu đổi mới về kinh tế, khoa học kỹ thuật, văn hóa giáo dục dẫn đến đến qui mô
giáo dục đại học tăng, số cơ sở giáo dục đại học cũng tăng lên nhanh chóng, chỉ tính trong 4 năm
(2001-2005)số sinh viên đại học, cao đẳng đã tăng gần gấp đôi:
Năm 2001
2005 Tỷ lệ
Số sinh viên
trường đại học, và đội n
gũ giảng viên là một trong những nhân tố quan trọng hàng đầu quyết định đến
chất lượng đào tạo. Chính vì vậy công tác quản lý đội ngũ giảng viên giữ vai trò quan trọng trong hoạt
động của nhà trường.
- Trường đại học không chỉ là cơ sở giáo dục, đào
tạo đơn thuần, mà còn là một cơ sở nghiên
cứu khoa học; ứng dụng, phát triển và chuyển giao công nghệ; tham gia giải quyết những vấn đề kinh
tế-xã hội của địa phương và đất nước. Một trường đại học có những đơn vị, cá nhân nghiên cứu khoa
học mạnh và có nhiều đóng góp trong phát triển khoa học, công nghệ sẽ góp phần tích cực vào c
hất
lượng, hiệu quả đào tạo và xác lập uy tín của mình trong đời sống kinh tế-xã hội của đất nước, địa
phương. Hoạt động nghiên cứu khoa học của một trường đại học cũng chính là hoạt động của từng
giảng viên trong nhà trường, giảng viên đóng góp tích cực vào sự phát triển chung của nhà trường.
- Trường đại học có vị trí quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân. N
ó đảm trách nhiệm vụ
đào tạo ở bậc cao nhất trong hệ thống giáo dục - đào tạo, đào tạo đại học và sau đại học. Ở đây là nơi
đào tạo chủ lực nguồn nhân lực với trình độ cao và nhân tài cho nền kinh tế quốc dân và cho xã hội.
Trong hệ thống giáo dục - đào tạo mỗi một trường đại học là một đơn vị cơ sở. Đội ngũ cán bộ giảng
dạy và nghi
ên cứu ở các trường đại học có vai trò hết sức quan trọng.
Giảng viên trong trường đại học, ngoài các nhiệm vụ chung của một công chức, như: chấp
hành các chủ trương, chính sách, nghị quyết của Đảng và Chính phủ, hiểu và vận dụng chúng vào hoạt động chuyên môn của mình, còn có nhiệm vụ thường xuyên, cơ bản là giảng dạy và nghiên cứu khoa
học. Các hoạt động này có những đặc điểm riêng, khác với các hoạt động bình thường của các công
chức chuyên môn khác. Các đặc điểm đó là:
+ Hoạt động của giảng viên vừa được kiểm soát theo kiểu hành chính, nhưng vừa không thể
kiểm soát theo kiểu quản lý hành chính được. Ví dụ: phân công giảng dạy, hướng dẫn luận văn, thực
địa, thực tập… theo thời khóa biểu, có ngày, giờ, số lượng có t
Công tác quản lý giảng viên trong giới hạn đề tài này thực chất là quản lý về mặt thực hiện các
nhiệm vụ của GV trong nhà trường, nhằm bảo đảm giảng
viên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; có
năng lực chuyên môn vững vàng, tinh thần trách nhiệm cao; có phẩm chất chính trị, đạo đức nghề
nghiệp tốt. Đây chính là nhân tố quyết định chất lượng đào tạo của nhà trường. Giảng viên là nguồn nhân lực quan trọng tham gia vào quá trình hoạt động của nhà trường.
Trong xu hướng hiện nay, quản lý nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực được coi như một
trong những điểm mấu chốt của cải cách quản lý. Quản lý nguồn nhân lực để sử dụng có hiệu quả
nguồn nhân lực và nâng cao hiệu quả của tổ chức; để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân viên,
tạo điều kiện cho nhân viên phát huy tối đa các năng lực cá nhân, đư
ợc kích thích, động viên nhiều
nhất tại nơi làm việc và trung thành tận tậm với tổ chức. Đó cũng chính là mục tiêu chủ yếu của hoạt
động quản lý giảng viên trong nhà trường. 1.4.2 Nội dung công tác quản lý giảng viên:
Như chúng ta đã biết, công tác của giảng viên ở trường đại học gồm 3 nhiệm vụ chủ yếu: giảng
dạy; nghiên cứu khoa
học, bồi dưỡng nâng cao trình độ và các công tác dịch vụ khác. Quản lý nhiệm
vụ của giảng viên, nghĩa là thông qua các chức năng của quản lý mà tác động vào các hoạt động của
giảng viên để giảng viên thực hiện khối lượng công tác một cách có hiệu quả. Chúng ta có thể đưa ra
một qui trình quản lý chung nhất trong công tác quản lý giảng viên gồm những bước cơ bản sau:
a. Lập kế hoạch là khâu đầu tiên của qui trình quản lý.
Trên cơ sở mục tiêu, các phương tiện
hiện có, tình hình thực tế của đơn vị, Lãnh đạo đề ra kế hoạch cụ thể cho nhà trường, trong đó có kế
hoạch quản lý giảng viên, với những qui định cụ thể về chế độ làm việc, nhiệm vụ giảng viên phải làm
để mỗi giảng viên thấy rõ trách nhiệm của mình, có kế hoạch cá nhân, tự giác thực hiện và làm cơ sở
cho việc điều hà
đồng thời cần tranh thủ ý kiến đóng góp xây dựng của giảng viên cho công tác quản lý.
Chủ thể và đối tượng quản lý tác động qua lại sẽ làm thay đổi một số tình huống trong quản lý,
nhà quản lý sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực có tác dụng đến sự phát triển của đơn vị.
1.4.
3 Phương pháp quản lý giảng viên:
Phương pháp quản lý là tổng thể những cách thức tác động tới người lao động nhằm động viên
họ hoàn thành tốt công việc. Trong hoạt động quản lý, phương pháp là công cụ quan trọng để người
quản lý bảo đảm thực hiện mục tiêu có hiệu quả. Một số nhóm phương pháp thường được áp dụng:
phương pháp hành chính-luật pháp, phương pháp giáo dục-tâm lý, phương pháp kích thích [17, tr.163-
168].
a. Phương pháp hành chính-luật pháp là tổng thể các tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của chủ
thể quản lý đến đối tượng quản l
ý dựa trên cơ sở quan hệ tổ chức và quyền lực nhà nước. Đặc trưng cơ
bản của phương pháp này là sự ra lệnh của cấp trên, cấp dưới buộc phải chấp hành. Các hình thức thực
hiện như: luật, điều lệ, qui chế, quyết định, các văn bản hành c
hính…
b. Phương pháp giáo dục-tâm lý là tổng thể những tác động lên trí tuệ, tình cảm, ý thức và nhân
cách của con người. Đặc trưng của phương pháp này là tính thuyết phục, làm cho con người hiểu rõ
đúng-sai, tốt-xấu… từ đó nâng cao tính tự giác làm việc và sự gắn bó với tổ chức. Phương pháp giáo
dục-tâm lý được sử dụng nhiều trong quản lý giáo dục.
c. Phương pháp kích thích là tổng thể những tác động đến con người thông qua lợi ích vật chất
(tiền lương, thưởng, điều kiện làm việc…), lợi ích tinh thần (
phong danh hiệu thi đua, kết nạp Đảng,
tạo điều kiện đi học sau đại học…) nhằm phát huy ở họ tiềm năng, trí tuệ, tình cảm, ý chí, trách nhiệm
và quyết tâm hành động vì lợi ích chung của tổ chức. Để thực hiện phương pháp này, đòi hỏi phải xây
dựng các định mức lao động hợp lý, có cách đánh giá đúng đắn, khe
n thưởng đúng mức, kịp thời. Các phương pháp trên đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng. Do đó, nhà quản lý phải tùy
.
Bên cạnh đó cơ quan quản lý cũng phải tạo điều kiện thuận lợi về mọi mặt để người giảng viên thực
hiện khát vọng được học tập và cống hiến.
b. Các yếu tố khách quan:
Quan điểm, chủ trương về quản lý giảng viên:
Các chủ trương của Đảng và Nhà nước (thể hiện ở các văn kiện nghị quyết, chỉ thị, chiến lược
phát triển…) là cơ sở định hướng cho hoạt động quản lý của ng
ành ở các cấp; Là cơ sở pháp lý để triển
khai thực hiện công tác quản lý giảng viên ở nhà trường.
Điều kiện đảm bảo: Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý giảng viên như: nội dung chương trình, phương
pháp đào tạo, cơ sở vật chất trang thiết bị, nguồn nhân lực, tài lực, hệ thống thông tin và môi trường
phát triển, … là những điều kiện đảm bảo để thực hiện các giải pháp quản lý giảng viên nhằm đạt tới
mục tiêu.
Trong quá trình quản lý đội ngũ giảng viên, các yếu tố chủ quan đư
ợc xem là nội lực, còn các
yếu tố khách quan được xem là ngoại lực. Theo qui luật phát triển ngoại lực dù quan trọng đến đâu
cũng chỉ là nhân tố hỗ trợ, thúc đẩy, tạo điều kiện; nội lực mới là nhân tố quyết định sự phát triển bản
thân sự vật. Sự phát triển sẽ đạt được khi nội lực và ngoại lực cộng hưởng với nhau.
1.5 Kết luận chương
1:
Nghiên cứu về công tác quản lý GV đã được nhiều người quan tâm đề cập tới trong một số công
trình nghiên cứu. Đây là một đề tài rộng, có nét đặc thù riêng và có những điểm mới ở mỗi địa bàn,
mỗi thời điểm nghiên cứu khác nhau. Việc khai thác tổng hợp và kế thừa các kết quả nghiên cứu đã có,
tìm hiểu hệ thống các cơ sở lý luận về khoa học quản lý, kết hợp phâ
n tích thực trạng tại địa bàn
nghiên cứu nhằm đề ra các giải pháp quản lý phù hợp đối với GV cơ hữu ở trường ĐH Tôn Đức
VÀ QUẢN LÝ NHIỆM VỤ CÔNG TÁC CỦA GIẢNG VIÊN
Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG 2.1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG:
2.1.1 Đặc điểm về sự hình thành nhà trường, cơ cấu tổ chức và quản lý:
a) Sự hình thành nhà trường:
Thực hiện chương trình 17 của Thường vụ Thành ủy TPHCM về xây dựng giai cấp công nhân,
củng cố, bồi dưỡng và tri thức hóa công nhân viên chức lao động để phù hợp với yêu cầu về nguồn
nhân lực phục vụ chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Ban Thường vụ Thà
nh ủy đã giao
cho LĐLĐ TP.HCM thành lập Trường ĐH công nghệ dân lập Tôn Đức Thắng. Ngày 24/9/1997,
trường đã được thành lập theo quyết định số 787/TTg của Thủ tướng Chính phủ, cơ quan chủ quản là
Bộ GD&ĐT.
Vì là trường do LĐLĐ TP đề nghị thành lập, Chủ tịch Liên đoàn đồng thời là Chủ tịch Hội
đồng quản trị, không có sở hữu tư nhâ
n, do đó năm 2001 với sự chấp thuận của Thành ủy và UBND
TPHCM, trường đã làm hồ sơ chuyển đổi tư cách pháp nhân từ dân lập sang bán công. Ngày 28/1/2003
Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 18/2003/QĐ-TTg chuyển Trường ĐH công nghệ dân lập
Tôn Đức Thắng thành Trường ĐH bán công Tôn Đức Thắng trực thuộc UBND TP.HCM.
Theo qui định của Luật giáo dục 2005, nhà t
rường trong hệ thống giáo dục quốc dân không tổ
chức theo loại hình trường bán công, xu hướng chung các trường bán công sẽ chuyển sang loại hình
trường tư thục. Ngày 22/6/2006 Thủ tướng Chính phủ có quyết định số 146/2006/QĐ-TTg chuyển
trường ĐH bán công Tôn Đức Thắng sang Trường ĐH tư thục. Tuy nhiên, do sự hình thành trường
ĐH Tôn Đức Thắng có nhiều điểm khác các trường, như: không phải là trường tư, cũng không phải là
dân lập, cũng không hoàn toàn là trường công, hiện trường hoạt động theo cơ chế trường c
ông tự chủ
tài chính. Nguồn vốn đầu tư cơ bản của trường là vốn của LĐLĐ TP, hỗ trợ của UBND TP dưới hình
thức chi trả lãi vốn vay kích cầu của trường. Chi thường xuyên của nhà trường vận động từ nguồn học
- Thời gian tới, theo quyết định chuyển đổi tên trường và cơ quan chủ quản (tháng 6/2008)
trường ĐH Tôn Đức Thắng sẽ hoạt động theo Qui chế do Bộ GD&ĐT ban hành.
Như vậy, từ khởi đầu với Trường ĐH công nghệ dân lập Tôn Đức Thắng, đến nay Trường ĐH
Tôn Đức Thắng đã trải qua hơn 10 năm xây dựng, phấn đấu và t
rưởng thành, nhà trường ngày càng
phát triển góp phần đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển của TP.HCM và các địa phương.
2.1.2 Tình hình giáo dục-đào tạo:
a) Qui mô đào tạo:
Tính đến tháng 9/2007, trường đã tuyển sinh được 11 khóa đại học, 3 khóa cao đẳng, 6 khóa
trung học chuyên nghiệp và 2 khóa cao học. Tổng số học viên, sinh viên, học sinh đang theo học hơn
20.000, bao gồm 5 bậc đào tạo (trung học nghề-trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học và thạc sĩ);
Với 4 loại hình đào
tạo (chính qui, tại chức, văn bằng 2, liên thông).
Từ ngày thành lập đến nay, sau tròn 10 năm hoạt động từ một cơ sở đào tạo không có gì đã trở
thành một trường đại học đa ngành, với 22 ngành đào tạo trình độ đại học, 8 ngành đào tạo trình độ cao
đẳng, 11 ngành đào tạo trình độ trung cấp và 2 ngành đào tạo trình độ thạc sĩ (xem
phụ lục số 2). Trường đã có 7 khóa sinh viên ra trường với gần 5.000 cử nhân, kỹ sư và 3 khóa tốt nghiệp
trung học chuyên nghiệp với gần 2.000 học sinh; Theo điều tra đối với khóa 5, bậc đại học (tốt nghiệp
năm 2005), 79% sinh viên ra trường đã tìm được việc làm phù hợp với chuyên môn.
Chương trình đào tạo của trường được thiết kế trên cơ sở chương trình khung do Bộ GD&ĐT
ban hành, kết hợp với mục tiêu giáo dục của nhà trường, nhu cầu của người học và nhu cầu nguồn
nhâ
n lực trên thị trường; Chương trình được bổ sung định kỳ và thiết kế liên thông giữa các trình độ.
Nhà trường đang tiến hành chuyển đổi sang đào tạo theo học chế tín chỉ, dự kiến bắt đầu từ khóa nhập
học năm 2008.
Như vậy, qui mô đào tạo của nhà trường ngày càng được mở rộng và phát triển, chương trình
LĐLĐ TP.
HCM tiếp nhận sau đó Liên đoàn có quyết định cử biệt phái về trường công tác, không nhận
lương và phụ cấp từ ngân sách Nhà nước nhưng vẫn thuộc diện biên chế Nhà nước, số cán bộ trong