Ban giám đốc
Phòng kế hoạch kinh doanh
Phòng tài chính kế toán
Phòng tổ chức hành chính
Ban thu hồi
công nợ
11 xí nghiệp kinh doanh
Chi nhánh tại thành phố HCM
2004
2005
2006
Khối lượng nhập khẩu (tấn)
Năm
Công ty (Người phân phối sản phẩm thép)
Người
sử
dụng sản phẩm
thép
11
Xí nghiệp
Chi nhánh tại TP. Hồ Chí Minh
Các
trung
gian
Công ty
Xí nghiệp
Chi nhánh
Người sử dụng
Người sử dụng
Người sử dụng
Công ty
MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HIỆU QUẢ
KINH DOANH THÉP NHẬP KHẨU CỦA CÔNG TY
CỔ PHẦN KIM KHÍ HÀ NỘI
Họ và tên sinh viên : Trần Ngọc Khoái
Chuyên ngành : QTKD Quốc tế
Lớp : QTKD Quốc tế
Khoá : 45
Hệ : Chính quy
Giảng viên hướng dẫn : TS. Đàm Quang Vinh
SV: Trần Ngọc Khoái QTKDQT - 45
Hà Nội năm 2007
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan khóa luận thực tập này được hoàn thành nhờ sự hướng
dẫn tận tình của TS. Đàm Quang Vinh cùng với sự nghiên cứu và tìm hiểu của
bản thân em qua quá trình thực tập tại công ty cổ phần kim khí Hà Nội.
Em xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình
Sinh viên: Trần Ngọc Khoái
4
Chuyên đề tốt nghiệp
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
SV: Trần Ngọc Khoái QTKDQT - 45
DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
Hình 1: Sơ đồ tổ chức bộ máy của Công ty cổ phần Kim khí Hà Nội
Hình 2: Biểu đồ khối lượng, nhập khẩu thép của công ty các năm
2004,2005,2006
Hình 3: Biểu đồ tỷ lệ khối lượng nhập khẩu thép của Công ty tại các thị
trường nhập khẩu năm 2005
Hình 4: Sơ đồ hệ thống kênh phân phối của công ty
trong nước. Vấn đề đặt ra đối với các doanh nghiệp là phải nâng cao hiệu quả
kinh doanh nhập khẩu thép, tối đa hoá lợi nhuận đáp ứng được yêu cầu sự
nghiệp xây dựng đất nước. Trong thời gian thực tập vừa qua tại phòng kinh
doanh của công ty cổ phần kim khí Hà Nội em nhận thấy rằng hoạt động kinh
doanh thép nhập khẩu đóng một vai trò đặc biệt quan trọng đến kết quả kinh
doanh của công ty. Tuy nhiên, cũng giống như rất nhiều doanh nghiệp nhà
nước khác mới bước vào cổ phần hoá, hoạt động kinh doanh thép nhập khẩu
của công ty đạt hiệu quả rất kém và có biến động lớn. Sở dĩ có điều này là do
sự biến động phức tạp của thị trường thép cả ở trong nước và trên thế giới,
trong khi đó đội ngũ công nhân viên không có được nhiệt huyết, và động lực
làm việc cao vì tuy đã cổ phần hoá nhưng nhà nước vẫn đóng góp gần 90% số
vốn, nên công nhân viên không có sự gắn kết giữa quyền lợi và trách nhiệm
như mục tiêu của cổ phần hoá. Khi mà Việt nam hội nhập ngày càng sâu rộng
vào nền kinh tế thế giới, tính cạnh tranh ngày càng khốc liệt, thì bản thân
doanh nghiệp cần có một tiềm lực lớn cũng như quyết tâm cao độ để giúp
doanh nghiệp tồn tại và phát triển đi lên. Xuất phát từ thực tế đó tôi đã lựa
chọn đề tài “Một số giải pháp tăng cường hiệu quả kinh doanh thép nhập
8
Chuyên đề tốt nghiệp
khẩu của Công ty cổ phần Kim Khí Hà Nội" để nghiên cứu trong khóa luận
tốt nghiệp của mình với mong ước đưa ra được những giải pháp để góp phần
nào đó tăng cường hiệu quả nhập khẩu của công ty ngày càng lớn trong tương
lai
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
*. Mục tiêu nghiên cứu: Trên cơ sở phát hiện các tồn tại và nguyên
nhân của các tồn tại trong việc tăng cường hiệu quả kinh doanh thép nhập
khẩu của công ty cổ phần kim khí Hà Nội trong những năm gần đây mà đề
xuất những giải pháp cụ thể và thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh
thép nhập khẩu cho công ty.
*. Để thực hiện được mục tiêu này, nhiệm vụ của khóa luận là:
DOANH NHẬP KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP
1.1. Tổng quan về nhập khẩu
1.1.1. Khái niệm về nhập khẩu
Dựa trên những tiêu chí và giác độ hay khía cạnh khác nhau thì lại có
một cách định nghĩa khác nhau về khái niệm nhập khẩu. Nhập khẩu là hoạt
động tiếp nhận các hàng hóa và dịch vụ vào quốc gia này từ quốc gia khác.
Dưới giác độ kinh doanh, nhập khẩu là việc mua các hàng hóa và dịch vụ.
Dưới giác độ phi kinh doanh như làm quà tặng hoặc viện trợ không
hoàn lại thì nhập khẩu là việc lưu chuyển hàng hóa và dịch vụ qua biên giới
quốc gia.
Trên giác độ của nghiệp vụ ngoại thương thì nhập khẩu là hoạt động
kinh doanh, buôn bán quốc tế. Đó không chỉ là những hành vi mua bán riêng
lẻ mà là cả một hệ thống các quan hệ mua bán trong nền kinh tế thương mại
có tổ chức cả bên trong và bên ngoài nhằm mục đích đẩy mạnh sản xuất hàng
hóa phát triển chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nước, ổn định và từng bước
nâng cao mức sống nhân dân. Vì vậy nhập khẩu được coi là hoạt động kinh tế
đem lại hiệu quả cao hoặc có thể gây thiệt hại vì nó phải đương đầu với một
hệ thống kinh tế khác từ bên ngoài mà các chủ thể tham gia không dễ dàng
khống chế được.
1.1.2. Các đặc điểm cơ bản của nhập khẩu
Hoạt động nhập khẩu chịu sự điều chỉnh của nhiều nguồn khác nhau
như điều ước quốc tế, luật quốc gia, tập quán thương mại quốc tế.
Mọi hoạt động nhập khẩu hàng hóa điều phải được tiến hành thông qua
hình thức hợp đồng kinh tế.
SV: Trần Ngọc Khoái QTKDQT - 45
Hoạt động nhập khẩu được thanh toán theo những phương thức đa dạng
như trả trước, phương thức nhờ thu, phương thức thanh toán đối lưu, phương
thức tín dụng chứng từ, tùy thuộc từng hợp đồng kinh tế. Tuy nhiên, phương
thức thanh toán tín dụng chứng từ được dùng nhiều nhất hiện nay. Ngoại tệ
dùng trong thanh toán thường là các ngoại tệ mạnh có sức chuyển đổi cao như
việc làm do người lao động giúp họ tăng thu nhập. Đồng thời nhập khẩu làm
phong phú cơ cấu hàng hóa lưu thông trên thị trường, làm thỏa mãn nhu cầu
người dân, đặc biệt với hàng hóa trong nước chưa sản xuất được.
Thứ tư, nhập khẩu giúp tạo lập sự ổn định giá cả và ổn định thị
trường, làm cân đối giữa cung và cầu về hàng hóa trên thị trường. Đồng
thời nó góp phần hạn chế sự khan hiếm hàng hóa và tình trạng leo thang
của giá cả trên thị trường.
Thứ năm, nhập khẩu sẽ làm đa dạng hóa về chủng loại cũng như quy
cách của mặt hàng, xóa bỏ tình trạng độc quyền, tạo ra sự cạnh tranh bình
đẳng giữa hàng hóa sản xuất trong nước và hàng hóa nhập khẩu. chính điều
này sẽ là động lực buộc các nhà sản xuất trong nước không ngừng cải tiến
mẫu mã, nâng cao chất lượng, giảm thiểu chi phí, hạ giá thành để đủ sức cạnh
tranh với hàng nhập khẩu, thúc đẩy nền sản xuất trong nước phát triển.
Thứ sáu, nhập khẩu là cầu nối thông suốt giữa các nền kinh tế, thị
trường trong và ngoài nước với nhau, tạo điều kiện phân công lao động xã hội
và hợp tác quốc tế, phát huy được lợi thế so sánh của mỗi quốc gia trên cơ sở
chuyên môn hóa
Hoạt động nhập khẩu đưa đến sự cạnh tranh gay gắt giữa trong nước và
ngoài nước. Người tiêu dùng có điều kiện lựa chọn sản phẩm chất lượng tốt
với giá rẻ nhất, nhưng những doanh nghiệp làm ăn không hiệu quả sẽ đi đến
SV: Trần Ngọc Khoái QTKDQT - 45
phá sản. Nhập khẩu tạo động lực các doanh nghiệp khác vươn lên, phát triển
tốt hơn để tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường rất năng động này.
Nước ta là nước đang phát triển, trang thiết bị máy móc và trình độ
công nghệ còn cũ kỹ và lạc hậu nên hàng hóa trong nước còn thiếu hoặc chưa
đủ sức cạnh tranh với hàng nước ngoài. Do vậy việc huy động vốn nhập khẩu
máy móc, công nghệ tiên tiến để nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa trong
nước là vấn đề quan trọng. Hơn nữa máy móc, công nghệ hiện đại tạo điều
kiện để chúng ta khai thác những nguồn tài nguyên chưa từng được khai thác.
1.1.4. Các hình thức nhập khẩu:
Nhập khẩu tiểu ngạch là hình thức nhập khẩu thường chỉ áp dụng với
những hàng hóa không chịu sự quản lý của nhà nước về thủ tục hành chính,
hàng hóa nhập khẩu tiểu ngạch phải làm thủ tục kê khai hải quan và đóng
thuế tiểu ngạch do bộ tài chính quy định, và bán hàng thống nhất trong cả
nước. nhập khẩu tiểu ngạch là nhập khẩu hàng hóa qua biên giới với khối
lượng từng đợt nhỏ lẻ
Nhập khẩu chính ngạch là hình thức nhập khẩu có chịu sự quản lý của
nhà nước thông qua bộ thương mại. Nhập khẩu chính ngạch mang tính kinh
doanh lớn và có thị trường ổn định.
1.1.4.3.Theo nguồn gốc và hình thức giao hàng
-Nhập khẩu trực tiếp
-Nhập khẩu gián tiếp
-Tạm nhập tái xuất
Nhập khẩu trực tiếp là hình thức nhập khẩu mà trong đó các bên trực
tiếp quan hệ bàn bạc với nhau, đi đến thống nhất các vấn đề thỏa thuận
Nhập khẩu gián tiếp là hình thức nhập khẩu thông qua các trung tâm
thương mại, trung tâm môi giới
SV: Trần Ngọc Khoái QTKDQT - 45
Tạm nhập tái xuất là hình thức nhập khẩu vào trong nước nhưng không
nhằm mục đích tiêu dùng mà để xuất khẩu sang nước thứ ba.
1.1.4.4Căn cứ vào phương thức nhập khẩu
-Nhập khẩu theo phương thức hàng đổi hàng
-Nhập khẩu theo phương thức mua bán thông thường
Nhập khẩu theo phương thức hàng đổi hàng là hình thức nhập khẩu gắn
liền với xuất khẩu. Người nhập khẩu cũng đồng thời là người xuất khẩu, và
khối lượng hàng hóa trao đổi giữa hai bên là có giá trị tương đương.
Nhập khẩu theo phương thức mua bán thông thường chính là việc bên
mua bên bán trực tiếp giao dịch với nhau dựa trên quan hệ mua bán tiền hàng.
Bên mua có thể chỉ mua mà không bán, ngược lại bên bán có thể chỉ bán
không mua
tiếp nên doanh nghiệp sẽ ủy thác cho một Công ty khác có chức năng giao
dịch ngoại thương, chuyên môn giỏi tiến hành nhập khẩu theo yêu cầu của
Công ty mình. Bên nhận ủy thác phải làm tất cả các thủ tục như đàm phán với
nước ngoài, ký kết hợp đồng nhập khẩu và được nhận một phần thù lao gọi là
phí ủy thác .
Ưu điểm: phương thức này giúp cho Công ty không phải bỏ nhiều vốn
đầu tư nghiên cứu khảo sát thị trường nước ngoài. Công ty cũng sẽ không gặp
khó khăn khi giao dịch, vận chuyển hàng hóa, chịu rủi ro thấp.
Hạn chế: Thực hiện thép phương thức này sẽ không thể kiểm soát được
nguồn hàng, mất dần các mối quan hệ làm ăn với các nguồn hàng tốt, ổn định.
Công ty không thể thích nghi nhanh với các thay đổi trên thị trường quốc tế.
Công ty phải bỏ ra 1 khoản chi phí trung gian làm giảm lợi nhuận của mình.
*. Nhập khẩu đối lưu:
SV: Trần Ngọc Khoái QTKDQT - 45
Nhập khẩu đối lưu là hình thức nhập khẩu gắn liền với xuất khẩu.
Người nhập khẩu đồng thời cũng là người xuất khẩu, lượng hàng hóa trao đổi
giữa 2 bên có giá trị tương đương với nhau. Hoạt động này mang lại lợi ích
cho các bên không chỉ về kinh tế mà còn về chính trị. Hình thức nhập khẩu
này không được sử dụng phổ biến trong điều kiện hiện nay vì có sự bị động
nhiều doanh nghiệp nhiều khi gặp khó khăn khi tiến hành đồng thời cả nhập
khẩu và xuất khẩu. Hoạt động này mang lại lợi ích cho cả hai bên bởi cùng
một đồng mà vừa xuất khẩu được vừa nhập khẩu được mà không phải mất chi
phí liên quan. Đối tác xuất khẩu cũng chính là đối tác nhập khẩu, và hình thức
này thường chỉ áp dụng với trường hợp có nhu cầu buôn bán đối lưu giữa hai
nước, và hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu tương đương nhau về giá trị và cân
băng về giá cả
*. Nhập khẩu tái xuất
Nhập khẩu tái xuất là hoạt động nhập khẩu vào trong nước không nhằm
mục đích tiêu dùng mà để xuất khẩu sang một nước thứ ba nhằm mục đích
thu lợi nhuận. Hoạt động nhập khẩu tái xuất có các đặc điểm sau
1.2.1.1. Khái niệm về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Trên những tiêu chí khác nhau mà chúng ta có các cách nhìn khác nhau
về khái niệm hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Do sự tác động của yếu
tố lịch sử và dưới nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau, các nhà nghiên cứu,
nhà kinh tế đã đưa ra các quan niệm khác nhau về hiệu quả kinh doanh.
Quan điểm một: "Hiệu quả kinh doanh là kết quả thu được trong hoạt
động kinh doanh, là doanh thu tiêu thụ hàng hóa". Theo quan điểm trên, có sự
đồng nhất giữa hiệu quả kinh doanh với kết quả kinh doanh và các chỉ tiêu
phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên đây là một quan điểm chưa
xét đến ảnh hưởng của chi phí bởi trên thực tế với cùng một kết quả sản xuất
SV: Trần Ngọc Khoái QTKDQT - 45
kinh doanh nhưng lại có mức chi phí khác nhau sẽ dẫn đến hiệu quả khác
nhau.
Quan điểm hai, "hiệu quả kinh doanh là một đại lượng so sánh giữa kết
quả thu được và chi phí bỏ ra để có được kết quả đó". Quan điểm này đã phản
ánh bản chất của hiệu quả kinh doanh vì nó gắn kết giữa kết quả và chi phí bỏ
ra coi kết quả là sự phản ánh trình độ sử dụng các chi phí. Tuy nhiên quan
điểm này chưa biểu hiện được mối tương quan về lượng và về chất giữa kết
quả và chi phí, chưa phản ánh được mức độ chặt chẽ của mối liên hệ này vì
kết quả và chi phí đều luôn vận động và biến đổi trong suốt quá trình diễn ra
hoạt động sản xuất kinh doanh.
Quan điểm ba: "hiệu quả kinh doanh là quan hệ tỷ lệ giữa phần tăng
thêm của kết quả và phần tăng thêm của chi phí". Quan điểm này đã nói lên
được quan hệ so sánh một cách tương đối giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ
ra để đạt kết quả đó, nhưng chúng mới chỉ xét tới phần kết quả và chi phí bổ
sung của doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Quan điểm bốn: "Hiệu quả kinh doanh phải thể hiện được mối quan hệ
giữa sự vận động của kết quả với sự vận động của chi phí tạo ra kết quả đó,
đồng thời phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất". Ở quan điểm
này đã có sự so sánh giữa tốc độ vận động của kết quả và chi phí. Mối quan
chính là quá trình phản ánh mối quan hệ và sự tương quan giữa kết quả và chi
phí cùng với mức độ đạt được các mục tiêu định tính theo hướng tích cực của
doanh nghiệp trong từng thời kỳ nhất định với hoạt động sản xuất kinh doanh
của mình.
1.2.1.3. Phân loại hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
SV: Trần Ngọc Khoái QTKDQT - 45
Theo các góc độ khác nhau chúng ta có các cách phân loại khác nhau
về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Điều này có ý nghĩa to lớn trong
công tác quản lý và nâng cao hiệu quả kinh doanh của mỗi doanh nghiệp.
+ Căn cứ vào phương pháp tính hiệu quả
Hiệu quả tuyệt đối: là phạm trù chỉ lượng hiệu quả của từng phương án
kinh doanh, từng thời kỳ kinh doanh từng doanh nghiệp kinh doanh hay nó
phản ánh sự chênh lệch giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra.
Σ kết quả ÷Σ chi phí = Σ lợi nhuận
Hiệu quả tương đối là phạm trù phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố
sản xuất của doanh nghiệp hay so sánh các đại lượng thể hiện giữa kết quả và
chi phí.
H
1
= (1)
Công thức (1) cho biết mức độ hiệu quả kinh doanh mà doanh nghiệp
đạt được từ 1 phương án kinh doanh hay một thời kỳ kinh doanh.
H
2
= (2)
Công thức (2) cho biết một đơn vị phí bỏ ra trong quá trình sản xuất
kinh doanh thì tạo ra bao nhiêu đơn vị kết quả.
+ Căn cứ vào phạm vi tính hiệu quả
Hiệu quả kinh doanh tổng hợp là hiệu quả kinh doanh được tính chung
cho cả doanh nghiệp cho các bộ phận trong doanh nghiệp hay nó phản ánh
và ngược lại. Tuy nhiên, cũng có trường hợp để hoạt động kinh doanh này có
hiệu quả thì sẽ gây khó khăn trong việc thực hiện hoạt động kinh doanh khác
của doanh nghiệp. Khi đó, tùy theo tình hình cụ thể mà doanh nghiệp cần phải
SV: Trần Ngọc Khoái QTKDQT - 45
dung hòa các hoạt động kinh doanh đó để sao cho hiệu quả kinhd oanh của
toàn doanh nghiệp là cao nhất
+Căn cứ vào phạm vi của hoạt động thương mại
Hiệu quả hoạt động kinh doanh nội thương là hiệu quả do hoạt động
kinh doanh trong nước tạo ra
Hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại thương là hiệu quả do hoat động
kinh doanh quốc tế mang lại
Khi một quốc gia đạt được hiệu quả kinhd oanh nội thương thì sự phát
triển nền kinh tế của quốc gia đó sẽ được đảm bảo. Điệu đó tạo ra môi trường
kinh doanh hấp dẫn cho các nhà kinh doanh quốc tế tiến hành hợp tác kinh
doanh với các doanh nghiệp trong nước. Hiệu quả kinh doanh nội thương đạt
hiệu quả sẽ tạo ra môi trường thuận lợi để đạt được hiệu quả kinh doanh ngoại
thương và ngược lại. Còn ở cấp doanh nghiệp, khi hoạt động kinhd oanh
trong nước đạt hiệu quả thì sẽ tạo tiền đề để đạt được hiệu quả kinh doanh
ngoại thương và ngược lại.
1.2.1.4. Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp
a. Đối với doanh nghiệp
Việc nâng cao hiệu quả kinh doanh đồng thời với việc nâng cao trình
độ sử dụng các yếu tố sản xuất nói riêng, trình độ tổ chức và quản lý nói
chung, từ đố giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu đã đạt ra với chi phí thấp
nhất, góp phần làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Sự gia tăng lợi nhuận
chính là cơ sở để doanh nghiệp có thể tồn tại, và tiến hành tái sản xuất kinh
doanh, mở rộng quy mô kinh doanh, nâng cao uy tín của doanh nghiệp trên
thương trường. Đây chính là mục tieu xuyên suốt quá trình hình thành và phát
triển của công ty.Hiệu quả kinh doanh được nâng cao không chỉ giúp cho