Mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh Kinh nghiệm của Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan và bài học cho Việt Nam - Pdf 39

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VÕ THỊ MINH LỆ

MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
VÀ TĂNG TRƢỞNG NHANH: KINH NGHIỆM CỦA HÀN QUỐC,
TRUNG QUỐC, THÁI LAN VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI – 2016


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VÕ THỊ MINH LỆ

MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
VÀ TĂNG TRƢỞNG NHANH: KINH NGHIỆM CỦA HÀN QUỐC,
TRUNG QUỐC, THÁI LAN VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
Chuyên ngành

: Kinh tế quốc tế

Mã số

: 62.31.01.06

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án ........................................................... 3
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án ....................................... 4
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án ...................................................................... 5
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án ..................................................................... 5
7. Cơ cấu của luận án ....................................................................................................... 6
Chƣơng I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁT TRIỂN
BỀN VỮNG VÀ TĂNG TRƢỞNG NHANH .............................................................. 7
1.1. Tổng quan tài liệu lý thuyết về mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng
trƣởng nhanh ........................................................................................................................... 7
1.1.1. Phát triển bền vững, tăng trưởng và tăng trưởng nhanh ................................. 7
1.1.2. Mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh ......................... 9
1.2. Tổng quan tài liệu nghiên cứu thực tiễn trong nƣớc và nƣớc ngoài về mối quan
hệ giữa phát triển bền vững và tăng trƣởng nhanh ........................................................ 13
1.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước ................................................................ 13
1.2.2. Tài liệu nghiên cứu ngoài nước ................................................................... 18
1.3. Đánh giá về các nghiên cứu đã có ........................................................................... 22
1.3.1. Về các lý thuyết và nghiên cứu thực tiễn ..................................................... 22
1.3.2. Bình luận về cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu .............................. 24
1.3.3. Bình luận về kết quả đã được thống nhất và chưa thống nhất ...................... 24
Chƣơng 2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VÀ THỰC TIỄN VỀ MỐI
QUAN HỆ GIỮA PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÀ TĂNG TRƢỞNG NHANH .. 25
2.1. Một số khái niệm cơ bản ............................................................................................... 25
2.1.1. Khái niệm phát triển bền vững .................................................................... 25
2.1.2.Tăng trưởng kinh tế và tăng trưởng nhanh về kinh tế ................................... 26
2.2. Mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trƣởng nhanh ............................... 29
ii


2.2.1. Một số lý thuyết có bàn về mối liên hệ giữa phát triển bền vững và tăng
trưởng nhanh ........................................................................................................ 30

3.3. Mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trƣởng nhanh của Thái Lan ...... 93
3.3.1. Chủ trương phát triển kinh tế xã hội của Thái Lan ............................................ 93
iii


3.3.2. Thực trạng và chính sách điều chỉnh mối quan hệ giữa phát triển bền vững và
tăng trưởng nhanh của Thái Lan ........................................................................... 94
3.3.2.1. Tăng trưởng nhanh và những vấn đề kinh tế của Thái Lan ............................. 94
3.3.2.2. Tăng trưởng nhanh và vấn đề xã hội của Thái Lan ....................................... 101
3.3.2.3. Tăng trưởng nhanh và vấn đề môi trường của Thái Lan ............................... 104
CHƢƠNG 4. MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÀ ............... 114
TĂNG TRƢỞNG NHANH CỦA VIỆT NAM: MỘT SỐ ĐỀ XUẤT .................. 114
GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH ..................................................................................... 114
4.1. Các quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc về mối quan hệ giữa phát triển bền vững
và tăng trƣởng nhanh ......................................................................................................... 114
4.1.1. Bối cảnh trong và ngoài nước ....................................................................114
4.1.2. Quan điểm của Đảng và Nhà nước qua các Văn kiện .................................114
4.1.3. Những vấn đề đặt ra đối với phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh của
Việt Nam .............................................................................................................116
4.2. Mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trƣởng nhanh của Việt Nam ... 118
4.2.1. Thực trạng mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh của
Việt Nam .............................................................................................................118
4.2.2. Một số thách thức chính đối với phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh
của Việt Nam .......................................................................................................123
4.3. Kinh nghiệm của các nƣớc và bài học cho Việt Nam............................................. 125
4.3.1. Kinh nghiệm của Hàn Quốc, Trung Quốc và Thái Lan ...............................125
4.3.2. Một số bài học cho Việt Nam.....................................................................134
4.4. Một số đề xuất giải pháp chính sách cho Việt Nam ........................................ 138
4.4.1. Đề xuất về quan điểm và mục tiêu chính sách phát triển ............................138
4.4.2. Đề xuất về các giải pháp chính sách ...........................................................139

Central Intelligence Agency

Cục Tình báo trung ương Mỹ

CGSDI

Consultative Group on Sustainable
development Indicators

Nhóm tư vấn về các chỉ số phát triển
bền vững

CNH, HĐH

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

CO2

Carbon dioxide

Khí carbon dioxi

CRS

Constant returns to scale

Lợi tức không đổi theo quy mô

CSD



Gross Domestic Product

Tổng sản phẩm quốc nội

HDI

Human Development Index

Chỉ số phát triển con người

HPI

Human Poverty Index

Chỉ số nghèo nhân văn

IEA

International Energy Agency

Cơ quan năng lượng quốc tế

ILO

International Labor Organization

Tổ chức lao động quốc tế

IMF


Các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ

MHW

Ministry of Health and Welfare

Bộ y tế và phúc lợi
Nhân dân tệ

NDT
OECD

Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế

Organization for Economic
Cooperation and Development

PM

Particulate matter

Hạt bụi lơ lửng

SDGs

Sustainable Development Goals

Mục tiêu phát triển bền vững



WB

World Bank

Ngân hàng thế giới

WTO

World Trade Organization

Tổ chức thương mại thế giới

WWF

World Wide Fund for Nature

Quỹ bảo tồn thiên nhiên thế giới

WCED

World Commission on
Environment and Development

Ủy ban thế giới về môi trường và
phát triển

vi



kiện Đại hội Đảng lần thứ XI đã nhấn mạnh “Phát triển nhanh cần đi đôi với phát
triển bền vững, trong đó phát triển bền vững được xem là kim chỉ nam xuyên suốt
toàn bộ chiến lược. Phát triển bền vững phải đảm bảo bền vững về mặt kinh tế, xã
hội và môi trường”. Cụ thể, đối với kinh tế đó là việc “đẩy mạnh chuyển dịch cơ
cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, coi chất lượng, năng suất, hiệu quả và
sức cạnh tranh là ưu tiên hàng đầu, tập trung chú trọng phát triển theo chiều sâu,
phát triển kinh tế tri thức”. Đối với xã hội, đó là phải “kết hợp hài hòa giữa thực
hiện tiến bộ và công bằng xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của
nhân dân, xóa đói giảm nghèo và giảm chênh lệch giữa các vùng, các miền”. Đối
với môi trường, đó là phải “coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trường, chủ động ứng
phó với biến đổi khí hậu v.v…”. Phát triển bền vững là cơ sở để phát triển nhanh,
phát triển nhanh sẽ tạo nguồn lực để phát triển bền vững. Phát triển nhanh và bền
vững sẽ luôn gắn chặt với nhau trong quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển
kinh tế - xã hội của quốc gia [105].
Tuy nhiên, là một quốc gia đang trong quá trình phát triển và mong muốn đạt
được tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh,Việt Nam đang phải đối mặt với mâu thuẫn
giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh với đảm bảo các mục tiêu phát triển bền vững
bởi vì:

1


Thứ nhất, Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh
tế, chuyển từ tăng trưởng chiều rộng sang tăng trưởng theo chiều sâu để tăng năng
suất, tăng hiệu quả sử dụng yếu tố đầu vào;
Thứ hai, Việt Nam đang gặp phải các vấn đề của phát triển bền vững một cách
trầm trọng như: (i) Đối với kinh tế đó là tăng trưởng không ổn định do chủ yếu dựa
vào tăng đầu tư và khai thác tài nguyên, cơ cấu kinh tế dịch chuyển chậm, năng suất
lao động trong các ngành không cao, đầu tư dàn trải, hiệu quả sử dụng các nguồn
vốn đầu tư thấp; (ii) Đối với xã hội đó là trình độ phát triển giữa các vùng có sự

Để thực hiện được các mục tiêu nghiên cứu, đề tài thực hiện các nhiệm vụ sau
đây:
 Hệ thống hóa được một số vấn đề lý luận cơ bản và cơ sở thực tiễn liên
quan đến mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh;
 Tổng hợp các tiêu chí, chỉ số đo lường và các nhân tố ảnh hưởng đến mối
quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh;
 Phân tích, đánh giá thực trạng mối quan hệ giữa phát triển bền vững và
tăng trưởng nhanh, chỉ ra những thành tựu và hạn chế của Hàn Quốc, Trung Quốc
và Thái Lan, cùng các nguyên nhân chủ yếu của chúng, những chính sách điều
chỉnh và từ đó, rút ra một số bài học cho Việt Nam;
 Xem xét các vấn đề phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh của Việt
Nam cho đến nay và tìm ra nguyên nhân;
 Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp chính sách và điều kiện để thực

hiện nhằm đảm bảo phát triển bền vững đi đôi với tăng trưởng nhanh một cách hợp
lý trong điều kiện của Việt Nam.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận án là mối quan hệ giữa phát triển bền vững và
tăng trưởng kinh tế nhanh.Trong Luận án này phát triển bền vững được hiểu là sự
cải thiện về chất lượng đồng thời cả kinh tế, xã hội và môi trường; Tăng trưởng kinh
tế nhanh (sau đây gọi tắt là tăng trưởng nhanh) là sự gia tăng tốc độ GDP hay tốc độ
gia tăng GDP/người.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
 Về nội dung
 Luận án tập trung bàn đến mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng
trưởng nhanh thông qua phân tích những thành tựu, hạn chế, chính sách điều chỉnh
của Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan và Việt Nam

3

tăng trưởng nhanh ở chương 3 và chương 4.
Nguồn số liệu thứ cấp lấy từ các báo cáo của Chương trình phát triển Liên hợp
quốc (UNDP), Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), Ngân hàng phát triển

4


Châu Á (ADB), Ngân hàng thế giới (WB), Tổng cục thống kê (GSO), Cơ quan năng
lượng quốc tế (IEA), Tổ chức lao động quốc tế (ILO), Chương trình môi trường
Liên hợp quốc (UNEP), Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên
Quốc tế (IUCN), Quỹ bảo tồn thiên nhiên thế giới (WWF), Bộ Tài nguyên môi
trường, Hệ thống thông tin môi trường quốc gia, các tạp chí, sách báo trong nước và
quốc tế, các báo cáo hội thảo, website của các cơ quan, tổ chức có liên quan của các
nước thuộc phạm vi nghiên cứu đề tài.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
 Hệ thống hóa được những lý luận cơ bản và những vấn đề thực tiễn liên
quan đến mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh;
 Tổng hợp được các tiêu chí, chỉ số nhận biết và nhân tố ảnh hưởng đến mối
quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh;
 Phân tích được những thành tựu, hạn chế và chính sách điều chỉnh của Hàn
Quốc, Trung Quốc và Thái Lan trong giải quyết mối quan hệ giữa phát triển bền
vững và tăng trưởng nhanh để làm sáng tỏ hơn các lý luận;
 Trên cơ sở các bài học kinh nghiệm từ ba quốc gia trên và từ việc khái quát
các vấn đề của Việt Nam trong việc giải quyết mối quan hệ giữa phát triển bền vững
và tăng trưởng nhanh, Luận án đề xuất một số giải pháp chính sách nhằm đảm bảo
phát triển bền vững đi đôi với tăng trưởng kinh tế nhanh ở mức hợp lý trong điều
kiện của Việt Nam.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Trên cơ sở tổng quan tài liệu về mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng
trưởng nhanh, kết hợp với các khái niệm được trình bày về phát triển bền vững, tăng

kinh tế nhanh của Hàn Quốc, Trung Quốc và Thái Lan. Với cách tiếp cận đi từ việc
xây dựng chủ trương, chính sách phát triển kinh tế xã hội của các nước, đến việc
thực thi các chính sách đó, những thành tựu đạt được, vấn đề nảy sinh để từ đó các
nước đưa ra những chính sách điều chỉnh mối quan hệ trên.
Chương 4: Mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh của Việt
Nam: Một số đề xuất giải pháp chính sách. Dựa trên quan điểm, nhận thức của Đảng và
Nhà nước về mối quan hệ giữa phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh và dựa trên
phân tích tình hình thực tế về phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh của Việt Nam,
kết hợp với bài học kinh nghiệm rút ra từ các nước, Luận án đề xuất một số giải pháp
chính sách giúp Việt Nam đảm bảo phát triển bền vững đi đôi với tăng trưởng kinh tế
nhanh ở mức hợp lý, phù hợp với điều kiện và bối cảnh của Việt Nam.

6


Chƣơng I
TỔNG QUAN TÀI LIỆU VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁT TRIỂN
BỀN VỮNG VÀ TĂNG TRƢỞNG NHANH
1.1. Tổng quan tài liệu lý thuyết về mối quan hệ giữa phát triển bền vững và

tăng trƣởng nhanh
1.1.1. Phát triển bền vững, tăng trưởng và tăng trưởng nhanh
 Phát triển bền vững
Liên quan đến khái niệm và cách hiểu về phát triển bền vững cho đến nay đã
có nhiều học giả quốc tế cũng như trong nước nghiên cứu về chủ đề này. Về lý
thuyết phát triển bền vững có thể nói đến cuốn sách dịch “Kinh tế học bền vững”
của tác giả Holger Rogall. Ngoài ra còn có cuốn “Phát triển bền vững? Học thuyết,
thực tiễn, đánh giá” của tác giả Yean-Yves Martin (2007); “Kinh tế học mới của
phát triển bền vững: Bản tóm tắt cho các nhà hoạch định chính sách” của tác giả
Robertson James (1999); “Các tiếp cận tới phát triển bền vững” của Richard

biết về phát triển bền vững vẫn còn mơ hồ và phương pháp đo lường và sử dụng số
liệu vẫn còn lộn xộn. Trái ngược với tác giả Parris, T.M và Kates, R.W (2003), tác
giả Tatyana (2005) cho rằng các chỉ tiêu về phát triển bền vững cần phải bao gồm
các bộ phận cấu thành của cải quốc gia, tích lũy của cải quốc gia, sản phẩm trung
gian và khoảng không môi trường, vốn xã hội và sự tham nhũng của quan chức.
Còn tác giả Omer (2008) nhấn mạnh rằng phát triển bền vững cần phải đảm bảo
chất lượng về mặt môi trường và sử dụng năng lượng hiệu quả.
Nghiên cứu trong nước cũng có tác giả Trần Văn Tùng và Vũ Đức Thanh
(2010) đề cập đến lý thuyết và thực tiễn về phát triển bền vững, tuy nhiên không có
chỉ số hay tiêu chí nào được đưa ra. Các tác giả chỉ đề cập rằng để phát triển bền
vững cần phải dựa vào ba yếu tố chính. Thứ nhất, về thể chế thể hiện thông qua các
cam kết quốc tế, hệ thống luật pháp và chiến lược phát triển của từng quốc gia. Thứ
hai, thành quả của tăng trưởng kinh tế phải được chia sẻ công bằng cho các tầng lớp
xã hội, tạo ra nhiều khả năng lựa chọn và cơ hội lựa chọn giúp họ tham gia vào quá
trình phát triển. Và thứ ba, tính đa dạng sinh học, môi sinh phải được duy trì.
 Tăng trƣởng và tăng trƣởng nhanh
Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu kinh điển liên quan đến các
khái niệm, nội dung, bản chất và những vấn đề chung của tăng trưởng kinh tế, tuy
nhiên gần như chưa có công trình nào đưa ra được khái niệm thế nào là tăng trưởng
nhanh về kinh tế. Đối với bản dịch về các công trình nghiên cứu liên quan đến tăng
trưởng kinh tế có tác phẩm “Kinh tế học của sự phát triển” của tập thể tác giả
Malcolm Gillis, Dwight H. Perkins, Michael Roemer và Donald R. Snodgrass
(1990), bản dịch của Trung tâm thông tin tư liệu (Viện Quản lý kinh tế Trung
ương), “Kinh tế học” của Paul A. Samuelson & William D. Nordhaus (1989), bản
dịch của Nhà xuất bản thống kê; “Kinh tế học cho thế giới thứ ba” của P. Todaro
(1998), bản dịch của Nhà xuất bản Giáo Dục và một số cuốn sách như “Kinh tế học
phát triển những vấn đề đương đại” do Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn

8


lên chỉ được một mặt, trước hoặc sau chứ không thể xuất hiện đồng thời cả hai mặt,
do vậy đối với tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững cũng vậy, mỗi quốc gia
chỉ đạt được một trong hai thành tố.
Liên quan đến mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và các nhân tố ảnh hưởng
đến tính bền vững về kinh tế trong dài hạn, các nhà kinh tế học nổi tiếng ở một khía

9


cạnh nào đó đã có những tranh luận về vấn đề này. Tác giả Harrod và Romar cho
rằng tốc độ tăng trưởng trong dài hạn của một nền kinh tế phụ thuộc vào tỷ lệ tiết
kiệm của nền kinh tế, trong khi đó Robert Solow và Trevor Swan (1956) lại nhấn
mạnh đến vai trò của khoa học công nghệ. Cùng đồng tình với quan điểm khoa học
công nghệ là quan trọng nhưng tác giả Romer Paul (1990) cho rằng khoa học công
nghệ phải được quyết định bởi vốn trí thức mà vốn trí thức lại phụ thuộc vào hoạt
động đầu tư cho nghiên cứu và triển khai (R&D). Mặc dù các tác giả đã liệt kê các
nhân tố tác động đến tăng trưởng trong dài hạn của một nền kinh tế song không có
tác giả nào tính đến vai trò của chính phủ trong việc đảm bảo tăng trưởng kinh tế
trong dài hạn. Các tác giả Fishervà Turnovsky (1998) và Barro (1990) đã bổ sung
cho những hạn chế này khi cho rằng chính phủ có ảnh hưởng quan trọng đến tăng
trưởng trong dài hạn, đặc biệt ảnh hưởng qua kế hoạch chi tiêu của chính phủ.
Liên quan đến mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bền vững về môi
trường, Stead, W.E., Stead, J.G. (1995) cho rằng tăng trưởng kinh tế quá mức cộng
với gia tăng dân số có ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường. Khi thu nhập tăng lên
khiến cho nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ tăng và điều này dẫn đến sự giảm sút các
nguồn lực và ô nhiễm tăng lên do các chất thải.
Giảm chất lượng
cuộc sống

Thay đổi


Mƣa
a xít

Hình: 1.1. Những vấn đề môi trường và tăng trưởng kinh tế
Nguồn: Stead, W.E., Stead, J.G. (1995), An empirical investigation of
sustainability strategy implementation in industrial organizations. In: Collins, D.,
Starik, M., editors. Research in Corporate Social Performance and Policy,
Supplement 1, JAI Press, Greenwich.

10


Trong công trình nghiên cứu “Tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững:
Nhiều tiêu chí phân tích có thể được sử dụng để giải quyết sự đối lập này không?”
của Munier (2006) tác giả cho rằng tăng trưởng kinh tế nhanh sẽ gây tổn hại đến
môi trường và kết quả là con người phải trả giá cho nó. Ủng hộ quan điểm của
Munier, đường cong môi trường Kuznets đã được đưa vào sử dụng và phân tích mối
quan hệ giữa chất lượng môi trường với tăng trưởng kinh tế. Nghiên cứu của
Grossman và Kruger (1991) và một số nhà kinh tế khác cho thấy có ba nhân tố ảnh
hưởng tới mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và chất lượng môi trường như:cơ
cấu kinh tế, công nghệ và các chính sách về môi trường. Tuy nhiên, đối lập với
quan điểm của các tác giả trên, các nhà nghiên cứu như Cole và các cộng sự (1997),
Grossman and Krueger (1995), Selden and Song (1994), Holtz-Eakin and Selden
(1992) và Shafik (1994) đã sử dụng mô hình kinh tế lượng nhằm kiểm tra thực chất
có tồn tại mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bền vững về môi trường hay
không? Theo các tác giả, có rất nhiều vấn đề về môi trường, nhưng lại rất khó để
đánh giá mối quan hệ này do thiếu dữ liệu và nhiều chỉ số về môi trường không thể
thống kê được, ví dụ như việc xói mòn đất, sa mạc hóa, mất đa dạng sinh học, ô
nhiễm, suy thoái nguồn nước ngầm và nhiều vấn đề môi trường khác.

(1999).Các tác giả đã nêu một hướng tiếp cận mới trong tìm hiểu mối quan hệ giữa
tăng trưởng kinh tế và khoảng cách giàu nghèo. Họ cho rằng, không nên chỉ dừng
lại ở việc tìm kiếm mối quan hệ cơ học giữa hai đại lượng nêu trên mà nên nhìn
nhận cả hai đại lượng này đồng thời như là kết quả tác động của các yếu tố khác,
chẳng hạn như yếu tố chính sách. Ví dụ, đầu tư phát triển giáo dục có tác động tốt
đến đời sống của người nghèo, nhưng trong ngắn hạn lại ảnh hưởng đến tốc độ tăng
trưởng. Hay chi tiêu của Chính phủ có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế
nhưng lại làm giảm thu nhập của người dân nghèo và làm gia tăng bất bình đẳng.
Để đạt được phát triển bền vững và cân bằng các trụ cột của phát triển bền
vững, một số tác giả cho rằng cần phải có yếu tố thể chế. David Hume và nhà kinh
tế học Adam Smith cho rằng một xã hội sẽ phát triển kinh tế thành công khi có được
các thể chế kinh tế tốt. Những thể chế tốt mà nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đòi hỏi là
pháp trị, tư hữu và tự do hợp đồng. Theo North, Douglass C (1990) thể chế là các
luật lệ của cuộc chơi trong một xã hội, hay nói một cách chính thức là những ràng
buộc mà con người soạn thảo ra giúp định hình sự tương tác của con người. Giả
thuyết chung của kinh tế học thể chế đưa ra là: (i) các thể chế có ảnh hưởng lớn đến
sự phát triển của các xã hội và của mọi người và (ii) mọi người và cộng đồng
thường lựa chọn những thể chế nào giúp nâng cao quyền tự do lựa chọn và sự phồn
vinh kinh tế của mình. Điều đó có nghĩa là, một số dạng thể chế có thể đem lại sự
phát triển, song một số dạng thể chế khác lại có thể tạo ra những hệ lụy tai hại cho
sự phồn vinh, tự do và các giá trị con người khác.
Sự khác biệt về thể chế có thể tạo ra các mô hình tăng trưởng kinh tế khác
nhau. Các thể chế trong xã hội như cơ cấu quyền sở hữu và sự hoàn hảo của các thị
trường có thể ảnh hưởng đến các động cơ kinh tế trong xã hội. Nếu không có quyền
sở hữu tài sản, các cá nhân sẽ không muốn đầu tư vào vốn nhân lực hay vật lực hay

12


áp dụng các công nghệ hiệu quả hơn. Các thể chế kinh tế giúp phân bổ nguồn lực

giữa phát triển bền vững và tăng trưởng nhanh, nhưng những công trình đề cập đến
các nước thuộc phạm vi đề cập của luận án không chỉ hạn chế về số lượng, mà còn
hạn chế cả về nội dung phân tích. Những công trình này dù đã bàn luận về vấn đề
tăng trưởng kinh tế, tăng trưởng nhanh về kinh tế cũng như về mối quan hệ của nó

13


với vấn đề phát triển bền vững, song về cơ bản, đó không phải là những báo cáo hay
phân tích tổng hợp đầy đủ và có hệ thống về mối quan hệ giữa phát triển bền vững
và tăng trưởng nhanh, mà những công trình này mới chỉ phân tích mối quan hệ một
chiều giữa tăng trưởng nhanh với một trong những trụ cột chính của phát triển bền
vững. Tổng hợp các kết quả nghiên cứu đã có cho thấy, các tác giả đã đưa ra một số
nhận định có ý nghĩa sau:
Tăng trưởng nhanh có tác động đến tính bền vững về kinh tế, cụ thể tăng
trưởng nhanh tác động đến quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế, tạo việc làm và
nâng cao thu nhập cho người lao động. Tuy nhiên, tăng trưởng nhanh cũng hàm
chứa những bất ổn kinh tế vĩ mô. Trong công trình nghiên cứu “Chuyển dịch cơ cấu
kinh tế phục vụ tăng trưởng kinh tế bền vững – Kinh nghiệm một số nước Châu Á”
của tác giả Nguyễn Trọng Tuấn (2010) và “Hướng tới sự phát triển của đất nước:
Một số vấn đề lý thuyết và ứng dụng” của tác giả Ngô Doãn Vịnh (2006), các tác
giả đã chỉ ra rằng, tăng trưởng nhanh của các nước Hàn Quốc, Trung Quốc và Thái
Lan đều gắn liền với quá trình chuyển đổi cơ cấu ngành kinh tế theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn, rút ngắn thời kỳ xây dựng cơ cấu ngành kinh tế
thay thế nhập khẩu, nhanh chóng chuyển sang xây dựng cơ cấu ngành kinh tế hướng
về xuất khẩu. Và điều quan trọng là, các quốc gia này đều đã biết tận dụng được lợi
thế so sánh của từng quốc gia. Tuy nhiên điểm trái chiều của tăng trưởng nhanh là
nhiều nước để đạt được mục tiêu tăng trưởng nhanh đã gây ra những vấn đề mất cân
đối giữa thu và chi ngân sách quốc gia, dẫn đến tình trạng nợ công gia tăng. Trong
bài viết “Hiện trạng nợ công Trung Quốc” của tác giả Đặng Phương Hoa (2011),

trường. Sự tập trung sản xuất trong những khu công nghiệp dẫn đến việc xả thải quá
mức các chất gây ô nhiễm ở những vùng đó. Ngoài ra mật độ dân cư gia tăng chưa
từng thấy ở các khu vực thành phố làm phát sinh nhiều vấn đề môi trường nhất là
tích lũy rác và chất phế thải. Hơn nữa, sự mở rộng không kiểm soát của các khu vực
đô thị đã làm giảm đáng kể đất nông nghiệp và vành đai xanh. Tiến trình đô thị hóa
đã khuyến khích dân cư di chuyển từ khu vực nông thôn ra thành thị, dẫn đến “hiệu
ứng rỗng” ở nhiều vùng nông thôn. Đồng thời, việc sử dụng một khối lượng lớn
phân bón và thuốc trừ sâu để thúc đẩy sản xuất ở các trang trại tất yếu sẽ phá hủy hệ
sinh thái nông nghiệp, đặc biệt sẽ khiến cho đất bị suy thoái và nước bị ô nhiễm
(Ngô Xuân Bình, 2007). Ủng hộ nhận định này, các tác giả Trương Duy Hòa
(2009), Hoàng Thế Anh (2010) cho rằng, mặc dù đạt được những thành công nhất
định trong tăng trưởng kinh tế, nhưng nền kinh tế phải hy sinh môi trường, bởi vì
tăng trưởng nhanh đã gây hậu quả tiêu cực đối với môi trường sinh thái và làm giảm
chất lượng cuộc sống của dân cư nhiều vùng, trên nhiều phương diện; trong đó suy
thoái rừng, ô nhiễm không khí và nguồn nước là những vấn đề nghiêm trọng nhất
trói buộc sự phát triển bền vững của các nền kinh tế.
Đối mặt với những bất ổn về xã hội và môi trường do quá trình tăng trưởng
nhanh và nóng vội mang lại, và trước nguy cơ sự phát triển bền vững của quốc gia
bị phá vỡ, chính phủ các nước đã áp dụng các chính sách khác nhau nhằm cân bằng
và hạn chế những bất ổn tiềm tàng trên. Tuy nhiên, trong thời gian đầu thực hiện

15



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status