Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Cơ sở khoa học của công tác quản lý nhà nước về đất nông nghiệp
1 Những vấn đề chung về đất nông nghiệp
1.1 Khái niệm đất nông nghiệp
Trước khi đi sâu tìm hiểu về đất nông nghiệp chúng ta tìm hiểu qua về
sự hình thành của đất đai trên bề mặt trái đất nói chung. Đất đai được hình
thành thông qua quá trình lịch sử lâu dài nhờ vào sự phong hoá đá mẹ dưới sự
tác động của không khí, gió, nước, sinh vật..Sản phẩm của quá trình phong
hoá đá đó là các chất vô cơ Như: N,C,S,Mg…Theo thời gian sản phẩm của
quá trình phong hoá đó tích tụ thêm các chất hữu cơ từ xác của động vật,
thực vật bị chết, phân, chất thải của động, thực vật (đây chính là một phần
nguồn dinh dưỡng quan trọng sẽ cung cấp cho thực vật sau này)… và hình
thành nên đất.
Đất đai được hình thành trên bề mặt trái đất do đó đất đai là một
khoảng không gian có giới hạn theo chiều thẳng đứng (gồm khí hậu, lớp đất
phủ bề mặt,…); và theo chiều ngang (là sự kết hợp của thổ nhưỡng, địa hình,
thuỷ văn, thảm thực vật…). Quỹ đất đai của mỗi vùng, địa phương luôn bị
giới hạn bởi địa giới hành chính của vùng, địa phương đó. Quỹ đất đai của
một đất nước bị giới hạn bởi biên giới, địa giới lãnh thổ quốc gia, Và tổng quỹ
đất của tòan thế giới bị giới hạn bởi bề mặt trái đất, Chính vì thế không ai có
thể nói rằng đất đai là nguồn tài nguyên vô tận, không có giới hạn mà ngược
lại đai có giới hạn.
Con người từ thủa sơ khai, khi con người còn là con người nguyên thuỷ
cuộc sống mông muội dựa hoàn toàn vào đất đai. Đất đai là nơi con người
khai thác, các loài động vật, thực vật bằng cách săn bắn, hái lượm, trú ngụ…
Đất nông nghiệp cung cấp cho con người nguyên thuỷ tất cả những sản phẩm
cần thiết của đời sống, đời sống con người những năm nguyên thủy là đời
sống cộng đồng hoạt động sản xất nông nghiệp còn rất thô sơ, và đất đai là tư
liệu lao động quý giá nhất mà họ có lúc bấy giờ.
1
1
nhu cầu của bản thân, gia đình nền kinh tế “tự cung tự cấp”. Xã hội phát triển
2
2
2
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
quá trình chuyên môn hoá xảy ra, nông phẩm không đơn chỉ để phục vụ cho
bản thân người sản xuất nữa. Nông phẩm là một mặt hàng quan trọng trên thị
trường, mang lại nhiều lợi ích kinh tế cho người sử dụng đất và cho toàn xã
hội. Vì vậy, đất đai sử dụng vào sản xuất nông nghiệp – ruộng đất chiếm vị
thế đáng kể đối với sự phát triển của nền sản xuất xã hội loài người.
1.2 Đặc điểm đất nông nghiệp
Đất nông nghiệp là một bộ phận của tổng quỹ đất, Nó có đặc điểm chung của
đất đai đồng thời có những đặc điểm riêng của nó.
1.2.1. Đặc tính hai mặt: Đất nông nghiệp không thể sản sinh và có khả
năng tái tạo
Như chúng ta đã biết về quá trình hình thành đất đai là quá trình của tự
nhiên, đó là một quá trình dài, diễn ra liên tục dưới sự tác động của nhiều yếu
tố khác nhau, không thể ngày một ngày hai mà có khi là cả hàng ngàn hàng
vạn năm mới hình thành nên được đất đai trên bề mặt trái đất. Đất đai không
thể di chuyển vị trí, nó có luôn luôn cố định (nó được hình thành ở đâu thì
luôn ở đó, bản thân nó không thể di chuyển) đồng thời đất đai được hình
thành với một số lượng hạn chế trên toàn cầu và phạm vi từng quốc gia. Tính
cố định không thể di chuyển từ vị trí này sang vị trí khác của đất đai đồng thời
cũng quy định tính giới hạn về quy mô theo không gian (theo cả chiều rộng và
chiều sâu) gắn liền với môi trường mà đất đai phải chịu chi phối (nguồn gốc
hình thành,đá mẹ, các hệ sinh thái, khí hậu, chế độ mưa nắng…). Con người
không thể tạo ra đất đai (đất nông nghiệp), quá trình hình thành nên đất đai là
một quá trình tự nhiên qua thời một khoảng thời gian dài, năng lực của con
người không đủ để tạo ra đất đai. Chính vì vậy mà ta có thể nói đất đai (đất
nông nghiệp) không thể tái sinh.
(đất nông nghiệp) và quyền sở hữu tư nhân về đất đai cũng là một tất yếu dĩ
nhiên dẫn đến quá trình bần cùng hoá nông dân những người luôn cần đến
đất đai như là một tư liệu lao động, đối tượng lao động trực tiếp. Người nắm
trong tay đất đai là người có nhiều quyền lợi kinh tế lớn nhất trong nền sản
xuất xã hội, song song với nó người sở hữu đất đai còn nắm quyền các lực về
mặt chính trị. Kẻ không có đất đai chỉ là kẻ làm thuê, làm công bị tách ra
khỏi tư liệu sản xuất, mất đi tư liệu sản xuất. Và như vậy, trong xã hội xuất
4
4
4
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
hiện sự tách biệt giữa người sở hữu đất đai (đất nông nghiệp) và người sử
dụng đất đất đai (đất nông nghiệp), người sở hữu đất nông nghiệp giờ đây
không phải là người lao động trực tiếp mà trao quyền sử dụng, lao động trực
tiếp đó cho các đôi tượng khác qua các hình thức cho thuê đất, giao đất, thuê,
mướn (những đối tượng này cần có tư liệu sản xuất là đất đai nhưng lại bị
tách khỏi quyền sở hữu đất)…
Người sở hữu đất nông nghiệp được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất nông nghiệp, là người chủ sở hữu duy nhất đất nông nghiệp được
nhà nước công nhận về mặt pháp lý, nhà nước luôn bảo vệ các quyền lợi hợp
pháp cho người sở hữu đất đai nói chung và đất nông nghiệp nói riêng. Người
sở hữu đất nông nghiệp có quyền sử dụng, khai thác, mua bán, ứng dụng
khoa học vào sản xuất phù hợp với chính sách và quy định của pháp luật nhà
đặt ra…
Ở nước ta ngay sau ngày đất nước được giải phóng năm 1945 đất nước
bước đầu tiến lên chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc; và cho tới nay pháp luật nước
Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã quy định:
“Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà Nước làm đại diện chủ sở hữu”,
Nhà nứơc thể hiện vai trò của mình thông qua việc
- Quyết định mục đích sử dụng đất
Trên bề mặt trái đất đất đai nói chung và đất nông nghiệp nói riêng
được hình thành nhờ vào quá trình phong hoá đá mẹ, đá mẹ là nguồn gốc sinh
ra đất đai. Đất nông nghiệp được tạo ra mang những tính chất khác nhau phụ
thuộc nhiều vào lớp đá mẹ tạo ra lớp đất nông nghiệp đó. Chính vì vậy mà
chúng ta có những loại đất nông nghiệp khác nhau như: đất phù sa, đất đỏ
bazan, đất sét thịt, đất cát…Thiên nhiên tạo ra rất nhiều loại đất nông nghiệp
khác nhau có tính chất và đặc điểm khác nhau đặc trưng riêng của mỗi loại.
Thậm chí trong một loại đất nông nghiệp đó không phải ở đâu loại đất
đó cũng giống nhau, có nơi đất đó tốt hơn, có nơi lại xấu hơn, thành phần cơ
giới, độ phì nhiêu của chúng là khác nhau. Ví dụ như: đất nông nghiệp do
phù sa Sông Hồng thường mang tính chất cơ giới nhẹ, nhiều kiềm. Phù sa
Sông Cửu Long thường mang tính chất cơ giới nặng hơn phù sa Sông Hồng,
6
6
6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Dựa trên tính chất đặc biệt của mỗi loại đất và sự phù hợp của khí hậu,
điều kiện tự nhiên của địa phương nơi đất nông nghiệp phân bố mà con người
lựa chọn loại hình canh tác, cây con giống, chế độ luân canh, tưới tiêu sao cho
phù hợp mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn nữa. Tính đa dạng và phong phú
của đất nông nghiệp vì thế cũng mang lại nhiều lợi ích cho con người. Mỗi
một địa phương một loại đất, một tính chất khác nhau lại có luồng sản phẩm
khác nhau, phù hợp và như thế con người sẽ có nhiều sản phẩm nông nghiệp
đa dạng và phong phú hơn. Một số vùng có thể hình thành nên nền sản xuất
chuyên canh cây, con đặc sản mà không vùng nào có thể có đựoc mang lại giá
trị kinh tế cao.
1.3 Phân loại đất nông nghiệp
Phân loại đất nông nghiệp là một việc làm quan trọng cho công tác sản
xuất, quản lý đất nông nghiệp. Dựa vào sự phân loại đó con người có thể xác
định được mục tiêu sản xuất, cây con giống phù hợp, chế độ chăm sóc hợp lý,
• Đất trồng lúa
• Đồng cỏ chăn nuôi
• đất trồng cây hàng năm khác
+ Đất trồng cây lâu năm
- Đất lâm nghiệp:
• Đất rừng sản xuất
• Đất rừng phòng hộ
• Đất rừng đặc dụng
- Đất nuôi trồng thuỷ sản
- Đất làm muối
- Đất nông nghiệp khác theo quy định của chính phủ
(Trích luật Đất đai năm 2003)
Ta có thể nhận thấy sự thay đổi rất lớn giữa cách phân loại đất của luật
Đất đai năm 1993 và luật Đất đai năm 2003, Luật đất đai năm 2003 đã quy
định chi tiết và cụ thể hơn, các loại đất đã được phân chia theo đúng mục đích
sử dụng. Sự thay đổi có thể thấy rõ, một số loại đất chuyên dùng và đất nông
nghiệp nay chuyển sang đất phi nông nghiệp nông nghiệp. Sự đổi mới này thể
8
8
8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
hiện một tư duy mới tránh xảy ra sự trùng lặp, chồng chéo trong phân chia các
loại đất như trước đây.
Ngoài ra, việc phân chia đất nông nghiệp còn theo nhiều cách khác
nhau, dựa trên những tiêu chí khác nhau. Ví dụ, phân chia đất nông nghiệp
dựa trên đặc tính đất đai, thổ nhưỡng của đất đai.
Hay ta có thể phân chia đất nông nghiệp theo phân bố vị trí địa lý, tính
chất màu mỡ của đất đai, độ phì nhiêu của đất nông nghiệp…Ta có đất nông
nghiệp phân bố ở đồng bằng, đất nông nghiệp phân bố ở miền trung du,…Đất
nông nghiệp có tính chất màu mỡ cao, đất nông nghiệp độ phì thấp, đất nông
thức ăn, dinh dưỡng, không khí…mà cây con trồng cần thiết cho sự sống.
Chính vì vậy người sản xuất đã có trong tay một tư liệu sản xuất vô cùng
quan trọng không thể thay thế được.
Mặt khác, mặc dù con người đã có sự cố gắng để tạo ra sản phẩm nông
nghiệp mà không cần dùng đến đất đai như: trồng cây trên nước, trồng cây
bằng dung dịch dinh dưỡng…Nhưng chưa có một quốc gia nào có thể tách
rời trồng trọt với đất nông nghiệp cả. Những sản phẩm tạo ra từ những thí
nghiệm chỉ là một khối lượng rất nhỏ và năng suất rất thấp, Điều này càng
chứng minh sự cần thiết, và tầm quan trọng của đất đai nói chung và đất nông
nghiệp. Có thể khẳng định con người luôn cần đến đất nông nghiệp để sản
xuất và đó là tư liệu sản xuất không thể thay thế được.
2.2.Việc sử dụng đất nông nghiệp là một trong những yếu tố quyết định
đến bảo vệ môi trường sinh thái của cuộc sống
Đất nông nghiệp là một trong những yếu tố cấu thành nên môi trường,
gắn liền với môi trường tự nhiên và điều kiện sinh thái. Theo quy luật của
mối liên hệ phổ biến thì để có được môi trường trong sạch các yếu tố trong
môi trường phải được bảo vệ và trong lành, nếu không yếu tố này sẽ ảnh
hưởng đến yếu tố khác, một yếu tố không được bảo vệ có thể gây ảnh hưởng
xấu đến các yếu tố khác và như thế môi trường sẽ bị ô nhiễm.
Nếu đất nông nghiệp không có được môi trường trong sạch hiệu quả sử
dụng đất nói chung sẽ giảm sút đáng kể. Chúng ta có thể thấy nếu đất đai bị ô
nhiễm hậu quả tất yếu là nguồn nước bị ô nhiễm, không khí bị ô nhiễm, môi
trường sống bị ô nhiễm…Con người khai thác đất đai không có ý thức
10
10
10
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
thường chỉ xét đến các lợi ích trước mắt mà không thể nhìn thấy được lợi ích
lâu dài. Điều này càng làm suy giảm môi trường của cuộc sống hơn.
Tuy nhiên, con người có thể tác động lên đất đai theo hai mặt: một mặt
học công nghệ, con người có thể tạo ra một khối lượng lớn hơn nữa các sản
phẩm nông nghiệp. Như vậy con người không cần phải sử dụng một diện tích
quá lớn để sản xuất ra sản phẩm đầy đủ cho đời sống, họ có thể sử dụng một
diện tích nhất định cũng đã đủ cung cho nhu cầu của xã hội. Diện tích đất
nông nghiệp cần sử dụng cho quá trình sản xuất so với trước kia giảm xuống,
Diện tích đất nông nghiệp dôi ra dùng vào đâu?
Quá trình phát triển của nền sản xuất xã hội, ngành sản xuất công
nghiệp và dịch vụ ngày càng mở rộng. Nhu cầu đất đai phục vụ cho mục đích
sản xuất công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng lên. Quá trình chuyển dịch cơ
cấu đất đai cho các mục đích sử dụng của con người cũng xảy ra sao cho phù
hợp. Đất nông nghiệp sẽ là nguồn cung quan trọng cho các mục đích sử dụng
khác, quỹ đất nông nghiệp được cắt để phân bổ cho mục đích sử dụng khác.
Đối với nước ta là một nước đang phát triển, nền kinh tế còn phụ thuộc nhiều
vào nền sản xuất nông nghiệp do vậy diện tích đất nông nghiệp còn chiếm tỷ
trọng lớn trong quỹ đất của quốc gia. Tuy có diện tích khá lớn khoảng 22 triệu
Ha (năm 2004) nhưng đất nông nghiệp chưa được khai thác đúng mức, hiệu
quả và năng suất còn thấp, thu nhập bình quân đầu người còn ở mức thấp so
với thế giới .Vì vậy, cần thiết phải chuyển một số diện tích đất nông nghiệp
sang mục đích khác nhằm mang lại hiệu quả cao hơn. Trong quá trình công
nghiệp hoá - hiện đại hóa của đất nước, cơ cấu nền kinh tế đang chuyển đổi
mạnh mẽ từng ngày, diện tích đất cần cung cấp cho mục đích xây dựng, giao
thông, đất ở, đất khu công nghiệp, thương mại…gia tăng nhanh chóng. Quỹ
đất nông nghiệp là một nguồn cung quan trọng cho các mục đích sử dụng đất
khác cho nên một diện tích lớn đất nông nghiệp đã và sẽ được chuyển sang
mục đích phi nông nghiệp đã mang lại những hiệu quả lớn lao cho đất nước.
Tuy nhiên, sự chuyển đổi này cần phải có tính toán và có quy hoạch rõ ràng,
thực tế và mang tính dự báo cao…Trong hệ thống các điều khoản của Pháp
luật nước Việt Nam đã có những quy định chặt chẽ cho các trường hợp điều
12
12
vào đúng quỹ đạo, hoạt động trong khuôn khổ phục vụ lợi ích cá nhân mà lợi
13
13
13
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
ích đó không gây ảnh hưởng xấu đến xã hội. Sự tồn tại của bộ máy áp chế
trong cơ cấu các cơ quan chức năng quản lý là một tất yếu khách quan, đó là
điều kiện cần thiết để thực hiện nhiệm vụ quản lý trong những trường hợp cần
thiết.
Quản lý nhà nước còn được thể hiện ở quan hệ chủ thể và khách thể và
đối tượng quản lý. Chủ thể của sự quản lý nhà nước là bộ máy hành chính từ
trung ương đến địa phương, tỉnh, thành, phường, xã,,, và toàn bộ các cán bộ
công nhân viên chức của nhà nước làm việc trong công tác quản lý Nhà nước
…Khách thể quản lý là các công dân, tổ chức, các thành phần kinh tế, xã
hội… Đối tượng của công tác quản lý nhà nước là các quá trình kinh tế, các
hoạt động, các mối quan hệ có liên quan. Riêng trong lĩnh vực quản lý Nhà
nước về đất đai chủ thể quản lý nhà nước về đất đai (cụ thể ở đây là đất nông
nghiệp) thì nhà nước đóng vai trò là chủ thể quản lý, khách thể của sự quản lý
là các cá nhân, tổ chức, doanh nhân, doanh nghiệp sử dụng đất nông nghiệp,
có liên quan đến đất nông nghiệp…Và đối tượng của công tác quản lý nhà
nước về đất nông nghiệp là những mối quan hệ phát sinh, những vướng mắc,
vấn đề có liên quan đến đất nông nghiệp xảy ra trong xã hội.
Cụ thể trong công tác quản lý nhà nước về đất nông nghiệp, Nhà nước
có các vai trò và nhiệm vụ quan trọng sau:
- Nhà nước quản lý toàn bộ quỹ đất đai (đất nông nghiệp) trên phạm vi
cả nước. Như đã nói ở trên nhà nước là người đại diện chủ sở hữu đất nông
nghiệp của cả nước. Đồng thời nhà nước là chủ thể quản lý của công tác quản
lý nhà nước về đất nông nghiệp, Chính vì vậy nhà nước phải thống nhất quản
lý đất đai (đất nông nghiệp) trên phạm vi cả nước. Mục đích của việc này là
mang lại lợi ích chung cho xã hội đảm bảo sử dụng đất (đất nông nghiệp) hợp
hoạch sử dụng đất nông nghiệp phù hợp, lâu dài, tính dự báo cao… Để có
đựơc điều đó đòi hỏi công tác kiểm kê đánh giá phân hạng đất nông nghiệp
phải được thực hiện triệt để, theo đúng luật, đúng kế hoạch đề ra. Công tác
này không những giúp cho công tác lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử
dụng đất (đất nông nghiệp) mà nó còn đóng góp rất lớn cho công tác quản lý
tài chính về đất nông nghiệp của nhà nước ta. Tạo một nguồn thu quan trọng
cho ngân sách, phục vụ cho hoạt động quản lý nhà nước về đất nông nghiệp.
15
15
15
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Nhà nước tính thuế đất nông nghiệp, thuế chuyển quyền sử dụng đất, tiền đền
bù…dựa trên khung giá đất nông nghiệp, đất nông nghiệp được chia ra nhiều
loại mỗi loại có một khung giá khác nhau. Để phân chia được đất nông nghiệp
thì công tác đầu tiên là phân hạng, đo đạc, đánh giá đất. Qua đây ta có thể
thấy vai trò lớn của công tác đo đạc, phân hạng, đánh giá đất đai.
- Đất đai là tài sản quý giá của bất kỳ một quốc gia nào. Giá trị của đất
đai ngày càng lớn trên thị trường cạnh tranh, mối quan hệ đất đai ngày càng
phức tạp hơn. Con người đã nhìn nhận thấy được tính quan trọng của đất đại
đối với đời sống của mình. Chính vì vậy, các tranh chấp, mâu thuẫn, khiếu
kiện… trong các quan hệ đất đai thường nổ ra mạnh mẽ, Trong công tác quản
lý nhà nước về đất nông nghiệp, cán bộ, công nhân viên chức có thể lợi dụng
quyền hạn và trách nhiệm, công cụ nhà nước để vụ lợi cho cá nhân, lợi ích
của người này làm xâm hại quyền lợi, lợi ích của người khác,Chế tài Nhà
nước ban hành ra để điều chỉnh, tác động vào mối quan hệ đất nông nghiệp,
đảm bảo công bằng. Công tác thanh tra, kiểm tra, phát hiện, xử lý vi phạm
trong lĩnh vực đất nông nghiệp là rất cần thiết để phát hiện, xử lý sớm các vi
phạm.
Trong xã hội nước ta, một thời đất đai được xem như “ vô giá” đơn
giản là vì đất đai không được mua bán trên thị trường. Ngày nay, đất đai là
canh tác. Mỗi giây đồng hồ trôi qua có gần 20 ha bị hoang hoá, sa mạc hoá,
Đây là một mối đe doạ lớn đối với quỹ đất nông nghiệp trên thế giới.
Ngay ở nước ta, sau đại hội Đảng lần thứ VI (1986) Đảng và Nhà nước
ta đã đề ra nhiều tư duy, phương hướng phát triển và đổi mới cho đất nước.
Nước ta xác định phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền
kinh tề thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Sau hơn 20 năm đổi mới đất
nước bước đầu đã thu được rất nhiều thắng lợi như: DGP đầu người không
ngừng tăng lên, thu nhập bình quân đầu người tăng, tốc độ tăng trưởng kinh tế
từ 7% trở lên, thoát khỏi đói nghèo, đói ăn…Từ một đất nước đói nghèo, sống
nhờ vào viện trợ của nước ngoài trở thành một đất nước xuất khẩu gạo đứng
nhất nhì thế giới, lương thực không những đủ để cung cấp trong nước mà còn
thoả mãn nhu cầu xuất khẩu nông phẩm. Đất nông nghiệp là một tiềm lực to
lớn mang lại cho toàn dân tộc ta nhiều lợi thế phù hợp với truyền thống lao
17
17
17