Tăng cường hiệu quả giáo dục trẻ vùng sâu vùng xa xã tênh phông thông qua kênh giao tiếp giữa giáo viên và phụ huynh trong giờ đón, trả trẻ - Pdf 39

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

BÙI THỊ NIỀM

TĂNG CƢỜNG HIỆU QUẢ GIÁO DỤC TRẺ VÙNG SÂU VÙNG XA
XÃ TÊNH PHÔNG THÔNG QUA KÊNH GIAO TIẾP GIỮA
GIÁO VIÊN VÀ PHỤ HUYNH TRONG GIỜ ĐÓN, TRẢ TRẺ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Sơn La, năm 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

BÙI THỊ NIỀM

TĂNG CƢỜNG HIỆU QUẢ GIÁO DỤC TRẺ VÙNG SÂU VÙNG XA
XÃ TÊNH PHÔNG THÔNG QUA KÊNH GIAO TIẾP GIỮA
GIÁO VIÊN VÀ PHỤ HUYNH TRONG GIỜ ĐÓN, TRẢ TRẺ

Chuyên ngành: Giao tiếp sƣ phạm

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn: ThS. Đặng Thị Sợi

Sơn La, năm 2015


9. Cấu trúc của đề tài ............................................................................................. 6
PHẦN NỘI DUNG .............................................................................................. 7
CHƢƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG ...................................... 7
1.1. Sơ lược về lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................ 7
1.1.1. Vấn đề giao tiếp trong tâm lý học nước ngoài ............................................ 7
1.1.2. Vấn đề giao tiếp ở Việt Nam ....................................................................... 8
1.2. Một số vấn đề về giao tiếp ............................................................................. 9
1.2.1. Khái niệm giao tiếp ..................................................................................... 9
1.2.1.1. Hướng tiếp cận thứ nhất .......................................................................... 9
1.2.1.2. Hướng tiếp cận thứ hai. .......................................................................... 10
1.2.2. Vai trò của giao tiếp .................................................................................. 17
1.3. Giao tiếp sư phạm ........................................................................................ 19
1.3.1. Khái niệm giao tiếp sư phạm .................................................................... 19
1.3.2. Những nguyên tắc của giao tiếp sư phạm ................................................. 20
1.3.3. Các kĩ năng giao tiếp sư phạm .................................................................. 22
1.3.3.1. Khái niệm kĩ năng giao tiếp sư phạm .................................................... 22
1.3.3.2. Các nhóm kĩ năng giao tiếp sư phạm ..................................................... 23
1.4. Vai trò, ý nghĩa của giờ đón, trả trẻ ............................................................. 29
1.5. Đặc điểm tâm lí chung của một số phụ huynh dân tộc Mông xã Tênh Phông
............................................................................................................................. 30


Tiểu kết chương 1................................................................................................ 32
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG GIAO TIẾP GIỮA GIÁO VIÊN VÀ PHỤ
HUYNH XÃ TÊNH PHÔNG TRONG GIỜ ĐÓN, TRẢ TRẺ ..................... 33
2.1. Điều tra thực trạng........................................................................................ 33
2.1.1. Mục đích điều tra....................................................................................... 33
2.1.2. Đối tượng điều tra ..................................................................................... 33
2.1.3. Địa điểm điều tra ....................................................................................... 33
2.1.4. Nội dung điều tra ....................................................................................... 34

1. Kết luận ........................................................................................................... 49
2. Kiến nghị ......................................................................................................... 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Cơ sở lý luận
Sinh thời chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến con người. Theo
Người “con người là vốn quý nhất”. Đảng và nhà nước ta cũng khẳng định:
“Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển kinh tế – xã hội”. Trong
thời đại công nghệ thông tin, kinh tế thị trường, “Sự phát triển con người là yếu
tố quyết định mọi sự phát triển”. Đất nước ta đã và đang tiến hành công nghiệp
hóa hiện đại hóa trong thời kì mở cửa, với sự thay đổi cơ cấu xã hội, để tiếp thu
một nền văn minh phát triển cao đòi hỏi con người phải giao lưu trong phạm vi
mở rộng, mở rộng các mối quan hệ, mở rộng khả năng giao tiếp để bảo tồn bản
sắc văn hóa dân tộc, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội về mọi mặt.
Giao tiếp là đặc trưng quan trọng nhất trong hành vi của con người, nó
không những là điều kiện quan trọng bậc nhất của sự hình thành và phát triển
tâm lý, ý thức, nhân cách mà còn giúp cho con người đạt được năng suất, chất
lượng và hiệu quả trong mọi lĩnh vực hoạt động.
Hiện nay trên thế giới giao tiếp đã trở thành một nền khoa học độc lập,
một ngành tâm lí học chuyên nghiên cứu mối quan hệ giữa con người với con
người. Ở Việt Nam, ngành tâm lí nghiên cứu về giao tiếp đang hình thành và
phát triển ngày càng khẳng định vai trò vô cùng quan trọng của giao tiếp trong
đời sống tâm lí của cá nhân và xã hội. Giao tiếp có ý nghĩa cực kì quan trọng
đối với mỗi người. Con người luôn sống trong xã hội, nên giao tiếp giữa con
người với con người là nhu cầu tất yếu, nếu không có giao tiếp thì sẽ không có
sự tồn tại và phát triển của xã hội, giao tiếp là cơ chế bên trong của sự tồn tại

của nhân cách.
Đặc biệt là trong hoạt động sư phạm, thì giao tiếp không thể thiếu được.
Bởi vì quá trình dạy học và giáo dục là quá trình giao tiếp giữa giáo viên và học
sinh. Hiệu quả của quá trình này phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Một trong những
yếu tố góp phần quan trọng vào sự thành công của hoạt động sư phạm, đó chính
là năng lực giao tiếp của giáo viên. Vì vậy, để thực hiện tốt nhiệm vụ của mình
người giáo viên tương lai không chỉ tích cực rèn luyện chuyên môn sâu, mà còn
phải tích cực rèn luyện nghiệp vụ sư phạm để có khả năng giao tiếp tốt khi bước
vào nghề.
2


1.2. Cơ sở thực tiễn
Trên cơ sở khảo sát thực tiễn một cách sơ bộ ở nhà trường vùng sâu, vùng
xa chúng tôi nhận thấy công tác giáo dục nói chung và giáo dục thói quen hành
vi giao tiếp có văn hóa cho trẻ em ở các vùng còn nhiều bất cập chưa được chú ý
đúng mức. Do trình độ dân trí còn thấp, sự tiếp thu những tinh hoa văn hóa còn
hạn chế, đời sống lạc hậu, kinh tế khó khăn, ngôn ngữ bất đồng, sự nhận thức về
giao tiếp có văn hóa của một số phụ huynh chưa tốt, bản thân cha mẹ và những
người thân trong gia đình chưa gương mẫu. Phương pháp giảng dạy của giáo
viên trong việc lồng ghép giáo dục chưa thường xuyên, việc giao tiếp với phụ
huynh học sinh chưa được chú trọng.
Đa số giáo viên đã nhận thức được tầm quan trọng của giao tiếp trong giờ
đón trả trẻ. Việc giao tiếp trong giờ đón, trả trẻ đã được tiến hành nhưng chưa
được thường xuyên, liên tục, việc xác định mục đích của giao tiếp còn chưa
được đầy đủ và đúng đắn. Hơn nữa, do bất đồng về ngôn ngữ nên giáo viên chưa
ý thức, quyết tâm và chưa tìm ra biện pháp để giao tiếp với phụ huynh một cách
hiệu quả. Còn về phụ huynh, 100% phụ huynh là người dân tộc đời sống khó
khăn, trình dộ dân trí thấp, ngôn ngữ bất đồng nên họ chưa nhận thức được tầm
quan trọng của giao tiếp trong giờ đón, trả trẻ. Việc giao tiếp với giáo viên chỉ

của giao tiếp trong giờ đón, trả trẻ. Mức độ giao tiếp của giáo viên và phụ
huynh trong giờ đón, trả trẻ.
4.3. Đề xuất một số biện pháp tăng cường hiệu quả giáo dục trẻ vùng
sâu vùng xa xã Tênh Phông thông qua kênh giao tiếp giữa giáo viên và phụ
huynh trong giờ đón, trả trẻ.
5. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
5.1. Khách thể nghiên cứu
- 20 giáo viên trường Mầm non Tênh Phông – xã Tênh Phông – huyện
Tuần Giáo – tỉnh Điện Biên.
- 20 phụ huynh trên địa bàn xã Tênh Phông – huyện Tuần Giáo – tỉnh
Điện Biên.
5.2. Giới hạn về nội dung nghiên cứu
Chúng tôi tập trung nghiên cứu vai trò của giao tiếp giữa giáo viên và phụ
huynh trong giờ đón, trả trẻ; Thực trạng nhận thức của giáo viên và phụ huynh
về tầm quan trọng của giao tiếp trong giờ đón, trả trẻ. Từ đó, chúng tôi đề xuất
4


một số biện pháp để tăng cường hiệu quả giáo dục thông qua kênh giao tiếp giữa
giáo viên và phụ huynh trong giờ đón, trả trẻ.
6. Giả thuyết khoa học
6.1. Thực tế giáo viên và phụ huynh xã Tênh Phông chưa nhận thức được ý
nghĩa, vai trò, tầm quan trọng của giao tiếp trong giờ đón, trả trẻ đối với việc
giáo dục trẻ.
6.2. Nếu khóa luận đề xuất được những biện pháp phù hợp thì cuộc giao
tiếp giữa giáo viên và phụ huynh sẽ được diễn ra một cách thuận lợi hơn từ đó
góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác chăm sóc và giáo dục trẻ.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này chúng tôi sử dụng những nhóm phương pháp
nghiên cứu sau đây:

Chương I: Một số vấn đề lý luận chung.
Chương II: Thực trạng giao tiếp giữa giáo viên và phụ huynh xã Tênh
Phông trong giờ đón, trả trẻ.
Chương III: Một số biện pháp tăng cường hiệu quả giáo dục trẻ vùng sâu
vùng xa xã Tênh Phông thông qua kênh giao tiếp giữa giáo viên và phụ huynh
trong giờ đón, trả trẻ.

6


PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG
1.1. Sơ lƣợc về lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Vấn đề giao tiếp trong tâm lý học nước ngoài
Từ xa xưa giao tiếp đã là một vấn đề được nhiều khoa học quan tâm
nghiên cứu. Tất cả các nhà tâm lý học trên thế giới đều gặp nhau tại một điểm
trong phạm trù giao tiếp – khẳng định vai trò quyết định của giao tiếp đối với
cuộc sống xã hội và sự hình thành nhân cách của con người. A.A.Bôdaliop khi
khai mạc Hội nghị khoa học “Giao tiếp với tư cách là đối tượng của các công
trình nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn” đã nói: “Trong hoạt động giao tiếp có
thể tìm thấy sự thể hiện tổng hợp của tất cả các đặc trưng cơ bản của con người
như là một thành viên của xã hội, như là một chủ thể của hoạt động nhận thức và
sáng tạo”. Vì vậy giao tiếp thực sự trở thành đối tượng nghiên cứu của khoa học
tâm lý. Cho đến nay trên thế giới việc nghiên cứu giao tiếp trở thành một hệ
thống, một ngành riêng: Tâm lý học giao tiếp.
Trong lịch sử của ngành tâm lý học giao tiếp, việc nghiên cứu giao tiếp
được tiến hành trên cả hai bình diện lý luận và thực tiễn, thu hút tất cả các nhà
khoa học có tên tuổi trên thế giới. Thời cổ đại như Xôcơrat, Platon, Arixtot…
sau này đến các nhà tâm lý học hiện đại như: Anna Freud, E.E.Acquyt;
M.Again;

và lãnh đạo, giao tiếp trong quần chúng; mô hình hóa quá trình giao tiếp, sự
chệch hướng và vi phạm loại hình giao tiếp… và nhiều công trình nghiên cứu lí
luận khác.
Bên cạnh các công trình công bố trong 3 hội nghị trên còn có hàng loạt
các công trình với các mức độ khác nhau được nghiên cứu ở Liên xô và các
nước Đông Âu. Các nước Tây Âu, vấn đề giao tiếp cũng được một số học giả
quan tâm.
1.1.2. Vấn đề giao tiếp ở Việt Nam
Tại Việt Nam, tâm lý học là khoa học còn non trẻ. Vấn đề giao tiếp được
đi sâu nghiên cứu từ năm 1970 – 1980. Việc nghiên cứu giao tiếp phát triển
mạnh mẽ và đi theo xu hướng khác nhau, thể hiện các công trình nghiên cứu lí
luận và thực tiễn. Có thể khái quát một số hướng nghiên cứu về giao tiếp và hoạt
động giao tiếp trong lĩnh vực sư phạm như sau:
Nghiên cứu lí luận về giao tiếp: Khái niệm, bản chất, vai trò, quan hệ giữa
giao tiếp và hoạt động. Có thể kể ra một số công trình sau: Đỗ Long: “Cacmac
và phạm trù giao tiếp” (1963); Bùi Văn Huệ: “Bàn về phạm trù giao tiếp”
(1981); Trần Trọng Thủy: “Giao tiếp tâm lý, nhân cách” (1981), “Giao tiếp và
sự phát triển nhân cách trẻ” (1981); Ngô Công Hoàn: “giao tiếp sư phạm”
(1987) và “Một số vấn đề về giao tiếp sư phạm”; Nguyễn Văn Lê: “vấn đề giao
tiếp” (1992). Trong đó có nhóm các công trình nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp
sư phạm có thể kể tới là: Hoàng Anh – “kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh
viên”; Nguyễn Thạc – Hoàng Anh với cuốn “luyện giao tiếp sư phạm”8


ĐHSPHN – 1997; Ngô Công Hoàn – Hoàng Anh: “giao tiếp sư phạm”; Trần
Duy Hưng đã bàn tới kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên; Ứng xử sư phạm
(Trịnh Trúc Lâm).
Ngoài ra, còn một số công trình nghiên cứu về đặc điểm giao tiếp của sinh
viên ở một số trường Đại học và Cao Đẳng như: “Đặc điểm giao tiếp của sinh
viên trường Cao Đẳng sư phạm Quảng trị”- Nguyễn thị Diễm; “Khả năng giao

tiêu giao tiếp.
Tâm lý học y học: xem xét giao tiếp là quan hệ giữa thầy thuốc và bệnh
nhân; thầy thuốc và thầy thuốc; bệnh nhân – bệnh nhân trong bệnh viện nhằm
tạo sự tin tưởng ở khả năng chữa trị cho bệnh nhân.
1.2.1.2. Hướng tiếp cận thứ hai: xem xét các xu hướng cơ bản trong tâm lý học
giao tiếp.
Khi tìm hiểu, khám phá bản chất giao tiếp, các nhà tâm lý học thế giới đã
đi theo 3 xu hướng rõ rệt.
- Hướng thứ nhất: xác định bản chất giao tiếp qua việc xác định nội hàm
của khái niệm (thu hẹp hoặc mở rộng nội hàm khái niệm giao tiếp).
- Hướng thứ hai: xem xét bản chất giao tiếp qua việc xác định vị trí của
giao tiếp trong hệ thống các khái niệm phạm trù tâm lý.
- Hướng thứ ba: xác định chính xác hóa khái niệm giao tiếp bằng việc
phân biệt “giao tiếp” với các thuật ngữ, khái niệm liên quan như “thông tin”,
“ứng xử” hoặc “quan hệ xã hội”.
* Hướng thứ nhất: “Thu hẹp hoặc mở rộng nội hàm khái niệm giao tiếp”.
+ Xu hướng thu hẹp khái niệm giao tiếp: chỉ nhấn mạnh một khía cạnh
nhất định nào đó trong giao tiếp.
- Nhấn mạnh đến khía cạnh thông tin trong giao tiếp giữa người với
người, gồm các tác giả với những quan niệm sau.
Theo E.E.Acquyt và M.A.Acgain quan niệm: “Giao tiếp là sự tác động, sự
truyền và tiếp nhận thông báo, sự trao đổi thông tin của con người”.
K.K.Platonop: “Giao tiếp là sự trao đổi thông tin giữa con người với nhau,
sự trao đổi thông tin này gọi là tiếp xúc”.
Fischer: “Sơ đồ giao tiếp nằm trong một quá trình truyền thông tin, bao
gồm 4 yếu tố khác nhau: Một điểm phát – biến đổi thông tin thành mã, một kênh
thông tin, một điểm thu nhận thông tin, một danh mục tín hiệu”.
10



11


cũng là hoạt động hoàn chỉnh ở bậc cao và độc lập. Giao tiếp có thể tham gia
vào một hoạt động không giao tiếp khác, với chức năng như hoạt động lý thuyết
tham gia vào hoạt động thực hành. Và trong trường hợp này giao tiếp cũng
không khác gì so với các dạng khác của hoạt động.
Tại sao giao tiếp có thể là một dạng của hoạt động?
Thứ nhất là mối quan hệ giữa chủ thể với môi trường xung quanh do hoạt
động tạo nên đã bao hàm cả giao tiếp. Nghĩa là, mối quan hệ chủ thể - khách thể
hay đúng hơn là chủ thể - hoạt động – đối tượng không phải là mối quan hệ của
một chủ thể cá thể với một đối tượng riêng biệt, mà là mối quan hệ có tính xã
hội trong cả ba thành phần của nó.
Thứ hai là đối tượng có tính xã hội vì nó không phải là một vật thờ ơ, tồn
tại ngoài xã hội loài người, mà là một vật mà những tính khách quan của nó
được phản ánh trong quá trình hoạt động và cấu tạo nên hình ảnh của vật trong ý
thức của con người, có ý thức xã hội nhất định. Như vậy đối tượng của hoạt
động không phải chỉ là những gì tồn tại ở dạng vật chất mà cả tinh thần nữa.
Thứ ba là bản thân quá trình hoạt động cũng mang tính xã hội, kể cả khi
nó là hoạt động của cá thể, vì trong trường hợp này nó là hoạt động của một cá
thể, chứ không phải là hoạt động mang tính cá thể. Cuối cùng, chủ thể của hoạt
động cũng có tính xã hội. Chính tính xã hội của toàn bộ mối quan hệ chủ thể khách thể và của từng thành phần của nó đã dẫn A.A.Leonchiep đến kết luận
rằng mối quan hệ chủ thể - hoạt động và đối tượng bao hàm cả mối quan hệ chủ
thể - chủ thể, tức phạm trù hoạt động bao hàm cả phạm trù giao tiếp.
Mặt khác, nếu xét theo định nghĩa hoạt động của A.A.Leonchiep thì trong
giao tiếp cũng vậy có đầy đủ các thành phần của chủ thể hoạt động của hoạt
động giao tiếp. Và theo ông thì chủ thể hoạt động của hoạt động giao tiếp là một
nhóm người đồng nhất hay một nhóm người giao tiếp. Còn đối tượng của giao
tiếp là sự tác động lẫn nhau đó cũng là động cơ của giao tiếp. Giao tiếp được
quyết định bởi mối quan hệ lẫn nhau, cũng như hoạt động được quyết định bởi

nhất định nào đó của cuộc sống con người, hoạt động và giao tiếp – hai mặt của
sự tồn tại xã hội loài người của lối sống. Hai mặt này luôn gắn liền với nhau
trong một lối sống thống nhất. Hơn nữa giữa chúng luôn tồn tại sự chuyển biến
từ cái này sang cái kia.

13


Tóm lại, B.Ph.Lomop cho rằng hoạt động và giao tiếp là hai mặt của sự
tồn tại xã hội loài người. Hai mặt này luôn gắn liền với nhau trong một lối sống
thống nhất, giữa chúng luôn có sự chuyển hóa lẫn nhau và nhiều khi giao tiếp để
hoạt động và hoạt động để giao tiếp, giao tiếp được thực hiện bằng phương thức
của hoạt động, hoạt động được tiến hành bằng phương thức của giao tiếp, giữa
chúng luôn có sự chuyển hóa giữa cái này sang cái kia.
Đứng trước những quan điểm này đa số các nhà tâm lí học như
K.K.Platomop; A.A.Bodaliop; D.B.Econhin; G.M.Andreeva cho rằng: Cả hai
nhà tâm lí trên đều có điểm hợp lí và điểm chưa hợp lí. Như A.A.Leonchiep thì
chưa giải thích thỏa đáng về đối tượng động cơ, chủ thể của hoạt động này.
B.Ph.Lomop quá nhấn mạnh phạm trù giao tiếp nên khó giải thích khi giao tiếp
có cơ chế như là một hoạt động và khi giao tiếp tham gia vào hoạt động có đối
tượng như là điều kiện thiết yếu của hoạt động. Các nhà tâm lí học đã khẳng
định: “Hoạt động là quy luật chung nhất của tâm lí học”.
Giao tiếp là hoạt động phản ánh mối quan hệ chủ thể - chủ thể. Còn hoạt
động có đối tượng phản ánh mối quan hệ chủ thể - khách thể. Hai khái niệm này
có quan hệ ngang bằng và có quan hệ gắn bó khăng khít với nhau trong phạm trù
hoạt động, là hai mặt thống nhất của con người, của sự phát triển tâm lí.
Điều đó có thể biểu diễn bằng sơ đồ sau:
Hoạt động có đối tượng
Hoạt động
Hoạt động giao tiếp

với nhau. Quan hệ xã hội gồm có:
 Quan hệ sản xuất
 Quan hệ vật chất
 Quan hệ xã hội giữa các nhóm
 Quan hệ chính trị
 Quan hệ tư tưởng
Còn giao tiếp là sự tiếp xúc giữa các nhân cách cụ thể là sự hiện thực hóa
quan hệ xã hội. Giao tiếp diễn ra trong môi trường xã hội, trong các mối quan hệ
xã hội. Giao tiếp là biểu hiện của các mối quan hệ xã hội. Quan hệ xã hội xã hội
15


chỉ được biểu biện qua các quá trình giao tiếp. Hai khái niệm này có quan hệ
chặt chẽ với nhau.
V.N.Miaxsep cho rằng: “Quan hệ qua lại là cơ sở nhân cách bên trong của
sự tác động qua lại, cái sau (tức là sự tác động qua lại) là sự hiện thực hóa hay là
hậu quả và biểu hiện của cái đầu (tức là quan hệ qua lại)”.
- Giao tiếp và ứng xử là hai thuật ngữ khác nhau “ứng xử” là phản ứng
của cơ thể đối với các tác động bên ngoài thể hiện thái độ hành động theo một
cách nào đó đối với người khác trong hoàn cảnh cụ thể nhất định.
Theo M.Reuchlin: “ứng xử là toàn bộ những hành động (đáp ứng theo
nghĩa của thuyết hành vi) được đặc trưng bằng tổ chức đặt ra cho chúng, mục
đích cuối cùng mà cuối cùng có thể theo đuổi hữu thức hoặc vô thức, duy lí
hoặc phi lí”.
Như vậy, giao tiếp và ứng xử có những điểm chung được thực hiện bởi
các cá nhân khác nhau thực hiện trong các quan hệ xã hội, chịu sự chế ước bởi
các chuẩn mực xã hội. Bên cạnh đó chúng còn có những điểm khác biệt như:
Một là: Khái niệm giao tiếp rộng hơn khái niệm ứng xử, giao tiếp là một
quá trình, còn ứng xử mang tính chất tình huống nằm trong quá trình giao tiếp.
Hai là: Trong giao tiếp người ta chú ý đến nội dung và mục đích của công

Ngày nay, giao tiếp trở thành vấn đề rộng lớn, có ý nghĩa quan trọng trong
khoa học và cuộc sống.
Người ta không thể nghiên cứu con người với tính cách là đơn vị độc lập,
không phụ thuộc vào môi trường xã hội xung quanh vì: “Bản chất con người
không phải là trừu tượng vốn có của một cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện
thực của nó, bản chất con người là tổng hoà của tất cả những mối quan hệ xã
hội” (Mác – Anghen “Tuyển tập” – Nhà xuất bản sự thật Hà Nội, 1971)
Cơ sở của quan hệ phụ thuộc lẫn nhau là những nhu cầu của con người
biểu thị mối liên hệ của con người với những người khác cũng như với những
đối tượng và những hoàn cảnh có ý nghĩa quan trọng sống còn đối với họ và quy
định vị trí cá nhân trong môi trường xã hội. Nói cho thật đúng thì tất cả những
nhu cầu của một người riêng lẻ đều chỉ có thể thoả mãn khi tính đến những nhu
cầu của những người xung quanh. Đồng thời cơ cấu nhu cầu càng phức tạp thì
quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa người này với người khác càng tăng. Chẳng

17


hạn chúng ta khó mà tưởng tượng là nhu cầu muốn được người khác tôn trọng
lại có thể thoả mãn ngoài mối liên hệ với những người xung quanh.
Giao tiếp là điều kiện quan trọng nhất của sự hình thành bản thân con
người như là con người xã hội, đồng thời là điều kiện tất yếu của sự tồn tại con
người. Chính vì vậy mà nhiều nhà bác học thuộc lĩnh vực tâm lý học cũng quan
tâm đến vấn đề giao tiếp. Chẳng hạn nhà bác học Đức R.Noibe đã nói: “Con
người là nhu cầu quan trọng của con người, con người sẽ bị mất mát nhiều nếu
họ không thể so sánh được mình với người khác, không thể trao đổi được với
người khác về các ý nghĩ, không thể định hướng được vào người khác. Căm thù
người khác còn tốt hơn là phải sống cô đơn”. Hơn nữa, trong quá trình giao tiếp
với nhau, người ta trao đổi quan niệm với nhau. Trong quan niệm của họ thể
hiện thái độ đánh giá về mặt trí tuệ của họ đối với những mặt khác nhau của đời

truyền đạt và lĩnh hội tri thức khoa học, vốn sống, kỹ năng, kỹ xảo hoạt động.
Để từ đó tiến hành xây dựng nên những mối quan hệ sư phạm, thực hiện những
tác động nhằm làm phát triển toàn diện, hài hoà những phẩm chất nhân cách cho
học sinh. Thông qua việc thực hiện các nhiệm vụ giao tiếp khi nhà sư phạm đã
thiết lập được các mối quan hệ cần thiết đối với học sinh, có thể tạo ra được
những điều kiện tâm lý thuận lợi để thực thi các tác động giáo dục - đào tạo
trong nhà trường.
Trong dạy học cũng như khi thực thi các loại hoạt động giáo dục, hoạt
động công ích - xã hội và các hoạt động ngoài giờ lên lớp khác, ở giáo viên sẽ biểu
hiện ra những phong cách giao tiếp sư phạm muôn màu, muôn vẻ mà cụ thể như:
- Phong cách giao tiếp sư phạm mang tính chất dân chủ được thể hiện ở
chỗ nhà sư phạm sẽ luôn luôn biết tỏ ra tôn trọng nhân cách học sinh, biết lắng
nghe nguyện vọng ý kiến cá nhân, biết gần gũi thân mật, biết giải quyết kịp thời
các khó khăn được nảy sinh ra trong học tập cho các em.
- Phong cách giao tiếp sư phạm mang tính chất độc đoán thì trong quá
trình sư phạm, chủ thể luôn luôn chỉ biết chú trọng đến nội dung công việc, mà
lại rất xem nhẹ những đặc điểm riêng tư trong từng nhân cách cử học sinh.
- Phong cách sư phạm mang tính cách tự do thường được linh hoạt, tính
cơ động, sự mềm dẻo khéo léo trong pháp xử thế, do đó phong cách này sẽ rất
phù hợp với các điều kiện, hoàn cảnh giao tiếp với đặc điểm cá nhân của học
sinh khi tiến hành các tác động giáo dục - đào tạo trong nhà trường.
19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status