MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Phật giáo xuất hiện ở Việt Nam từ thế kỷ thứ III sau Công nguyên “lịch sử tư
tưởng Việt Nam ngay từ buổi đầu ta thấy Sĩ Nhiếp (178 – 266) đã tổng hợp Nho giáo
chính thống từ phương Bắc xuống với Phật giáo của Khương Tăng Hội từ phương Tây
Bắc Ấn Độ đến Giao Chỉ thế kỷ thứ III đem theo thiền học Đại Thừa Phật giáo”1.
Trung tâm Phật giáo Luy Lâu là một trung tâm của Phật giáo Việt Nam được hình
thành từ rất sớm tại vùng đất Giao Chỉ, nay là huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
Để có được một trận mưa, phải có ít nhất bốn hiện tượng thiên nhiên hợp lại, đó
là: Mây, sấm, gió, mưa. Và, người nông dân cho rằng, mỗi hiện tượng mưa xuất hiện
được làm ra bởi pháp thuật của một vị thần. Người làm nông cần có nước để tưới cây
hoa màu, cần mưa hòa gió thuận. Lúc bấy giờ, người nông dân trồng trọt hoa màu phụ
thuộc vào thời tiết và xem tự nhiên thiên nhiên như những bậc siêu nhiên, con người
không thể khống chế vào lực siêu nhiên ấy. Trước khi Phật giáo du nhập vào nước ta,
người nông dân Việt đã sẵn có các thần: Mây, mưa, sấm, gió mang tính bản địa của
mình, bởi trong thế giới quan của những cư dân trồng lúa nước không thể vắng bóng
những lực lượng siêu nhiên có khả năng tác động đến sự thành bại của một vụ gieo
trồng, nhất là với điều kiện canh tác của người Việt khi ấy còn phải phụ thuộc rất nhiều
vào tự nhiên.
Hệ thống tín ngưỡng thờ Tứ Pháp được hình thành khi đạo Phật du nhập vào
nước ta, là hiện tượng tín ngưỡng bản địa của nước ta mang đậm màu sắc của nền văn
minh lúa nước kết hợp với Phật giáo tồn tại khá phổ biến ở đồng bằng Bắc bộ. Hình
thái thờ thần Tứ Pháp là một trong những hình thái tín ngưỡng thờ thần nông nghiệp cổ
sơ khi mà đời sống nông nghiệp lệ thuộc hoàn toàn vào thiên nhiên.
Tứ Pháp bao gồm: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện. Bốn Pháp này
tượng trưng cho những thế lực thiên nhiên như: mây, mưa, sấm, chớp. Tứ Pháp được
hình thành là sự kết hợp giữa Phật giáo với tín ngưỡng dân gian của những người nông
dân cầu mong mưa thuận, gió hòa, cây cối tốt tươi, mùa màng thịnh vượng …các ngôi
1
Nguyễn Đăng Thục (1992), Lịch sử tư tưởng Việt Nam I- II- III, Nxb TP. HCM, Tr 17.
đều nói về sự tích Man Nương được coi là biên soạn vào khoảng từ thế kỷ 15 đến thế
2
Nguyễn Hữu (2014), Chùa Dâu lịch sử và truyền thuyết, Nxb Thanh niên, tr. 70
2
kỷ 18. Cuốn thứ ba là Hiến Cổ Châu Phật Tổ Nghi nói về các nghi thức tế lễ. Như vậy
ba cuốn sách này được xem là những tài liệu cổ xưa nhất, còn được lưu giữ tại nhà
chùa. Trong cuốn sách Lĩnh Nam Chích Quái của Trần Thế Pháp cũng nói về truyện
Man Nương nhưng so với Cổ Châu Pháp Vân Phật Bản Hạnh ngữ lục thì Trần Thế
Pháp đã rút ngắn truyện lại còn khoảng một phần ba. Đến đầu đời Lê, khi nền Phật giáo
dân tộc phục hưng mạnh mẽ, Phật Pháp Vân được nhiều lần thỉnh lễ về Hà Nội để cầu
đảo và tôn thờ, Lý Tử Tấn (1378 – 1460) đã viết một bài ký về đức Phật Pháp Vân với
nhan đề: Pháp Vân Cổ Tự Bi ký chép trong Toàn việt thi lục và Kiến văn tiểu lục 9, cả
2 đều do Lê Quý Đôn biên soạn. Về mặt chính sử thì Phật Pháp Vân xuất hiện lần đầu
tiên vào năm 1073 dưới thời vua Lý Nhân Tông, khi vua mới lên ngôi.
Trong những năm gần đây, đã có nhiều công trình nghiên cứu về hệ thống Tứ
Pháp tại trung tâm Phật giáo Luy Lâu. Một trong những tác giả có nhiều công trình
nghiên cứu nhất phải kể đến là tiến sĩ sử học Trần Đình Luyện. Cuốn sách thứ nhất:
Luy Lâu lịch sử và văn hóa, Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Bắc Ninh, xuất bản năm 1999;
cuốn thứ 2 Lễ Hội Bắc Ninh – Sở Văn Hóa Thông tin Bắc Ninh, xuất bản năm 2003.
Đặc biệt trong đó phải kể đến cuốn sách: chùa Dâu và lễ hội rước Phật Tứ Pháp,
Phòng Văn hóa Thông tin Thể thao huyện Thuận Thành, 2000. Trong các cuốn sách
này Trần Đình Luyện đã nghiên cứu rất kỹ về kiến trúc và lễ hội chùa Dâu, nhưng chủ
yếu nhìn dưới góc độ sử học, và tác phẩm ấy vẫn chưa nêu lên tổng quan của bốn ngôi
chùa cổ thờ Tứ Pháp.
Cuốn sách Chùa Dâu – Cổ Châu, Pháp Vân, Diên Ứng Tự tác giả Nguyễn
Quang Khải – Nxb Tôn giáo, năm 2011, tác giả cũng trích dẫn truyền thuyết chùa Dâu
và các loại hình nghệ thuật kiến trúc tại đây.
4
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Những kiến trúc và lễ hội của bốn ngôi chùa thờ Tứ Pháp: Chùa Dâu thờ Pháp
Vân, chùa Đậu thờ Pháp Vũ, chùa Tướng thờ Pháp Lôi, chùa Dàn thờ Pháp Điện tại
huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về không gian
Đề tài tập trung vào không gian nghiên cứu ở bốn chùa cổ thờ Tứ Pháp tại trung
tâm Phật giáo Luy Lâu - Bắc Ninh:
Chùa Dâu: Thôn Khương Tự, xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh
Bắc Ninh.
Chùa Đậu: Thôn Đông Cốc, xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh
Bắc Ninh.
Chùa Tướng: Thôn Thanh Tương, xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành,
tỉnh Bắc Ninh.
Chùa Dàn: Thôn Phương Quan, xã Trí Quả, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc
Ninh.
Về thời gian
Đề tài sẽ nghiên cứu về Kiến trúc, lễ hội ở những ngôi chùa cổ thờ Tứ Pháp tại
huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh ở thời gian hiện nay.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phƣơng pháp phân tích – tổng hợp
Với tinh thần kế thừa và phát huy những gì mà những nhà nghiên cứu đi trước,
thông qua việc sưu tầm các tài liệu, tiến hành phân tích để tìm ra những mặt mạnh,
những mặt hạn chế trong việc bảo tồn, giữ gìn kiến trúc, lễ hội có tính văn hóa. Từ đó,
Thông qua việc khảo sát này, học viên sẽ càng hiểu sâu hơn về lịch sử, kiến trúc
từng ngôi chùa, hiểu được tín ngưỡng thờ Tứ Pháp ảnh hưởng bởi khí hậu, tự nhiên của
đồng bằng Bắc Bộ, chính những lễ hội này đã làm cho con người đoàn kết hơn, biết
yêu thương nhau, con cháu nhớ về cội nguồn, quê hương tổ quốc.
6
Ngoài Bốn phương pháp nghiên cứu nêu trên, tác giả còn sử dụng phương pháp
tiếp cận, phương pháp liên ngành Văn hóa học, và phương pháp Mỹ thuât học cho việc
nghiên cứu đề tài của học viên.
6. Ý nghĩa đề tài
6.1. Về khoa học
Củng cố cơ sở lý luận, các khái niệm về lễ hội, kiến trúc, Tứ Pháp, giá trị văn hóa,
nêu tổng quan về Tứ Pháp: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện.
Sau khi nghiên cứu tìm hiểu lịch sử, văn hóa, tác giả sẽ đưa ra những thông tin thiết
thực để phát huy những văn hóa có giá trị cho nhà chùa, và có thể cung cấp những
thông tin mới cho những người yêu thích nghiên cứu về những lễ hội và kiến trúc
những ngôi chùa cổ tại trung tâm Luy Lâu trong việc làm bài luận văn hay khảo luận
của các học viên cao học hoặc sinh viên Việt Nam học trong lĩnh vực khu vực học.
6.2. Về thực tiễn
Người viết sẽ tư vấn cho việc xây dựng mô hình kiến trúc của các ngôi chùa thờ Tứ
Pháp tại Bắc Ninh, truyền đạt những thông tin để bảo tồn kiến trúc, giữ gìn bản sắc văn
hóa thông qua những lễ hội của những ngôi chùa cổ tại vùng đất Luy Lâu xưa, và xa
hơn nữa, sẽ truyền đạt những thông tin các giá trị này cho các thế hệ sau.
Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học và thực tiễn, tham mưu cho các cơ
quan chức năng, trước hết là của tỉnh Bắc Ninh trong việc bảo tồn, phát huy những giá
trị văn hóa lễ hội và kiến trúc. Mặt khác, đề tài cũng là nguồn tài liệu tham khảo cho
những người quan tâm tìm hiểu về những ngôi chùa cổ thờ Tứ Pháp tại huyện Thuận
Thành, tỉnh Bắc Ninh.
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN
VỀ NHỮNG NGÔI CHÙA CỔ THỜ TỨ PHÁP
1.1.
Cơ sở ý luận
1.1.1. Khái niệm Văn hóa
Khái niệm Văn hoá được hình thành từ khi loài người xuất hiện, văn hóa là sản
phẩm do con người sáng tạo ra. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Vì lẽ sinh tồn cũng
như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ
viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho
sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng
tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh
hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những
nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”3.
Ông Federico Mayor - Nguyên Tổng Giám đốc UNESCO, cho biết: “Đối với một
số người, văn hóa chỉ bao gồm những kiệt tác tuyệt vời trong các lĩnh vực tư duy và
sáng tạo; đối với những người khác, văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc
này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín
ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động”4.
Tuy vậy, việc xác định và sử dụng khái niệm văn hoá không đơn giản và luôn thay
đổi theo thời gian. Trong tác phẩm Cơ sở văn hóa Việt Nam của tác giả Trần Ngọc
Thêm cho rằng:
Từ "văn hóa" có rất nhiều nghĩa. Trong tiếng Việt, văn hóa được dùng theo
nghĩa thông dụng để chỉ học thức (trình độ văn hóa), lối sống (nếp sống văn hóa);
theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn (văn hóa Đông
Sơn)... Trong khi theo nghĩa rộng thì văn hóa bao gồm tất cả, từ những sản phẩm
tinh vi hiện đại cho đến tín ngưỡng, phong tục, lối sống, lao động... Chính với cách
và phát triển của mỗi xã hội”7.
Giá trị cũng như tập quán, chuẩn mực, tri thức... đều là sản phẩm của quá trình tư
duy, sản xuất tinh thần của con người, nó là yếu tố cốt lõi nhất của văn hoá. Giá trị, giá
5
Trần Ngọc Thêm (2000), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo Dục, Tr. 10
Trương Văn Hùng (2007), Từ điển Tiếng Việt, NXB Thanh Niên, Hà Nội, Tr 485
7
Ngô Đức Thịnh (2009), “Một số vấn đề lý luận nghiên cứu hệ giá trị văn hóa truyền thống trong đổi mới và hội
nhập”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam trong quá trình
đổi mới và hội nhập.
6
10
trị văn hoá là một hình thái của đời sống tinh thần, nó phản ánh và kết tinh đời sống
văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần của con người.8
1.1.1.2. Giá trị văn hóa
Là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và
tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi
trường tự nhiên và xã hội trở nên lợi ích, có giá trị giữa con người với con người, giữa
con người với môi trường, giữa con người với xã hội.
Trong bài viết của tác giả Ngô Đức Thịnh ở Hội thảo khoa học Bảo tồn và phát
huy các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam trong quá trình đổi mới và hội nhập cho
rằng: “Giá trị văn hoá (Cultural Value) do con người trong mỗi xã hội sáng tạo ra
trong quá trình lịch sử, nhưng một khi hệ giá trị văn hoá đã hình thành thì nó lại có vai
trò định hướng cho các mục tiêu, phương thức và hành động của con người trong các
xã hội ấy. Nó chính là một thứ vốn xã hội (Social Capital). Như thế, khi nói bản chất
giả Nguyễn Hùng Vĩ - Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian được đăng trên webside Học
viện Báo chí và Tuyên truyền ngày 14/5/2016 cho rằng: “Lễ là cử chỉ của con người
để tỏ thái độ tôn trọng với nhau, cũng như với các biểu trưng của tín ngưỡng. Các cử
chỉ đó tạo thành phong tục trong đời sống hoặc các nghi thức trong tín ngưỡng, tôn
giáo, các nghi chế trong thiết chế xã hội”11.
- Hội.
Bài viết: “Giá trị lịch sử, truyền thống, văn hóa của lễ hội” được đăng trên
webside của Học viện Báo chí và tuyên truyền ngày 8/5/2016, Nhà nghiên cứu văn hóa
dân gian Nguyễn Hùng Vĩ cho rằng: “Hội là sự tập hợp đông người để thực hành diễn
xướng, trình diễn các phong tục, tín ngưỡng, các hình thức văn hóa, tôn giáo, nghệ
thuật, các sinh hoạt tinh thần xã hội”12.
Từ điển tiếng Việt, do Viện Ngôn ngữ học tổ chức biên soạn, Hoàng Phê chủ
biên, được Nhà xuất bản Đà Nẵng và Trung tâm Từ điển học xuất bản năm 2003, đã
đưa ra định nghĩa như sau:
- Hội là cuộc vui tổ chức chung cho đông đảo người dự, theo phong tục hoặc
nhân dịp đặc biệt.
Ví dụ: Hội mùa. Ngày hội xuống đồng. Lòng vui như mở hội;
10
Ngôn ngữ học Việt Nam (2010), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Từ điển Bách Khoa, Tr. 275
/>12
(Truy cập
12/4/2016)
11
12
Tổ chức quần chúng rộng rãi của những người cùng chung một nghề nghiệp
hoặc có chung một hoạt động.
13
Nếu theo như định nghĩa này thì một sự kiện hay một cuộc chiến đấu của người
dân sẽ không được tưởng nhớ khi không có sự tác động và ảnh hưởng của con người.
Ở Việt Nam, khái niệm này đều là từ gốc Hán được dùng để gọi một nhóm loại
hình phong tục, chẳng hạn như: Lễ Thành Hoàng, Lễ gia tiên..., cũng như vậy trong hội
cũng có nhiều hội khác nhau như: Hội Gióng, Hội Lim, Hội chọi trâu. Thêm chữ “Lễ”
cho “Hội”, thời nay mong muốn gắn hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng này có ít
nhất hai yếu tố cũng là hai đặc trưng đi liền với nhau. Trước hết là lễ bái, tế lễ thần
linh, cầu phúc và sau là thăm thú vui chơi ở nơi đông đúc, vui vẻ (hội).
Hội là sinh hoạt văn hoá, tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu
cầu cuộc sống, từ sự tồn tại và phát triển của cộng đồng, sự bình yên cho từng cá nhân,
hạnh phúc cho từng gia đình, sự vững mạnh cho từng dòng họ, sự sinh sôi nảy nở của
gia súc, sự bội thu của mùa màng, mà từ bao đời nay quy tụ niềm mơ ước chung vào
bốn chữ "Nhân khang, vật thịnh".
Hội và lễ là một sinh hoạt văn hóa lâu đời của dân tộc Việt Nam. Hội và lễ có
sức hấp dẫn, lôi cuốn các tầng lớp trong xã hội cũng tham gia để trở thành một nhu
cầu, một khát vọng của nhân dân trong nhiều thập kỷ.
Trong cuốn “Lễ hội cổ truyền” – Phan Đăng Nhật cho rằng “Lễ hội là một kho
lịch sử khổng lồ, ở đó tích tụ vố số những phong tục, tín ngưỡng, văn hóa, nghệ thuật
và cả các sự kiện xã hội – lịch sử quan trọng của dân tộc...lễ hội còn là nơi bảo tồn,
tích tụ văn hóa (theo nghĩa rộng) của nhiều thời kỳ lịch sử trong quá khứ dồn nén lại
cho tương lai”16.
Như vậy ta thấy “Lễ hội” là một thể thống nhất không thể tách rời. Lễ là phần
đạo đức tín ngưỡng, phần tâm linh sâu xa trong mỗi con người. Hội là các trò diễn
mang tính nghi thức, gồm các trò chơi dân gian phản ánh cuộc sống thường nhật của
người dân và một phần đời sống cá nhân nhằm kỷ niệm một sự kiện quan trọng với cả
cộng đồng.
để tín ngưỡng trong tôn giáo. Pháp ở đây có nghĩa là: Mây, mưa, sấm, chớp được hóa
thành các vị Phật: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện.
17
(truy cập 22/3/2016)
(truy cập 22/3/2016)
19
(truy cập 22/3/2016)
20
(truy cập 22/3/2016)
21
(truy cập 22/3/2016)
22
Trương Văn Hùng, 2007, Từ điển Tiếng Việt, NXB Thanh Niên, Hà Nội, Tr 627
18
15
Tứ pháp là danh từ để chỉ các nữ thần bắt nguồn từ tín ngưỡng dân gian – thờ các
vị thần thiên nhiên gồm: Mây-Mưa-Sấm-Chớp, đại diện cho các hiện tượng tự nhiên có
vai trò quan trọng trong xã hội nông nghiệp. Sau này khi Phật giáo vào Việt Nam thì
nhóm các nữ thần này được biến Tứ pháp thành bốn vị Phật: Phật Pháp Vân, Phật Pháp
Vũ, Phật Pháp Lôi, Phật Pháp Điện.
Pháp Vân được thờ ở chùa Dâu (tên chữ Hán là Diên Ứng, Cổ Châu, Thiền Định),
chùa tọa lạc ở xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, nên gọi là bà Dâu. Pháp Vân
tượng trưng cho thần Mây.
Pháp Vũ được thờ ở chùa Đậu, và ngày nay mọi người thường hay gọi là Thành
Đạo Tự, tọa lạc ở xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Pháp Vũ
Ứng,
Cổ Pháp Vân
Châu, Thiền Định
Thuận Thành, tỉnh Bắc
Ninh
Xã Thanh Khương, huyện
2
Đậu
Thành Đạo
Pháp Vũ
Tướng
Phi Tương
Pháp Lôi
Xuân Quang
Pháp Điện
Thuận Thành, tỉnh Bắc
Pháp Vân
tỉnh Hưng Yên
Hồng Cầu
Pháp Vũ
Nhạc Miếu
Pháp Lôi
Hồng Thái
Pháp Điện
Xã Lạc Đạo, huyện Văn Lâm, tỉnh Thôn Cầu
Pháp Vân
Hưng yên
Hoằng
Pháp Vũ
Hướng Đạo
Pháp Lôi
Pháp Lôi
18
4
TP Phủ Lý, tỉnh Hà Nam
Bà Bầu
Pháp Điện
Thi Sơn, Kim Bảng, Hà Nam
Quyển Sơn
Thờ cả Tứ Pháp
Thanh Sơn, Kim Bảng, Hà Nam
Thanh
Nộn,
Phú
Viên, đình làng Lạt
Sơn
Hiệp,
huyện Gia Chùa Nành
Lâm, Hà Nội
Nguồn: Tổng hợp từ các nguồn sách liên quan đến những ngôi chùa thờ Tứ Pháp
1.2. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu và những ngôi chùa cổ thờ Tứ Pháp
tại Trung tâm Phật giáo Luy Lâu – Bắc Ninh
1.2.1. Khái quát về huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh
Trong vùng văn hóa cổ, phong phú và độc đáo ở tỉnh Bắc Ninh. Thuận Thành là
một địa bàn có vị trí hết sức đặc biệt, nơi đây từng giữ vai trò thủ phủ đất nước, kinh tế,
văn hóa phát triển rực rỡ; là một trong những quê hương của các huyền tích về tổ tiên
mở nước; là nơi sản sinh ra các tài danh trên các lĩnh vực học hành, cầm, kỳ, thi, họa;
là quê hương của những di tích lịch sử, văn hóa nổi tiếng.
Đất Thuận Thành hôm nay là địa bàn chính của một bộ lạc thời các vua Hùng, là
địa bàn chính huyện Luy Lâu thời thuộc Hán và các đế chế Trung Hoa trong suốt 10
thế kỷ đầu Công nguyên. Thời Lý, Trần, là trung tâm của phủ Siêu Loại. Thời Lê là
trung tâm của phủ Thuận An. Sang thời Nguyễn, vào năm 1862, đổi tên là phủ Thuận
Thành, vẫn bao gồm 5 huyện: Siêu Loại, Gia Bình, Lang Tài, Văn Giang, Gia Lâm.
19
Huyện Thuận Thành ngày nay cơ bản là phần đất của huyện Siêu Loại thuộc phủ
Thuận An xưa kia.
Tên gọi qua nhiều lần thay đổi, song lịch sử miền đất này là một dòng chảy liên
tục. Trước hết, Thuận Thành là miền đất xuất hiện khá sớm, một trung tâm tụ cư của
dân Việt cổ trong quá trình từ miền cao tiến xuống, từ miền biển ngược lên, khai phá
đồng bằng. Trước đây, dù lăng tổ Kinh Dương Vương từ nghìn xưa đã được đặt tại
thôn Á Lữ (xã Đại Đồng Thành), dù dân gian còn truyền lưu rộng rãi câu chuyện về
nước đã định vị tại Thăng Long, song đất Thuận vẫn được các vị vua cùng các đại thần
và cả triều đình hết sức chú ý bởi vai trò phên dậu - cửa ngõ, một trung tâm kinh tế văn hóa phồn hưng của đất này.
Cũng chính do vai trò quan trọng của miền đất Thuận Thành, mà trong mắt kẻ
xâm lược, nơi đây trở thành một mục tiêu chiếm đóng hàng đầu. Vì vậy, từ rất sớm,
người dân Thuận Thành luôn phải đối mặt với kẻ xâm lược và đã góp nhiều công lớn
với dân tộc trong lịch sử đấu tranh giữ nước. Có thể kể tới cuộc nổi dậy quật cường của
Hai Bà Trưng, xóa sạch trung tâm đô hộ nhà Hán tại Luy Lâu; cuộc kháng chiến vĩ đại
chống Nguyên Mông của quân dân thời Trần - mà sông Dâu, đất Thuận là cầu nối giữa
Thăng Long - kinh đô với Lục Đầu giang - nơi tập kết của giặc, nơi đón địch của ta.
Trong các cuộc nổi dậy và kháng chiến lớn ấy, nhân dân Thuận Thành vừa là lực lượng
tại chỗ, vừa đóng góp cho nghĩa quân nhiều tướng tài, binh giỏi, mà ngày nay, hàng
loạt đình đền trong địa phương còn hương khói thờ phụng tưởng nhớ họ.
Thuận Thành cũng là miền đất có sự phát triển kinh tế khá sớm với tốc độ hưng
khởi nhanh, mạnh. Buổi đầu khai mở đất này, cư dân ở đây chủ yếu hoạt động trong
các lĩnh vực đánh bắt cá, trồng lúa, trồng dâu nuôi tằm (với nghề trồng dâu nuôi tằm
mà Ỷ Lan nguyên phi, thời Lý, người con gái của đất này, như một biểu tượng của sự
tiếp tục truyền thống). Kết quả đợt khai quật khảo cổ học, xuân 1986, đã phát hiện tại
trung tâm Dâu, trên bãi Đồng Dâu, di chỉ làng chài khá lớn, buổi đầu công nguyên với
hàng trăm chì lưới, bằng đất nung, đủ các cỡ, chứng tỏ một nghề chài lưới thực sự
thịnh đạt tại đây.
Đồng thời với sự hình thành một trung tâm chính trị, kinh tế, là trung tâm văn
hóa Thuận Thành.
21
Trước hết, đất Thuận là một trung tâm văn hóa dân gian khá tiêu biểu và phong
phú. Đây là nơi sản sinh và lưu giữ lâu đời tín ngưỡng cư dân nông nghiệp Việt cổ,
biểu hiện qua việc thờ các nữ thần mây, mưa, sấm, chớp (sau này được hệ thống hóa
thành hệ thống Tứ pháp); biểu hiện qua tín ngưỡng phồn thực, mà việc thờ Thạch
Quang tại đền Dâu xưa, chùa Dâu nay, là nét điển hình. Đây cung là nơi sản sinh
khép kín về hành trình nhưng mở rộng về những hiểu biết, thẩm nhận kho tàng văn hóa
dân tộc. Đặt biệt là khu di tích những ngôi chùa cổ thờ Tứ Pháp.
Luy lâu là tên gọi một toà thành cổ - thành Luy Lâu, nơi đặt lỵ sở của chính
quyền đô hộ nhà Hán trên đất nước ta vào buổi đầu Công nguyên, nay thuộc xã Thanh
Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Luy Lâu cũng là tên một huyện - huyện
Luy Lâu thời thuộc Hán và các đế chế Trung Hoa trong nhiều thế kỷ dưới thời Bắc
thuộc. Luy Lâu cũng còn là một vùng văn hoá cổ, trung tâm của vùng văn hoá này cơ
bản là vùng đất thuộc huyện Thuận Thành ngày nay.
1.2.2. Tổng quan về những ngôi chùa cổ thờ tứ pháp
Hình 1.1. Sơ đồ các chùa thờ Tứ Pháp tại Trung tâm Phật giáo Luy Lâu (nay là huyện
Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh).
Nguồn: Kết quả khảo sát thực địa tại chùa Dâu ngày 22/2/2016
1.2.2.1. Chùa Dâu
Chùa Dâu còn gọi là chùa Pháp Vân, còn gọi là chùa Diên Ứng, hay Cổ Châu
tự. Chùa được khởi công xây dựng năm 187 và hoàn thành năm 226 là ngôi chùa lâu
đời được tọa lạc trên khu trung tâm Phật giáo Luy Lâu. Nơi đây là thủ phủ của quận
23
Giao Chỉ (năm 203 đổi thành Giao Châu25) có từ thời của Sĩ Nhiếp, được vua nhà Hán
phong làm Thái thú tại quận này, đóng ở Luy Lâu – Dâu từ năm 187 đến 226.
Chùa Dâu là nơi giao lưu của hai luồng văn hóa Phật giáo, từ Ấn Độ sang và từ
phương Bắc xuống, chủ yếu bằng đường thủy theo dòng sông Dâu. Vào buổi đầu Công
Nguyên, các tăng sỹ Ấn Độ, tiêu biểu là Khâu-đà-la đã tới đây truyền bá đạo Phật đầu
tiên. Cuối thế kỷ VI, nhà sư Tỳ-ni-đa-lưu-chi từ Trung Quốc đến chùa này và lập nên
một phái thiền ở Việt Nam. Chùa Dâu trở thành trung tâm của phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi,
nơi trụ trì của nhiều cao tăng Việt Nam, Ấn Độ và Trung Quốc đến để nghiên cứu, biên
soạn, phiên dịch kinh Phật, đào tạo tăng ni.
trùng tu tôn tạo với quy mô lớn.
Từ năm 2001, tỉnh Bắc Ninh ra được “Quy chế quản lý và sử dụng di tích Lịch
sử - Văn hoá”, đã phân cấp quản lý về nhà nước về di tích.
Chùa Dâu gắn với huyền tích Phật mẫu Man Nương và tứ Pháp (Pháp Vân,
Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện), là biểu hiện sinh động sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa
tín ngưỡng dân gian của người Việt với Phật giáo khi mới du nhập. Tương truyền, nàng
Man Nương, cô gái Kẻ Mèn (nay thuộc xã Hà mãn, Thuận Thành) dốc tâm học đạo
Phật, một hôm nằm ngủ quên, sư Khâu Đà La vô tình bước qua mà bỗng nhiên mang
thai. Kết quả đến giờ Ngọ ngày 08 tháng 4 (Âm lịch) thì sinh một nữ nhi. Nàng liền
đem con đến trả cho sư Khâu-đà-la. Nhà sư mang đứa bé đến gốc cây dung thụ gõ cây
đọc kệ. Cây dung thụ bỗng nứt toác ra ôm đúa bé vào lòng. Rồi Khâu-đà-la cho Man
Nương cây tích trượng và dặn khi nào có đại hạn cứ cắm xuống đất và ước nguyện thì
sẽ có nước để cứu dân. Thế rồi vào năm Giáp Tý, mưa bão đánh đổ cây dung thụ trôi
theo dòng sông Dâu về đến thành Luy Lâu thì quẩn không trôi được nữa. Bao nhiêu
chàng trai trong vùng được huy động đến kéo cây vào bờ nhưng cây không hề nhúc
nhích. Vừa lúc đó, Man Nương vô tình ra sông rửa tay, bỗng dưng cây dập dình như
con tìm thấy mẹ. Man Nương ném dải yếm ra thì cây dung thụ trôi ngay vào bờ. Cũng
khi ấy Sỹ Nhiếp trong thành Luy Lâu được mộng phải tạc cây dung thụ thành tượng Tứ
Pháp để thờ. Sỹ Nhiếp cho ngay thợ xẻ cây dung thụ tạc tượng Tứ Pháp. Khi tượng đã
làm xong, làm lễ đặt tên cho pho thứ nhất thì bỗng thấy trời nổi mây ngũ sắc liền đặt
tên là Pháp Vân, thờ ở chùa Dâu, dân gian gọi là bà Dâu. Khi đặt tên cho Pho thứ hai
thì bỗng thấy trời nổi gió lớn liền đặt tên là Pháp Vũ, thờ ở Chùa Thành Đạo (tức chùa
Đậu) dân gian gọi là bà Đậu. Đến khi đặt tên cho pho thứ ba thì bỗng thấy trời nổi sấm
ầm ầm thì liền đăt tên là Pháp Lôi thờ ở chùa Phi Tướng (tức chùa Tướng) dân gian gọi
là bà Tướng. Đến khi đặt tên cho pho thứ tư thì bỗng thấy trời nổi chớp, liền đặt tên là
Pháp Điện thờ ở chùa Phương Quan (tức chùa Dàn) dân gian gọi là bà Dàn. Nhưng khi
25