tăng cường quản lý nhà nước về đất nông nghiệp của TP vinh - Pdf 39

i
MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC VIẾT TẮT.....................................................................................iv
DANH MỤC BẢNG.............................................................................................v
PHẦN MỞ ĐẦU...................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài......................................................................................
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài........................................
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu..........................................................
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu...........................................................
5. Phương pháp nghiên cứu.........................................................................
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài...................................................
7. Kết cấu của luận văn................................................................................
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ ĐẤT NÔNG NGHIỆP...................................................................................8
1.1. Đất nông nghiệp và quản lý nhà nước về đất nông nghiệp...............
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm đất nông nghiệp...........................................8
1.1.2. Khái niệm và đặc trưng quản lý nhà nước về đất nông nghiệp......13
1.2. Sự cần thiết, nguyên tắc, nội dung và các nhân tố ảnh hưởng
đến quản lý nhà nước về đất nông nghiệp........................................
1.2.1. Sự cần thiết của quản lý nhà nước về đất nông nghiệp..................19
1.2.2. Nguyên tắc quản lý nhà nước về đất nông nghiệp..........................23
1.2.3. Nội dung quản lý nhà nước về đất nông nghiệp.............................27
1.2.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về đất nông nghiệp
40
1.3. Kinh nghiệm của một số địa phương về tăng cường quản lý
nhà nước đối với đất nông nghiệp và bài học cho thành phố
Vinh, tỉnh Nghệ An..............................................................................


ii

iii
3.2.1. Tổ chức bộ máy quản lý đất nông nghiệp.......................................92
3.2.2. Tăng cường thực hiện các nội dung quản lý nhà nước về đất nông
nghiệp

94

3.2.3. Áp dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý.....................96
3.2.4. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong việc quản lý và sử
dụng đất nông nghiệp..........................................................................................97
3.2.5. Tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục nâng cao ý thức pháp
luật về đất nông nghiệp trong cán bộ và nhân dân.............................................97
3.3. Một số kiến nghị nhằm tăng cường quản lý nhà nước về đất
nông nghiệp của thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An..............................
Tiểu kết chương 3.......................................................................................
KẾT LUẬN.........................................................................................................99
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..........................................................102


iv
DANH MỤC VIẾT TẮT

CHXHCNVN

:

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

CNH - HĐH


:

Hệ thống địa chính

KCN

:

Khu công nghiệp

KCX

:

Khu chế xuất

KTXH

:

Kinh tế xã hội

QLĐĐ

:

Quản lý đất đai

TNMT


1. Lý do chọn đề tài
Đất nông nghiệp là một tài sản vô cùng quan trọng đối với tất cả các quốc
gia trên thế giới, là điều kiện sinh sống, tồn tại và phát triển của loài người và tất
cả các loại sinh vật khác. Đất nông nghiệp là điều kiện cho mọi hoạt động sống.
Đất nông nghiệp là một tài sản đặc biệt, không thể di dời cũng không thể mất đi.
Tuy nhiên, đất nông nghiệp là có hạn, nếu sử dụng không đúng cách đất có thể
bị suy thoái hoặc không thể sử dụng gây ảnh hưởng đến tất cả mọi mặt của đời
sống kinh tế xã hội và các thế hệ trong tương lai. Chính vì vậy, quản lý việc sử
dụng đất nông nghiệp có vai trò vô cùng quan trọng đối với tất cả các quốc gia
trên thế giới, công tác này đòi hỏi phối hợp nhiều các hoạt động khác nhau với
mục đích duy trì quá trình sử dụng đất đúng kế hoạch, phù hợp với sự phát triển
của nền kinh tế, tạo cơ sở phát triển các ngành khác trong nền kinh tế quốc dân.
Đất nông nghiệp là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản
xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng của môi trường sống, là địa bàn phân bố
các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội và quốc phòng an
ninh (Quốc Hội nước CHXHCNVN, 2013). Nguồn tài nguyên đất ngày càng trở
nên quý hiếm do nhu cầu sử dụng đất ngày càng cao, đất nông nghiệp bị suy
thoái hoặc hủy hoại ngày càng nghiêm trọng bởi nhiều nguyên nhân tự nhiên
hoặc dưới tác động của con người. Chính vì vậy, việc quản lý, sử dụng, bảo vệ
và phát triển tài nguyên đất nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững là mục
tiêu quan trọng của các quốc gia. Và đặc biệt nước ta là một nước nông nghiệp
nên việc quản lý đất nông nghiệp hết sức quan trọng.
Việt Nam là một nước đang phát triển, tốc độ gia tăng dân số nhanh kéo
theo tốc độ thành phố hóa diễn ra nhanh và phức tạp. Quỹ đất của nước ta tương
đối hẹp trong khi đó dân số là đông đúc, tất cả các quá trình phát triển của con
người đều gắn liền với hoạt động sử dụng đất nông nghiệp. Vì vậy, Nhà nước


2
cần có có các chính sách quản lý việc sử dụng đất nông nghiệp phù hợp và mang

lí đất nông nghiệp, như: một số quy định về lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất; một số quy định về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thống kê, kiểm
kê đất nông nghiệp ,quản lí giám sát việc thực hiện quyền của người sử dụng
đất; thanh tra kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất nông
nghiệp; giải quyết tranh chấp đất nông nghiệp.
Đào Đức Mẫn (2012), Nghiên cứu thực trạng và đề xuất mô hình sử dụng
đất nông nghiệp bền vững phục vụ quy hoạch sử dụng đất, Bộ Tài nguyên và
môi trường. Đề tài nghiên cứu, đánh giá thực trạng và đề xuất mô hình sử dụng
đất nông nghiệp bền vững phục vụ quy hoạch sử dụng đất ở huyện Tứ Kỳ, tỉnh
Hải Dương. Qua kết quả nghiên cứu, đề tài đã đề xuất định hướng quy hoạch
cho một số kiểu sử dụng đất thuộc các mô hình sử dụng phổ biến trên địa bàn
huyện Tứ Kỳ đến năm 2020 theo hướng phát triển bền vững và bảo vệ môi
trường, mở rộng diện tích các cây trồng có thế mạnh của huyện với 3 mô hình:
mô hình sử dụng đất chuyên lúa, mô hình sử dụng lúa - màu và mô hình sử dụng
đất chuyên màu.
Nguyễn Mai Thơm (2015), Nghiên cứu, xây dựng mô hình sản xuất nông
nghiệp của huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, Học viện Nông nghiệp Việt Nam.
Đề tài lấy trọng tâm là cây lúa, một trong năm cây trồng chính được tỉnh Bắc
Giang quy hoạch để phát triển theo hướng hàng hóa. Điều tra, đánh giá thực
trạng sản xuất lúa, lựa chọn điểm thử nghiệm và xây dựng mô hình trình diễn tại
huyện Việt Yên và lựa chọn được 5 giống lúa mới được được Bộ Nông nghiệp
& PTNT công nhận chính thức, có năng suất trên 60 tạ/ha, chất lượng gạo
thươm ngon, thời gian sinh trưởng phù hợp với vụ Xuân, vụ Mùa, có khả năng
chống chịu sâu, bệnh và điều kiện thời tiết bất thuận lá giống lúa RVT, QR1,
VS1, ĐS1, HDT8.
Lê Thị Thu (2015), Nghiên cứu đánh giá hệ thống sử dụng đất nông
nghiệp phục vụ quản lý đất nông nghiệp huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội,
Đại học Quốc gia Hà Nội. Luận văn đã đánh giá các hệ thống sử dụng đất nông




5
tích cấp Giấy chứng nhận của các hộ gia đình dựa trên số liệu đo đạc thủ công
và giao cho các hộ dân tự kê khai diện tích để cấp Giấy chứng nhận, do đó diện
tích sử dụng thực tế của các thửa đất nông nghiệp chưa chính xác. Những yếu
kém, tồn tại trên đã làm cho hiệu quả sử dụng đất không cao, ảnh hưởng rất lớn
đến công tác quản lý, sử dụng đất đặc biệt là công tác quy hoạch sử dụng đất,
công tác thống kê - kiểm kê đất đai, công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ giải
phóng mặt bằng đối với đất nông nghiệp.
Nhìn chung, các công trình trên tiếp cận ở các góc độ khác nhau về quản
lý nhà nước về đất nông nghiệp nói chung, đất nông nghiệp nói riêng. Đề tài tôi
lựa chọn xác định được sự cần thiết và yêu cầu của quản lý đất nông nông
nghiệp. Đó là cơ sở quan trọng để phát triển hệ thống QLĐĐ trong giai đoạn
CNH-HĐH đất nước và góp phần vào mục tiêu xây dựng nền công nghiệp hóa
hiện đại hóa của nước ta. Xác định được những tồn tại của quản lý đất nông
nghiêp thành phố Vinh. Kết quả nghiên cứu này sẽ góp phần tăng cường năng
lực QLĐĐ của thành phố Vinh. Đề xuất mô hình cơ sở dữ liệu địa chính hiện
đại góp phần vào việc sử dụng thống nhất, đa mục tiêu và chia sẻ hiệu quả cơ sở
dữ liệu địa chính với các ngành và người sử dụng đất. Sau khi nghiên cứu thử
nghiệm có thể áp dụng mô hình cơ sở dữ liệu địa chính hiện đại trong QLĐĐ ở
các địa phương khác. Việc thống nhất, kết nối, chia sẻ cơ sở dữ liệu địa chính
hiện đại giữa các ngành, các cấp và người sử dụng đất sẽ góp phần nâng cao
hiệu quả kinh tế và xã hội của công tác quản lý đất nông nghiệp.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Luận văn tập trung phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về đất
nông nghiệp của thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An trong giai đoạn từ 2010-2014.
Từ đó đề xuất giải pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước về đất nông nghiệp
của thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An có hiệu quả hơn.


tổng hợp số liệu: tổng hợp từ những tài liệu thứ cấp do phòng quản lý thành phố
thành phố Vinh cung cấp.


7
Phương pháp so sánh: so sánh tình hình thực hiện công tác quản lí đất
nông nghiệp qua các năm.
Phương pháp phân tích, đánh giá, kết hợp lý luận với thực tiễn để làm rõ
những vấn đề nghiên cứu;
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1. Ý nghĩa khoa học
Góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về tăng cường quản lý nhà
nước về đất nông nghiệp.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn không chỉ là tài liệu tham khảo bổ ích
cho các ngành, các cấp, các cơ quan doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An
trong tăng cường quản lý nhà nước về đất nông nghiệp.
Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần vào việc sử dụng thống nhất, đa mục tiêu
và chia sẻ hiệu quả cơ sở dữ liệu địa chính với các ngành và người sử dụng đất,
từ đó sẽ góp phần nâng cao hiệu quả KT- XH địa phương.
7. Kết cấu của luận văn.
Ngoài phần mở đầu,kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được kết
cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của quản lý nhà nước về đất nông
nghiệp.
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về đất nông nghiệp của thành
phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về
đất nông nghiệp của thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.



9
vì thế không ai có thể nói rằng đất nông nghiệp là nguồn tài nguyên vô tận,
không có giới hạn mà ngược lại đai có giới hạn.
Con người nguyên thuỷ bắt đầu có những nhận thức mới, những nhu cầu
và sự thay đổi mới trong xã hội. Lúc này, chỉ dựa hoàn toàn vào thiên nhiên
không có sự canh tác thôi không thể đáp ứng đựơc nhu cầu ngày một cao được
nữa. Từ đó con ngươì đã biết dựa vào đất nông nghiệp để chăn nuôi,cày cấy,
trồng trọt và từ đây cuộc sống con người bước sang một thời kỳ mới, thời kỳ mà
con người biết tự canh tác tạo ra của cải vật chất cho bản thân, hạn chế ảnh
hưởng của thiên nhiên đến đời sống. Sản phẩm mà con người tạo ra ngày càng
đa dạng, đầy đủ hơn, Biết khai thác sức mạnh của đât nông nghiệp đời sống con
người ngày càng tăng lên nhanh chóng, kéo theo nó là sự phát triển của xã hội,
nền kinh tế và nhận thức.
Cho đến ngày nay, khi con người đã thoát khỏi đời sống mông muội nhưng
cuộc sống con người không thể tách rời khỏi đất nông nghiệp. Dọc theo quá trình
phát triển ta có thể thấy mục đích đầu tiên của con người đối với đất nông nghiệp là
sản xuất nông nghiệp; và bây giờ có rất nhiều ngành sản xuất mới ra đời, sản xuất
công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại dịch vụ, sản xuất công nghiệp
nặng…Con người vẫn không rời bỏ được nền sản xuất nông nghiệp đã tồn tại từ rất
lâu đời cho đến nay. Như vậy, một nguồn đất trong tổng quỹ đất của loài người là
phục vụ cho mục đích trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng…Vậy quỹ đất đó được gọi
là gì? Đất nông nghiệp được định nghĩa ra sao?
Đất nông nghiệp là đất được sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp
như: Trồng trọt, chăn nuôi, làm muối, nuôi trồng thuỷ sản…,hoặc sử dụng để
nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp. [5]
Đất nông nghiệp khi được sử dụng vào mục đích nông nghiệp thì được
gọi là ruộng đất. Con người tác động vào đất nông nghiệp tạo ra của cải, vật chất
cho đời sống. Đất nông nghiệp - ruộng đất là đối tượng lao động đồng thời là tư
liệu lao động của con người. Lúc đầu, con người canh tác chỉ để đáp ứng nhu

độ mưa nắng…). Con người không thể tạo ra đất nông nghiệp (đất nông


11
nghiệp), quá trình hình thành nên đất nông nghiệp là một quá trình tự nhiên qua
thời một khoảng thời gian dài. Chính vì vậy mà ta có thể nói đất nông nghiệp
(đất nông nghiệp) không thể tái sinh.
Tuy nhiên, con người chủ thể hoạt động của nền kinh tế xã hội, tác động
vào đất nông nghiệp (đất nông nghiệp) theo hai hướng khác nhau: có thể đó là
tác động theo chiều hướng tích cực, có thể đó là tác động theo chiều hướng tiêu
cực. Quá trình tác động theo chiều hướng tích cực sẽ góp phần rất lớn vào cải
tạo và nâng cao chất lượng đất (đất nông nghiệp) khắc phục được hiện tượng
hoang hoá, khôi phục độ phì nhiêu của đất nông nghiệp, tạo ra một diện tích đất
nông nghiệp mới cho sản xuất. Như vậy nếu biết cách gìn giữ và sử dụng thì đất
nông nghiệp vẫn có thể tái tạo lại, thực tế cũng đã chứng minh điều đó.
Qua đây, có thể kết luận đất nông nghiệp nói chung và đất nông nghiệp
nói riêng có tính hai mặt: không thể tái sinh nhưng có khả năng tái tạo, Tính hai
mặt này rất quan trọng trong quá trình sử dụng đất, Một mặt, con người sử dụng
đất nông nghiệp phải hết sức tiết kiệm, xem xét kỹ lưỡng, cẩn thận khi phân bố,
sử dụng, chuyển mục đích sử dụng các loại đất. Một mặt, phải luôn chú ý ứng
dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật để tăng khả năng phục hồi sức sản xuất và tái tạo
đất nông nghiệp, phục hồi đất hoang hoá đưa vào sử dụng….Trong quá trình sử
dụng con người phải luôn biết cách khai thác đât đai (đất nông nghiệp), không
vắt kiệt khả năng sản xuất của đất nông nghiệp (đất nông nghiệp).
* Tính sở hữu và sử dụng
Người sở hữu đất nông nghiệp được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất nông nghiệp, là người chủ sở hữu duy nhất đất nông nghiệp được nhà nước
công nhận về mặt pháp lý, nhà nước luôn bảo vệ các quyền lợi hợp pháp cho
người sở hữu đất nông nghiệp nói chung và đất nông nghiệp nói riêng. Người sở
hữu đất nông nghiệp có quyền sử dụng, khai thác, mua bán, ứng dụng khoa học

cần thu hồi, lấy lại đất nông nghiệp nhà nước có thể bồi thường cho cá nhân, tổ
chức sử dụng đất tiền bồi thường thiệt hại, nếu người sử dụng đất không chấp


13
nhận với mức đền bù, hay vì lý do khác thì nhà nước có quyền cưỡng chế đối
với trường hợp đó.
* Đất nông nghiệp có tính đa dạng và phong phú
Trên bề mặt trái đất đất nông nghiệp nói chung và đất nông nghiệp nói riêng
được hình thành nhờ vào quá trình phong hoá đá mẹ, đá mẹ là nguồn gốc sinh ra
đất nông nghiệp. Đất nông nghiệp được tạo ra mang những tính chất khác nhau phụ
thuộc nhiều vào lớp đá mẹ tạo ra lớp đất nông nghiệp đó. Chính vì vậy mà chúng ta
có những loại đất nông nghiệp khác nhau như: đất phù sa, đất đỏ bazan, đất sét thịt,
đất cát…Thiên nhiên tạo ra rất nhiều loại đất nông nghiệp khác nhau có tính chất
và đặc điểm khác nhau đặc trưng riêng của mỗi loại.
Thậm chí trong một loại đất nông nghiệp đó không phải ở đâu loại đất đó
cũng giống nhau, có nơi đất đó tốt hơn, có nơi lại xấu hơn, thành phần cơ giới,
độ phì nhiêu của chúng là khác nhau. Ví dụ như: đất nông nghiệp do phù sa
Sông Hồng thường mang tính chất cơ giới nhẹ, nhiều kiềm. Phù sa Sông Cửu
Long thường mang tính chất cơ giới nặng hơn phù sa Sông Hồng,
Dựa trên tính chất đặc biệt của mỗi loại đất và sự phù hợp của khí hậu,
điều kiện tự nhiên của địa phương nơi đất nông nghiệp phân bố mà con người
lựa chọn loại hình canh tác, cây con giống, chế độ luân canh, tưới tiêu sao cho
phù hợp mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn nữa. Tính đa dạng và phong phú của
đất nông nghiệp vì thế cũng mang lại nhiều lợi ích cho con người. Mỗi một địa
phương một loại đất, một tính chất khác nhau lại có luồng sản phẩm khác nhau,
phù hợp và như thế con người sẽ có nhiều sản phẩm nông nghiệp đa dạng và
phong phú hơn. Một số vùng có thể hình thành nên nền sản xuất chuyên canh
cây, con đặc sản mà không vùng nào có thể có đựoc mang lại giá trị kinh tế cao
1.1.2. Khái niệm và đặc trưng quản lý nhà nước về đất nông nghiệp

thực hiện nhiệm vụ quản lý trong những trường hợp cần thiết.
Quản lý nhà nước còn được thể hiện ở quan hệ chủ thể và khách thể và
đối tượng quản lý. Chủ thể của sự quản lý nhà nước là bộ máy hành chính từ
trung ương đến địa phương, tỉnh, thành, phường, xã,,, và toàn bộ các cán bộ


15
công nhân viên chức của nhà nước làm việc trong công tác quản lý Nhà nước …
Khách thể quản lý là các công dân, tổ chức, các thành phần kinh tế, xã hội…
Đối tượng của công tác quản lý nhà nước là các quá trình kinh tế, các hoạt động,
các mối quan hệ có liên quan.
Trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về đất nông nghiệp chủ thể quản lý nhà
nước về đất nông nghiệp (cụ thể ở đây là đất nông nghiệp) thì nhà nước đóng vai
trò là chủ thể quản lý, khách thể của sự quản lý là các cá nhân, tổ chức, doanh
nhân, doanh nghiệp sử dụng đất nông nghiệp, có liên quan đến đất nông
nghiệp…Và đối tượng của công tác quản lý nhà nước về đất nông nghiệp là
những mối quan hệ phát sinh, những vướng mắc, vấn đề có liên quan đến đất
nông nghiệp xảy ra trong xã hội.
Từ sự phân tích các hoạt động quản lý nhà nước đối với đất nông nghiệp
như trên, có thể đưa ra khái niệm quản lý nhà nước về đất nông nghiệp như sau:
Quản lý nhà nước về đất nông nghiệp là tổng hợp các hoạt động của các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu của Nhà
nước đối với đất nông nghiệp, đó là các hoạt động nắm chắc tình hình sử dụng
đất, phân phối và phân phối lại quỹ đất nông nghiệp theo quy hoạch, kế hoạch,
kiểm tra giám sát quá trình quản lý và sử dụng đất, điều tiết các nguồn lợi từ
đất nông nghiệp. [7]
Cụ thể trong công tác quản lý nhà nước về đất nông nghiệp, Nhà nước có
các vai trò và nhiệm vụ quan trọng sau:
- Nhà nước quản lý toàn bộ quỹ đất nông nghiệp trên phạm vi cả nước.
Như đã nói ở trên nhà nước là người đại diện chủ sở hữu đất nông nghiệp của cả

nông nghiệp). Hàng năm nhà nước phải nắm bắt được cụ thể diện tích, chất
lượng, mục đích sử dụng, tình trạng sử dụng của các loại đất nói chung và của
đất nông nghiêp nói riêng, có như thể mới có thể tạo lập được quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất nông nghiệp phù hợp, lâu dài, tính dự báo cao… Để có đựơc
điều đó đòi hỏi công tác kiểm kê đánh giá phân hạng đất nông nghiệp phải được
thực hiện triệt để, theo đúng luật, đúng kế hoạch đề ra. Công tác này không


17
những giúp cho công tác lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (đất
nông nghiệp) mà nó còn đóng góp rất lớn cho công tác quản lý tài chính về đất
nông nghiệp của nhà nước ta. Tạo một nguồn thu quan trọng cho ngân sách,
phục vụ cho hoạt động quản lý nhà nước về đất nông nghiệp. Nhà nước tính thuế
đất nông nghiệp, thuế chuyển quyền sử dụng đất, tiền đền bù…dựa trên khung
giá đất nông nghiệp, đất nông nghiệp được chia ra nhiều loại mỗi loại có một
khung giá khác nhau. Để phân chia được đất nông nghiệp thì công tác đầu tiên là
phân hạng, đo đạc, đánh giá đất. Qua đây ta có thể thấy vai trò lớn của công tác
đo đạc, phân hạng, đánh giá đất nông nghiệp.
- Đất nông nghiệp là tài sản quý giá của bất kỳ một quốc gia nào. Giá trị
của đất nông nghiệp ngày càng lớn trên thị trường cạnh tranh, mối quan hệ đất
nông nghiệp ngày càng phức tạp hơn. Con người đã nhìn nhận thấy được tính
quan trọng của đất đại đối với đời sống của mình. Chính vì vậy, các tranh chấp,
mâu thuẫn, khiếu kiện… trong các quan hệ đất nông nghiệp thường nổ ra mạnh
mẽ, Trong công tác quản lý nhà nước về đất nông nghiệp, cán bộ, công nhân
viên chức có thể lợi dụng quyền hạn và trách nhiệm, công cụ nhà nước để vụ lợi
cho cá nhân, lợi ích của người này làm xâm hại quyền lợi, lợi ích của người
khác, chế tài Nhà nước ban hành ra để điều chỉnh, tác động vào mối quan hệ đất
nông nghiệp, đảm bảo công bằng. Công tác thanh tra, kiểm tra, phát hiện, xử lý
vi phạm trong lĩnh vực đất nông nghiệp là rất cần thiết để phát hiện, xử lý sớm
các vi phạm.

của quản lý Nhà nước về đất nông nghiệp còn được thể hiện qua những quyết
định của Chính phủ, UBND cấp tỉnh, cấp huyện về giao đất, thu hồi đất, cho
thuê đất, giải quyết tranh chấp về đất. Trên cơ sở các quyết định đó đã làm phát
sinh các quan hệ pháp luật về đất nông nghiệp với các quyền và nghĩa vụ của
các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật đất nông nghiệp, quy định các biện pháp
cưỡng chế đối với các chủ thể không thực hiện các quyền và nghĩa vụ hoặc có
hành vi vi phạm pháp luật đất nông nghiệp.
Trong quản lý Nhà nước về đất nông nghiệp có hàng loạt quan hệ đất
nông nghiệp mang tính mệnh lệnh hành chính như quan hệ xử phạt hành chính


19
đối với các chủ thể vi phạm pháp luật đất nông nghiệp, quan hệ về cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quan hệ về chuyển đổi, chuyển nhượng, cho
thuê, quan hệ về thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất. Trong các quan hệ
này, quyền vad nghía vụ của các chủ thể không bình đẳng với nhau trong đó có
các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền mệnh lệnh, còn người sử dụng đất có
nhiệm vụ thi hành.
Ngoài tính hành chính mệnh lệnh của quản lý Nhà nước về đất nông
nghiệp, nó còn bị chi phối của tính bình đẳng và thỏa thuận được thể hiện rõ
trong một số nội dung chuyển đổi, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất. Tính
bình đẳng được thể hiện ở các quy phạm pháp luật đất nông nghiệp và các hành
vi thực hiện quyền và nghĩa vụ của các chủ thể. Nhưng đặc trưng chính của quản
lý Nhà nước về đất nông nghiệp vẫn là tính mệnh lệnh, chấp hành và điều hành.
- Quản lý Nhà nước về đất nông nghiệp là hoạt động mang tính hệ thống
cao. Việc quản lý này mang tính khoa học liên tục quy định nội dung, thẩm
quyền quản lý đất nông nghiệp thống nhất trong cả nước.
Để có cơ sở pháp lý cho việc quản lý đất nông nghiệp, Nhà nước ts đã ban
hành hàng loạt những quy định pháp lý mang tính nguyên tắc chung về quản lý
đất nông nghiệp như Chính phủ chịu trách nhiệm quản lý đất nông nghiệp cả

Ngay ở nước ta, sau đại hội Đảng lần thứ VI (1986) Đảng và Nhà nước ta
đã đề ra nhiều tư duy, phương hướng phát triển và đổi mới cho đất nước. Nước
ta xác định phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền kinh tề thị
trường có sự quản lý của Nhà nước. Từ một đất nước đói nghèo, sống nhờ vào
viện trợ của nước ngoài trở thành một đất nước xuất khẩu gạo đứng nhất nhì thế
giới, lương thực không những đủ để cung cấp trong nước mà còn thoả mãn nhu
cầu xuất khẩu nông phẩm. Đất nông nghiệp là một tiềm lực to lớn mang lại cho
toàn dân tộc ta nhiều lợi thế phù hợp với truyền thống lao động, phong tục tập
quán, trình độ phát triển… nếu biết cách khai thác và sử dụng sẽ là một tài
nguyên vô giá cho sự phát triển của đất nước.
Đất nước mở cửa phát triển, trong xu thế giao lưu hợp tác với các nước
khác trên thế giới, nước ta đã gia nhập vào tổ chức thương mại thể giới WTO cơ



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status