Xây dựng và quản lý danh mục đầu tư chứng khoán ở Việt Nam - Pdf 39

Trần văn trí

hà nội - 2015

NGN HANG NHA NC VIấT NAM

B GIO DC VA AO TO

HOC VIấN NGN HANG
**********

TRN VN TR

XY DNG V QUN Lí DANH MC
U T CHNG KHON VIấT NAM

LUN N TIấN SI KINH Tấ
luận án tiến sĩ kinh tế

H NI NM 2015


NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
**********

TRẦN VĂN TRÍ


i

MỤC LỤC

ii

DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH

Vi
Viii

MỞ ĐẦU

1

1.

Tính cấp thiết của đề tài

1

2.

Tổng quan tình hình nghiên cứu

3

3.



17

Danh mục đầu tư chứng khoán

17

1.1.1. Khái niệm danh mục đầu tư chứng khoán

17

1.1.2. Thu nhập và rủi ro của danh mục đầu tư chứng khoán

17

1.1.3. Đa dạng hóa danh mục đầu tư chứng khoán

21

1.1.4. Khái quát một số mô hình định giá chứng khoán

24

1.1.5. Chiến lược quản lý danh mục đầu tư chứng khoán

26

1.1.

1.2.

33

1.3.2. Xây dựng mô hình định giá tài sản vốn

36

1.4.

Xây dựng danh mục đầu tư chứng khoán

43

1.4.1. Xây dựng danh mục đầu tư hiệu quả của các chứng khoán rủi ro

43

1.4.2. Xây dựng danh mục đầu tư chứng khoán tối ưu

48

1.4.3. Xác định danh mục đầu tư chứng khoán tối ưu cho nhà đầu tư

53

Quản lý danh mục đầu tư

56

1.5.1. Đánh giá hiệu quả danh mục đầu tư



2.2.1. Vấn đề kinh tế lượng của mô hình định giá tài sản vốn

71

2.2.2. Lựa chọn dữ liệu

72

2.2.3. Ước lượng hệ số beta các chứng khoán

75

2.2.4. Hệ số anpha của các cổ phiếu, lựa chọn cổ phiếu

77

2.3.

Xây dựng danh mục đầu tư tối ưu

84

2.3.1

Xây dựng đường biên hiệu quả

84

2.3.2. Lựa chọn danh mục đầu tư hiệu quả

108

2.5.2. Một số khó khăn và hạn chế trong xây dựng, quản lý danh
mục đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam

111

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN ỨNG DỤNG LÝ
THUYẾT DANH MỤC ĐẦU TƯ TRONG XÂY DỰNG VÀ
QUẢN LÝ DANH MỤC ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN Ở

115

VIỆT NAM
3.1.

Nhóm các giải pháp làm tăng tính hiệu quả cho thị trường
chứng khoán Việt Nam

115

3.1.1. Nâng cao chất lượng công bố thông tin trên thị trường
chứng khoán

117

3.1.2. Tăng cường các hoạt động giám sát thị trường chứng khoán

118



3.3.1

Các giải pháp xây dựng danh mục đầu tư

122

3.3.2. Các giải pháp quản lý danh mục đầu tư

130


3.4.

Nhóm giải pháp khác

143

3.4.1

Lựa chọn dữ liệu phù hợp

143

3.4.2. Điều chỉnh danh mục thị trường

144

3.4.3. Sử dụng lãi suất phi rủi ro phù hợp



Thông tin cổ phiếu được chọn từ Bảng 2.1a

80

Bảng 2.2.a

Cổ phiếu định giá thấp Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hà Nội

81

Bảng 2.2.b

Thông tin các cổ phiếu được chọn từ bảng 2.2.a

82

Bảng 2.3

Thống kê mô tả số liệu tỷ suất sinh lời.

83

Bảng 2.4

Các danh mục đầu tư hiệu quả

85

Bảng 2.5


Thước đo hiệu quả danh mục D

99

Bảng 2.11

Thước đo hiệu quả danh mục đầu tư tối ưu

100

Bảng 2.12

Mức độ hiệu quả danh mục VNINDEX, HNXINDEX

102

Bảng 2.13

Đánh giá lại mức độ hiệu quả danh mục đầu tư tối ưu

103

Bảng 2.14

Thông tin cổ phiếu được chọn để điều chỉnh danh mục

104

Bảng 2.15


Danh mục đầu tư hiệu quả có bán khống chứng khoán

127

Bảng 3.3

Danh mục đầu tư C có bán khống chứng khoán

128

Bảng 3.4

Danh mục đầu tư D có bán khống chứng khoán

128

Bảng 3.5

Kết quả ước lượng anpha và beta danh mục C

135

Bảng 3.6

Kết quả ước lượng anpha và beta danh mục D

136

Kết quả ước lượng anpha và beta danh mục C; D trong điều kiện được phép bán

29

Hình 1.3

Sơ đồ quy trình xây dựng và quản lý danh mục đầu tư

32

Hình 1.4

Đường thị trường vốn

36

Hình 1.5

Đường thị trường chứng khoán

42

Hình 1.6

Chứng khoán được định giá thấp và định giá cao

43

Hình 1.7

Đường biên hiệu


57

Hình 1.13

Mức độ hiệu quả danh mục – Hệ số Treynor

58

Hình 1.14

Thu nhập và rủi ro của danh mục đầu tư

61

Hình 2.1

Hình 2.2

Hình 2.3

So sánh R2 hiệu chỉnh giữa nguồn dữ liệu quan sát
5 năm và 2 năm (5 năm – 2 năm)
So sánhR2 hiệu chỉnh giữa nguồn dữ liệuquan sát theo
tuần và theo ngày (Tuần-Ngày) 5 năm
R bình phương hiệu chỉnh ước lượng theo nguồn dữ liệu
quan sát trong năm năm, tần suất quan sát theo tuần

74

75


Danh mục đầu tư tối ưu với lãi suất vay rb: 0.3846%>rf

93

Hình 2.9a

Dữ liệu thị trường chứng khoán VNINDEX

95

Hình 2.9b

Dữ liệu thị trường chứng khoán HNXINDEX

96

Hình 3.1

Đường biên hiệu quả và đường bàng quang với A=1)

Hình 3.2

CAL1, CAL2, đường biên hiệu quả có bán khống
chứng khoán

125
129

Hình 3.3

trưởng, trở thành kênh huy động vốn quan trọng cho đầu tư đối với nền kinh
tế nước ta. Cho đến nay, dẫu còn nhiều vấn đề cần phải làm để thúc đẩy thị
trường chứng khoán phát triển và hoàn thiện, đáp ứng vai trò thu hút vốn để
phục vụ chiến lược công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Song những kết
quả đạt được của thị trường trong thời gian qua khẳng định mục tiêu thiết lập
và đưa thị trường chứng khoán đi vào hoạt động từ thấp đến cao phù hợp với
thực tiễn nền kinh tế Việt Nam là hướng phát triển đúng đắn.
Định hướng phát triển thị trường chứng khoán trong những năm tới của
Đảng và Chính phủ là tiếp tục tạo điều kiện để thị trường chứng khoán phát
triển minh bạch, ổn định; hoàn thiện khung pháp lý, tăng số lượng và chất
lượng hàng hóa cho thị trường, mở rộng phạm vi thị trường, khuyến khích
phát triển các tổ chức tham gia thị trường.
Để thị trường chứng khoán nước ta có thể phát triển một cách ổn định
và bền vững, ngày càng tiến tới chuyên nghiệp thì bên cạnh những định
hướng trên, cần có những giải pháp mang tính kỹ thuật giúp các nhà đầu tư có
được cơ sở khoa học trong phân tích đầu tư chứng khoán, tránh đầu tư theo
cảm tính, phong trào. Trong đó, ứng dụng lý thuyết danh mục hiện đại để xây
dựng và quản lý danh mục đầu tư được xem là một giải pháp.
Lý thuyết danh mục đầu tư được khởi xướng từ những năm 1950 và
ứng dụng khá phổ biến ở các nước có thị trường chứng khoán phát triển. Tác
dụng tích cực của đầu tư theo danh mục đã được khẳng định trong các nghiên
cứu và kiểm nghiệm qua thực tiễn. Trong điều kiện cho phép, đầu tư theo


2

danh mục có thể làm tối đa hóa lợi nhuận với mức độ rủi ro cho trước hoặc tối
thiểu hóa rủi ro đầu tư với lợi nhuận mục tiêu được xác định.
Các nhà nghiên cứu và thực nghiệm trong nước bước đầu đã tiếp cận lý
thuyết danh mục đầu tư hiện đại trong việc lựa chọn cổ phiếu đầu tư, xây

2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại đã được nghiên cứu, phát triển và
ứng dụng khá phổ biến trên thế giới ở cả giác độ lý thuyết lẫn thực nghiệm.
Từ sau công trình lựa chọn danh mục đầu tư của Harry Markowitz năm 1952
[75], rất nhiều công trình nghiên cứu, bài viết liên quan đến đến lĩnh vực này
đã được thực hiện. Trong phần tổng quan nghiên cứu này, nghiên cứu sinh chỉ
tổng hợp những công trình nghiên cứu điển hình trên các lĩnh vực: lý thuyết
danh mục trung bình-phương sai; yếu tố đầu vào của mô hình trung bình
phương sai; đánh giá hiệu quả danh mục đầu tư. Đây là 3 vấn đề có liên quan
trực tiếp đến nội dung nghiên cứu trong luận án của nghiên cứu sinh.
2.1. Tình hình nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm trên thế giới
2.1.1. Lý thuyết danh mục trung bình-phương sai
Harry Markowitz với hai công trình nghiên cứu nổi tiếng: Lựa chọn
danh mục đầu tư [76] và đa dạng hóa danh mục đầu tư [77] được xem là cha
đẻ của lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại. Trong các công trình của mình,
ông đã xây dựng công thức để tính toán và lựa chọn giá trị trung bình và
phương sai của danh mục đầu tư. Ông đã chứng minh thuyết căn bản cho lý
thuyết danh mục đầu tư trung bình-phương sai: giữ cho phương sai cố định,
tối đa hóa thu nhập của danh mục đầu tư, hoặc giữ cho thu nhập cố định, tối
thiểu hóa rủi ro của danh mục đầu tư. Cả hai nguyên tắc này đều dẫn đến việc
hình thành đường biên hiệu quả mà qua đó nhà đầu tư có thể lựa chọn được
danh mục đầu tư hiệu quả tùy theo mức độ ưa thích rủi ro của mình. Khi tiến
hành đầu tư, các nhà đầu tư cần tính đến việc một chứng khoán kết hợp với tất


4

cả các chứng khoán khác như thế nào. Điều này rất quan trọng, vì nó có thể
tạo ra danh mục đầu tư có cùng phương sai nhưng có thu nhập cao hơn danh
mục bỏ qua việc xem xét sự tương tác của các chứng khoán trong danh mục.

dựng công thức giải quyết đồng thời vấn đề danh mục và đầu tư tiêu dùng.
Kết quả cho thấy, khung thời gian liên tục cũng chỉ được xác định dựa trên
kết quả của khung thời gian rời rạc.
Trên thực tế, việc tìm ra chiến lược đầu tư tối ưu trong các tình huống
động là không hề dễ dàng. Tuy nhiên, vấn đề này đã được giải quyết nhờ các
công trình Li và Ng [72], Zhou và Li [73]. Từ đó, nhiều học giả khác phát
triển sâu hơn lựa chọn danh mục trung bình-phương sai động. Li và các đồng
nghiệp khảo sát việc lựa chọn danh mục đầu tư trung bình-phương sai với thời
gian liên tục trong đó không được phép bán khống tài sản rủi ro (Nhưng được
phép bán khống tài sản phi rủi ro). Lim và Zhou [74] nghiên cứu sự lựa chọn
danh mục đầu tư trung bình-phương sai thời gian liên tục dưới giả định các
tham số thị trường là các biến ngẫu nhiên ngoại sinh. Bielecki và đồng nghiệp
[53]; Xia và Yan [90] đã khảo sát lựa chọn danh mục đầu tư trung bìnhphương sai thời gian liên tục với luật cấm phá sản trong thị trường hoàn hảo
và không hoàn hảo.
Một số công trình nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm liên quan đến lý
thuyết danh mục trung bình-phương sai tiêu biểu trong thời gian gần đây:
1. Trung bình-phương sai sắp sĩ với độ thỏa dụng kỳ vọng [77].
2. Lựa chọn danh mục trung bình-phương sai với sự hiện diện của các
cổ phiếu không giao dịch thường xuyên [85].
3. Lựa chọn danh mục trung bình-phương sai với mối tương quan
rủi ro [78].
4. Đo lường mức hiệu quả việc mở rộng trung bình-phương sai [82].
5. Những lợi ích của các ràng buộc dựa trên sự khác biệt phương sai
trong việc tối ưu hóa danh mục đầu tư [64].


6

2.1.2. Các mô hình định giá chứng khoán
Sau lý thuyết danh mục trung bình-phương sai ra đời, có khá nhiều các

Mô hình định giá tài sản vốn là mô hình nhân tố đơn tuyến tính (đường thị
trường chứng khoán) liên quan đến thu nhập kỳ vọng của tài sản và danh mục
đầu tư. Hệ số góc đường thị trường chứng khoán được gọi là beta, đo lường rủi
ro hệ thống của tài sản. Mặc dù còn nhiều tranh luận trong nghiên cứu và thực
nghiệm về giá trị của mô hình định giá tài sản vốn, nhưng với sự đơn giản về
mặc toán học, mô hình này có thể lượng hóa nhanh mối quan hệ giữa thu nhập
và rủi ro của tài sản và vẫn là chuẩn mực chính trong định giá tài sản.
Ming-Hsiang Chen [80] áp dụng mô hình định giá tài sản vốn trên bảy
lĩnh vực thuộc thị trường tài chính Đài Loan. Kết quả cho thấy mức độ hiệu
quả về thực nghiệm đáng khích lệ. Mối quan hệ giữa thu nhập và rủi ro hệ
thống (beta) của chứng khoán có ý nghĩa thống kê, các hệ số xác định của
phép hồi quy khá cao.
Puneet Handa, S.P.Kothari, and Charles Wasley [83] xem xét, đánh giá
mối quan hệ giữa thu nhập và rủi ro của chứng khoán qua mô hình định giá tài
sản vốn. Kết quả phản ánh mối quan hệ này khá nhạy cảm với khoảng thời
gian quan sát dữ liệu, trong đó mô hình phù hợp với dữ liệu quan sát theo năm
và không phù hợp với dữ liệu quan sát theo tháng.
Gabriel A.Hawawini khảo sát mối quan hệ giữa thu nhập và rủi ro của
200 chứng khoán được giao dịch liên tục trên thị trường chứng khoán Bỉ [62].
Kết quả khẳng định được vai trò khá tốt của mô hình định giá tài sản vốn
trong định giá cổ phiếu phổ thông niêm yết trên thị trường chứng khoán Bỉ.
Grigoris Michailidis [63] khảo sát mô hình định giá tài sản vốn đối với
thị trường chứng khoán Hy Lạp, sử dụng dữ liệu thu nhập hàng tuần của 100
công ty có cổ phiếu đang niêm yết trong giai đoạn 1/1998-12/2002. Kết quả
khảo sát cho thấy mối quan hệ giữa thu nhập kỳ vọng và rủi ro của chứng


8

khoán là tuyến tính và mô hình định giá tài sản vốn giải thích được thu nhập

đang thực hiện. Lý thuyết danh mục đầu tư Markowitz, mô hình định giá tài
sản vốn, hay các phương pháp đánh giá hiệu quả danh mục đầu tư: Sharpe,
Treynor, Jensen-những công cụ này đã khẳng định vai trò của nó đối với quá
trình định giá, lựa chọn cổ phiếu đầu tư, xây dựng và đánh giá danh mục đầu
tư trong thực nghiệm dù đã có nhiều công trình nghiên cứu bổ sung và thay
thế. Do vậy, nghiên cứu sinh sử dụng các lý thuyết và mô hình này cho việc
xây dựng và quản lý danh mục đầu tư của luận án.
2.2. Các công trình nghiên cứu và thực nghiệm trong nước
Việc nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm đối với lý thuyết danh mục
đầu tư trong nước như vừa đề cập trên đây là chưa nhiều. Qua các báo, tạp
chí, website, đặt biệt là cơ sở dữ liệu toàn văn tài liệu khoa học công nghệ của
Việt Nam do Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia xây
dựng và cập nhật từ năm 1987 đến nay, dữ liệu tại thư viện của một số trường
đại học, học viện, nghiên cứu sinh tổng hợp được một số công trình tiêu biểu
liên quan đến xây dựng và quản lý danh mục đầu tư:
2.2.1. Mô hình định giá tài sản vốn
Tác giả Nguyễn Thị Kim sử dụng mô hình định giá tài sản vốn tính hệ
số beta vào thị trường chứng khoán Việt Nam [24]. Tuy nhiên, tác giả chỉ
dừng lại ở góc độ ứng dụng mô hình định giá tài sản vốn tính hệ số beta của
các chứng khoán niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Trong khảo
sát các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời của cổ phiếu niêm yết trên Sở
Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh, tác giả Phan Đình Nguyên
và Hà Minh Phước [33] đã sử dụng mô hình định giá tài sản vốn kết hợp với
mô hình mô hình ba nhân tố của Fama-French, mô hình Carhart. Tác giả
Nguyễn Thị Hải Bình sử dụng mô hình định giá tài sản vốn để đánh giá hiệu
quả thị trường chứng khoán Việt Nam [6]. Tác giả Trương Đông Lộc và Trần
Thị Hạnh Phúc đã kiểm định mối quan hệ giữa lợi nhuận và rủi ro của cổ
phiếu niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành Phố Hồ Chí Minh dựa
trên mô hình định giá tài sản vốn [27]. Dữ liệu thực nghiệm là chỉ số HOSE


tố Carhart định giá chứng khoán. Tuy nhiên, nội dung liên quan đến mô hình


11

định giá tài sản vốn tác giả chỉ điểm qua mà chủ yếu tập trung vào việc phân tích
ứng dụng hai mô hình còn lại.
2.2.2. Lý thuyết danh mục đầu tư Harry Markowitz
Tác giả Võ Thị Thúy Anh đã ứng dụng lý thuyết trung bình-phương sai
để lựa chọn cổ phiếu thống trị [3]. Theo tác giả cổ phiếu thống trị hoặc danh
mục thống trị là danh mục hiệu quả theo tiêu chuẩn lựa chọn danh mục đầu tư
của Markowitz năm 1952. Dữ liệu tác giả sử dụng thực nghiệm là 3 năm
(2009-2011) cho các cổ phiếu niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán
Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội từ 31/12/2008 trở về trước. Tác giả Triệu
Kim Lanh đã vận dụng các lý thuyết danh mục đầu tư trên thị trường chứng
khoán Việt Nam, trong đó tác giả sử dụng lý thuyết Markowitz để tính toán
thu nhập kỳ vọng và rủi ro của danh mục đầu tư, tìm tỷ trọng phân bổ tối ưu
tài sản trong danh mục đầu tư [25]. Tác giả Ngô Đăng Hoàng [21] đã ứng
dụng lý thuyết danh mục đầu tư Markowitz để xây dựng danh mục đầu tư với
mong muốn tìm giải pháp lựa chọn danh mục đầu tư hiệu quả trên thị trường
chứng khoán Việt Nam. Tác giả Lê Quý [40] đã kết hợp lý thuyết Markowitz
với phân tích chứng khoán theo cách tiếp cận Top-down để xây dựng danh mục
đầu tư hiệu quả cho nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Trên cơ sở dữ liệu từ 20/4/2004 đến 23/2/2005, tác giả Hoàng Thanh Dương
[12] đã ứng dụng lý thuyết danh mục đầu tư Markowitz để thực nghiệm xây
dựng đường biên hiệu quả, danh mục đầu tư tối ưu và đường thị trường vốn
cho thị trường chứng khoán Việt Nam. Tác giả Võ Thái Phong [38] đã vận
dụng lý thuyết danh mục đầu tư Markowitz xây dựng danh mục đầu tư hiệu
quả cho nhà đầu tư với chứng khoán niêm yết ở Sở Giao dịch Chứng khoán
Thành phố Hồ Chí Minh, dữ liệu quan sát từ năm 2004 đến năm 2011.

dụng, trong đó chủ yếu sử dụng lý thuyết Markowitz, mô hình định giá tài sản
vốn để xây dựng danh mục đầu tư. Bên cạnh đó, một số tác giả cũng đã nghiên
cứu và thực nghiệm lựa chọn cổ phiếu đầu tư với một số mô hình định giá
chứng khoán: mô hinh chỉ số đơn, mô hình Fama-French, Carhart.


13

Tuy nhiên chưa có đề tài nào thực hiện đầy đủ việc ứng dụng lý thuyết
danh mục đầu tư hiện đại trong việc xây dựng và quản lý danh mục đầu tư
chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam nhất là bước đánh giá
hiệu quả (khả năng thực thi) danh mục đầu tư làm cơ sở để điều chỉnh danh
mục khi điều kiện đầu tư có sự thay đổi.
Mặc khác, khi sử dụng mô hình định giá tài sản vốn trong lựa chọn
cổ phiếu hoặc kiểm định sự phù hợp của mô hình định giá tài sản vốn trên
thị trường chứng khoán Việt Nam, có tác giả sử dụng dữ liệu 3 năm, thực
hiện quan sát theo tuần (Trương Đông Lộc, Trần Thị Hạnh Phúc) kết luận
mô hình phù hợp với các chứng khoán giao dịch trên Sở Giao dịch Chứng
khoán Thành phố Hồ Chí Minh, trong khi đó với tần suất quan sát theo
tháng tác giả Nguyễn Anh Phong lại có kết luận ngược lại. Tuy nhiên,
trong bài viết của mình, tác giả Anh Phong chỉ sử dụng dữ liệu với tần suất
quan sát theo tháng và do vậy số quan sát chưa đủ lớn nên có thể ảnh
hưởng đến kết quả hồi quy. Nên chăng cần tiến hành thực nghiệm với dữ
liệu có tần suất quan sát phong phú hơn như theo tuần và thậm chí theo
ngày, trên nhiều thời lượng khác nhau như 2 năm, 5 năm…
Với các luận văn, khi vận dụng mô hình định giá tài sản vốn, hầu hết
các tác giả đã tính toán beta của chứng khoán mà không sử dụng phương pháp
hồi quy để ước lượng nên kết quả tính toán không gắn với ý nghĩa thống kê,
độ tin cậy. Các đề tài hầu như chỉ sử dụng mô hình định giá tài sản vốn để xác
định rủi ro hệ thống (beta) làm cơ sở để đưa ra quyết định đầu tư, không đề

- Những yếu tố nào cần điều chỉnh và điều chỉnh ra sao để hoàn thiện
ứng dụng mô hình định giá tài sản vốn và lý thuyết danh mục đầu tư
Markowitz xây dựng và quản lý danh mục đầu tư trên thị trường chứng khoán
Việt Nam?
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a. Đối tượng nghiên cứu


15

Xây dựng và quản lý danh mục đầu tư chứng khoán ở Việt Nam
b. Phạm vi nghiên cứu
- Lý thuyết và thực nghiệm xây dựng và quản lý danh mục đầu tư
chứng khoán dựa trên khung lý thuyết của mô hình định giá tài sản vốn và lý
thuyết danh mục đầu tư Harry Markowitz.
- Chỉ số VNINDEX, HNXINDEX, lãi suất trái phiếu Chính phủ, các cổ
phiếu được niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
và Hà Nội được giao dịch thường xuyên từ năm 2008 đến năm 2013.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng với nguồn số liệu thứ
cấp: giá cổ phiếu, chỉ số giá thị trường, lãi suất trái phiếu Chính phủ. Số liệu
thu thập từ Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội.
- Công cụ thực hiện nghiên cứu: phần mềm Eviews, công cụ Solve
trong Microsoft office Excel.
- Hệ thống hóa và làm rõ lý thuyết danh mục đầu tư Markowitz, mô
hình định giá tài sản vốn trong xây dựng và quản lý danh mục đầu tư.
- Thực nghiệm sử dụng phần mềm Eviews để hồi quy tìm giá trị rủi ro
hệ thống (beta) của các cổ phiếu theo mô hình định giá tài sản vốn với dữ liệu
liên quan đến đối tượng nghiên cứu trong phạm vi nghiên cứu theo thời gian
và tần suất quan sát khác nhau.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status