ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ
HÀ THỊ LÂM HỒNG
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ
CÁC NHIỆM VỤ HỢP TÁC QUỐC TẾ VỀ KHOA
HỌC VÀ CÔNG NGHỆ KÝ KẾT VỚI NƯỚC NGOÀI
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
HÀ NỘI 2009
HÀ NỘI 2009
1
MỤC LỤC
Trang
Phần mở đầu
CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1- Một số khái niệm chung
1
1.1 - Hội nhập và hợp tác
1.2 - Hội nhập kinh tế quốc tế và hội nhập quốc tế về
khoa học và công nghệ
1
4
1.3 - Các dạng nhiệm vụ hợp tác quốc tế về khoa học
và công nghệ ký kết với nước ngoài.
1.3.1 - Hợp tác về mặt khoa học
1.3.2 - Hợp tác về mặt kỹ thuật
1.3.3 - Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)
và công nghệ ký kết với nƣớc ngoài.
1.1- Hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ trước
những năm 2000.
1.2- Hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ giai
đoạn 2000-2005.
a. Các nhiệm vụ hợp tác quốc tế thực hiện theo Nghị
định thư
b. Hiệu quả của các nhiệm vụ hợp tác quốc tế thực hiện
theo Nghị định thư 24
26
27
33
2. Những hạn chế trong công tác quản lý các nhiệm vụ
hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ ký kết với nƣớc
ngoài.
38
3. Tổng hợp kết quả điều tra công tác quản lý các nhiệm
vụ hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ ký kết với
nƣớc ngoài.
47 CHƢƠNG III
KẾT LUẬN VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ
1- Kết luận
70
2- Một số khuyến nghị
72 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
- Phụ lục 1 – Phiếu điều tra
- Phụ lục 2 – Quyết định 14/2005/QĐ-BKHCN ngày
8/8/2005 về xây dựng và quản lý các nhiệm vụ hợp tác
quốc tế về KH&CN theo Nghị định thư. 4
KÝ HIỆU VIẾT TẮT
STT
Chữ viết tắt
NC-TK
11.
Nghiên cứu khoa học
NCKH
12.
Chuyển giao công nghệ
CGCN 5
PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Đại hội lần thứ IX của Đảng đã khẳng định “Phát huy cao độ nội lực,
đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững”. Nghị quyết số 07-NQ/TW của
Bộ Chính trị về hội nhập kinh tế quốc tế đã xác định mục tiêu của hội nhập
kinh tế quốc tế là “nhằm mở rộng thị trường, tranh thủ thêm vốn, công nghệ,
kiến thức quản lý để thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng
xã hội chủ nghĩa, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh”.
Hiện nay, trên thế giới hội nhập quốc tế đang trở thành một xu thế tất
yếu diễn ra ngày một mạnh mẽ và sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực kinh tế,
thương mại, văn hoá và cả trong lĩnh vực KH&CN. Hội nhập quốc tế về
KH&CN được hiểu là một quá trình gắn kết các hoạt động KH&CN trong
nước với thế giới và khu vực. Thông qua hội nhập quốc tế về KH&CN, các
nước tham gia vào quá trình hội nhập có cơ hội để tiếp nhận tri thức mới,
công nghệ mới đặc biệt là công nghệ nguồn, thu hút đầu tư nước ngoài để
nâng cao tiềm lực, khả năng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ,
nâng cao năng lực cạnh tranh kinh tế, phát triển năng lực nội sinh về
KH&CN, một bước phát triển cao hơn trong hoạt động hợp tác quốc tế. Như
vậy, chúng ta đã bước ra một sân chơi mới, rộng lớn hơn, thách thức lớn
hơn
2. TỔNG QUAN LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU
Mục tiêu của Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam
đến năm 2010 là: "Tập trung xây dựng nền khoa học và công nghệ nước ta
theo hướng hiện đại và hội nhập, phấn đấu đạt trình độ trung bình tiên tiến
7
trong khu vực vào năm 2010, đưa khoa học và công nghệ thực sự trở thành
nền tảng và động lực đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước."
Để đạt được mục tiêu phát triển KH&CN nước ta đến năm 2010, chiến
lược đặt ra là phải đổi mới mạnh mẽ cơ chế quản lý khoa học và công nghệ,
tạo bước chuyển biến căn bản trong quản lý khoa học và công nghệ theo
hướng phù hợp với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, với đặc
thù của hoạt động khoa học và công nghệ, với yêu cầu chủ động hội nhập
kinh tế quốc tế, nhằm nâng cao rõ rệt chất lượng, hiệu quả hoạt động khoa
học và công nghệ; tăng cường và sử dụng có hiệu quả tiềm lực khoa học và
công nghệ.
Như vậy rõ ràng là chủ động hội nhập quốc tế về KH&CN đã là một
trong các biện pháp chiến lược để phát triển khoa học và công nghệ của Việt
Nam.
Trên thực tế, cũng đã có một số nghiên cứu tổng kết về hợp tác quốc tế
về khoa học và công nghệ trong thời gian qua. Trong nghiên cứu xây dựng
“Đề án hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ” (Ban hành kèm theo
Quyết định số171/2004/QĐ-TTg ngày 28 tháng 9 năm 2004 của Thủ tướng
Chính phủ), tác giả Đặng Ngọc Dinh trong nghiên cứu về “Những chỉ tiêu
đánh giá hội nhập về KH&CN” cũng đã điểm lại hiện trạng hội nhập quốc tế
về KH&CN, đưa ra quan điểm hội nhập, đề xuất nhiệm vụ và giải pháp cho
KH&CN. Nghiên cứu này nhìn chung là toàn diện và đã đề xuất những biện
nhiệm vụ hợp tác quốc tế về KH&CN ký kết với nước ngoài chưa có công
trình nghiên cứu nào được thực hiện.
3. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU.
Luận văn tập trung nghiên cứu vào 3 mục tiêu chính:
9
- Đánh giá thực trạng hoạt động hợp tác quốc tế về KH&CN ký kết với
nước ngoài .
- Phân tích, chỉ rõ những hạn chế trong công tác quản lý các nhiệm vụ
hợp tác quốc tế về KH&CN ký kết với nước ngoài.
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý các nhiệm vụ
hợp tác quốc tế về KH&CN ký kêt với nước ngoài (cụ thể là đề xuất mô hình
quản lý – Động học hệ văng).
4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Luận văn nghiên cứu sẽ tiến hành xem xét toàn bộ về hoạt động hợp
tác quốc tế về KH&CN và công tác quản lý các nhiệm vụ hợp tác quốc tế ký
kết với nước ngoài nhằm đánh giá thực trạng của hoạt động này, chỉ rõ các
hạn chế và nguyên nhân của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu sẽ đề xuất các giải
pháp để nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý các nhiệm vụ hợp tác quốc
tế về KH&CN ký kết với nước ngoài,.
Luận văn tập trung nghiên cứu tình hình quản lý các nhiệm vụ HTQT
về KH&CN cho giai đoạn 2000 - 2005. Đây là giai đoạn đầu tiên Bộ Khoa
học và Công nghệ thực hiện việc hỗ trợ kinh phí (đối ứng) cho các nhiệm vụ
hợp tác quốc tế về KH&CN ký kết với nước ngoài. Đồng thời, cũng là
khoảng thời gian nước ta chuẩn bị hoàn chỉnh các điều kiện để hội nhập, hệ
thống pháp luật về KH&CN của Việt Nam đã có nhiều đổi mới quan trọng,
hợp tác quốc tế về KH&CN cũng có nhiều chuyển biến tích cực.
5. VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Trong luận văn sẽ có hai vấn đề nghiên cứu được nêu ra:
- Thực trạng về công tác quản lý các nhiệm vụ hợp tác quốc tế về
Phân tích tài liệu.
Phân tích, đánh giá kết quả điều tra khảo sát
8. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Áp dụng các phƣơng pháp:
- Thu thập thông tin từ các nguồn tư liệu, các lĩnh vực;
- Điều tra, khảo sát về tình hình thực hiện các nhiệm vụ hợp tác quốc tế
về KH&CN ký kết với nước ngoài của các đơn vị thuộc Bộ Khoa học và
Công nghệ.
- Điều tra phỏng vân các chuyên gia có kinh nghiệm về công tác hợp tác
quốc tế và các cán bộ làm công tác quản lý hợp tác quốc tế về KH&CN ký
kết với nước ngoài.
- Tổng hợp đánh giá, phân tích thực trạng về công tác quản lý các nhiệm
vụ hợp tác quốc tế về KH&CN ký kết với nước ngoài.
8. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Luận văn được trình bày theo các phần sau:
- Phần mở đầu.
- Chương I- Cơ sở lý luận
- Chương II- Thực trạng về hoạt động hợp tác quốc tế về KH&CN ký
kết với nước ngoài
- Chương III- Các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý các
nhiệm vụ hợp tác quốc tế về KH&CN ký kết với nước ngoài
12
- Kết luận và khuyến nghị.
- Tài liệu tham khảo.
- Các Phụ lục
13
CHƢƠNG I
“Hợp tác”, tiếng Anh là “Co-operation”.
Thuật ngữ “Hợp tác”, theo nghĩa giải thích của các từ điển quốc tế,
được hiểu là sự phối hợp giữa các bên theo những mục tiêu chung, lợi ích
chung. Theo giải thích của Từ điển tiếng Anh (Oxford Interative
Encyclopedia) thì:
- Hợp tác là hành động làm việc cùng nhau vì cùng mục tiêu hoặc cùng
nhiệm vụ xác định (Co-operation – The Action of working together for the
same purpose or in the same task).
Như vây, có thể nói hội nhập bao hàm cả sự Hợp tác, nhưng không chỉ
là Hợp tác. Hợp tác trong hội nhập mang tính xác định hơn, ở trình độ cao
hơn, với sự giàng buộc, phụ thuộc lẫn nhau nhiều hơn và ổn định. Sự hợp tác
thường bao hàm hành động phối hợp giữa “các bên”, có sự tự chủ, độc lập, có
lợi ích và nghĩa vụ, trách nhiệm, sự ràng buộc chỉ trong khuôn khổ các cam
kết được thỏa thuận. Thí dụ như trong Hiệp định ký kết giữa các Chính phủ,
như là các bên hợp tác, và trong thời hạn xác định, thí dụ như 1 năm, 3 năm
hay 5 năm. Sau thời hạn ấy, các bên sẽ thỏa thuận lại và các nghĩa vụ, trách
nhiệm, hay ràng buộc có thể thay đổi.
Khái niệm hội nhập thường cũng bao hàm hành động phối hợp những
giữa “các thành viên” của một thực thể thống nhất có lợi ích và sự ràng buộc
về nghĩa vụ, trách nhiệm chặt chẽ, phụ thuộc cao hơn, ổn định lâu dài hơn.
Thậm chí, trong hội nhập, với tư cách là thành viên của cộng đồng, lợi ích
của các thành viên phải được xác định trên cơ sở ràng buộc và tuân thủ các
15
ràng buộc chung (“luật chơi chung”), đảm bảo không làm ảnh hưởng đến lợi
ích của các thành viên khác.
Trong chừng mực nhất định, để tiện hình dung, có thể quan niệm hôi
nhập là nấc thang cao hơn trong quá trình tiến hóa phát triển của các quan hệ
xã hội.
Các nấc thang tiến hóa cho đến nay bao gồm: Quan hệ (Relationship),
Quan hệ
Hợp tác
Hội nhập
Hội nhập
16
Trong các nấc thang tiến hoá nêu trên, xét theo tính ràng buộc và phụ
thuộc, có thể được cụ thể hoá hơn đối với mỗi quốc gia là:
-Ở nấc thang Quan hệ: nhiều “sân chơi” với nhiều “luật chơi” khác
nhau.
- Ở nấc thang Hợp tác: “sân chơi” và “luật chơi” chung trong những
thời gian nhất định trong khi vẫn có “sân chơi” và luật chơi riêng của mình.
- Ở nấc thang Hội nhập: “sân chơi” và “luật chơi” chung thống nhất,
ổn định, dài mà “sân nhà” và “luật nhà” của tất cả các thành viên phải được
điều chỉnh phù hợp với chuẩn chung.
1.2. Khái niệm “Hội nhập kinh tế quốc tế và hội nhập quốc tế về
KH&CN”.
Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình các nền kinh tế thế giới liên kết
lại với nhau thành một thị trường chung thống nhất, được tổ chức chặt chẽ
với những nguyên tắc, chuẩn mực hành động chung mang tính chất nghĩa vụ
và trách nhiệm phải tuân thủ để cùng nhau hướng tới từ sự phối hợp hành
động mang tính toàn cầu.
Trên thế giới cũng như ở Việt Nam có nhiều cách lý giải về hội nhập
kinh tế quốc tế, nhưng có điểm chung là gắn với quá trình toàn cầu hóa nền
kinh tế thế giới, tuy rằng mức độ gắn kết này có khác nhau. Cụ thể có lý giải
cho rằng toàn cầu hóa kinh tế là mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế. Một lý
giải khác lại cho rằng thực chất của toàn cầu hóa kinh tế quốc tế là tự do hóa
kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế, trong đó hội nhập quốc tế được hiểu “là
các quan hệ kinh tế không những được tự do phát triển trên phạm vi toàn cầu,
Hội nhập kinh tế quốc tế về KH&CN là quá trình hoạt động KH&CN
trên thế giới liên kết lại với nhau tạo thành một bộ phận, thành phần hữu cơ
18
của hội nhập kinh tế quốc tế với những nguyên tắc, chuẩn mực hành động
hướng vào phục vụ cho sự vận động tự do và thuận lợi của các hoạt động
kinh tế - thương mại trên phạm vi toàn cầu.
Hội nhập quốc tế về KH&CN có nghĩa là tham gia với tư cách một
thành viên bình đẳng vào “cuộc chơi” chung có tính toàn cầu trên cơ sở đáp
ứng và tuân thủ “luật chơi” chung. Hội nhập quốc tế về khoa học và công
nghệ là nấc thang cao hơn trong tiến trình phát triển các hoạt động khoa học
và công nghệ, không chỉ là hợp tác. Hợp tác trong Hội nhập mang tính xác
định hơn, ở trình độ cao hơn, với sự ràng buộc, phụ thuộc lẫn nhau nhiều hơn
và ổn định.
Trong xã hội, hoạt động khoa học và công nghệ có mối liên hệ chặt chẽ
với hoạt động kinh tế. Các hoạt động hội nhập kinh tế quốc tế, bao gồm cả
đàm phán hội nhập, đều có nội dung liên quan tới hội nhập quốc tế về
KH&CN. Sự đa dạng của các mối liên quan này trong hội nhập, xét cho cùng,
đều quy chiếu, hội tụ vào 3 lĩnh vực hoạt động khoa học và công nghệ chủ
yếu là : sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn đo lường chất lượng và dịch vụ khoa học và
công nghệ. Cũng lưu ý rằng, theo quan niệm quốc tế về hoạt động nghiên cứu
và triển khai (R&D) trong hội nhập kinh tế quốc tế thì hoạt động nghiên cứu
thử nghiệm, nghiên cứu ứng dụng (R&D) được xếp vào loại dịch vụ hỗ trợ
phát triển kinh doanh.
1.3. Các dạng nhiệm vụ hợp tác quốc tế tế về KH&CN
Trên thực tế, xét về bản chất thì nhiệm vụ hợp tác quốc tế về khoa học
và công nghệ có thể chia thành một số dạng sau đây:
1.3.1. Hợp tác về mặt khoa học
Hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ có thể chia thành hai loại
hình hợp tác: hợp tác chính thức và hợp tác không chính thức. Hình thức đầu
mại, nhưng tính chung lại có “yếu tố không hoàn lại” đạt ít nhất 35% đối với
các khoản vay có ràng buộc và 25% đối với các khoản vay không ràng buộc.
1.3.4. Các nhiệm vụ thực hiện theo NĐT
Các nhiệm vụ hợp tác theo Nghị định thư là những đề tài hợp tác
nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ được thoả thuận/cam kết giữa
lãnh đạo Nhà nước, trong khuôn khổ các Uỷ ban/tiểu ban hỗn hợp về
KH&CN giữa Việt Nam với các nước, hoặc trong biên bản của các Uỷ ban
chuyên trách về KH&CN của các tổ chức hợp tác đa phương mà Việt Nam là
thành viên.
Các nhiệm vụ này tập trung giải quyết một số vấn đề mà đối tác Việt
Nam và đối tác quốc tế cùng quan tâm. Nội dung chủ yếu của các nhiệm vụ
này bao gồm các hoạt động như: đào tạo; trao đổi chuyên gia, tài liệu, tri
thức (dưới dạng hội nghị, hội thảo); trao đổi phân tích mẫu nghiên cứu, mẫu
thử nghiệm; hỗ trợ trang thiết bị; nghiên cứu chung; chuyển giao công nghệ
(phần mềm, quy trình kỹ thuật); và thành lập các phòng thí nghiệm hỗn hợp.
Việc đề xuất, đàm phán và đi đến ký kết các nhiệm vụ hợp tác theo
Nghị định thư được xuất phát chủ yếu từ nhu cầu thực tiễn nghiên cứu trong
nước (như: các yêu cầu của các Chương trình Kinh tế-Kỹ thuật của Nhà
nước; các Chương trình KH&CN Nhà nước; các đề xuất để hình thành các
đề tài cấp Nhà nước; các đề xuất nghiên cứu của các nhà khoa học trong các
cơ quan nghiên cứu) và từ các đề nghị của các đối tác nước ngoài. Đến nay,
hình thức này đang được áp dụng rộng rãi và chủ yếu với tất cả các nước, và
đang mở rộng trong một số thể chế đa phương.
Ở góc độ tài chính, có thể chia các nhiệm vụ theo Nghị định thư thành
02 hình thức chính: (1) do phía nước ngoài hỗ trợ hoàn toàn kinh phí; (2)
cùng chia sẻ kinh phí (trong đó phía Việt Nam: nguồn hỗ trợ kinh phí đối
ứng từ ngân sách sự nghiệp khoa học và nguồn tự có của các đơn vị chủ trì).
21
Bên cạnh đó, đối với một số đối tác đặc biệt trong một số nhiệm vụ đặc biệt,
quốc tế lớn như Ngân hàng thế giới (WB), một số tổ chức của Liên Hiệp
Quốc (UNDP, UNIDO, FAO,…) và khu vực Cộng đồng Châu Âu (EU), Diễn
đàn hợp tác kinh tế Châu Á- Thái Bình Dương (APEC), Hiệp hội các quốc
gia Đông Nam Á (ASEAN),…. Các quan hệ kinh tế song phương của Việt
Nam với từng nước, từng thị trường của các nước trên tất cả các châu lục và
trong khu vực cũng được thiết lập và tăng cường. Trong các quan hệ quốc tế
đa phương và song phương ấy, sự hội nhập quốc tế về KH&CN cũng đựơc
thiết lập, mở rộng và tăng cường.
Cho đến nay, Việt Nam đã hợp tác về KH&CN với khoảng 70 nước và
các tổ chức quốc tế, ở những mức độ khác nhai đã chính thức thiết lập mối
quan hệ hợp tác về KH&CN với hầu hết các nước trong khu vực, như các
nước ASEAN, APEC, kể cả các một số nước thuộc nhóm G7, Các mối quan
hệ này đã có những bước phát triển theo hướng hội nhập.
Việc tổng kết, đánh giá gần đây nhất về hội nhập kinh tế về KH&CN
do Bộ Khoa học và Công nghệ thực hiện đã khái quát những kết quả nổi bật
trong hợp tác quốc tế về KH&Cn như sau:
- Hợp tác quốc tế về KH&CN đã có những bước phát triển năng
động theo xu hướng đổi mới để hội nhập, góp phần đáng kể
vào việc tiếp thu và cập nhật tri thức mới của thế giới, tăng
cường tiềm lực, nâng cao trình độ KH&CN, hiện đại hóa trang
thiết vị cho các cơ quan KH&CN; đã có những đóng góp cụ
thể cho các chương trình phát triển KTXH và góp phần giải
quyết các nhu cầu cấp thiết cảu sản xuất và đời sống trong
nước.
23
- Mối quan hệ hợp tác quốc tế về KH&CN đã từ chỗ thụ động,
dựa vào viện trợ không hoàn lại, tài trợ của các nước, các tổ
chức quốc tế, chuyển dần sang chủ động, tích cực, bình đẳng
và cùng có lợi. Cá vấn đề hợp tác KH&CN đã xuất phát từ các