Một số giải pháp tăng mức lợi nhuận từ hoạt động nhập khẩu tại công ty cổ phần hỗ trợ và phát triển công nghệ Detech - Pdf 32

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Đề tài:
MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG MỨC LỢI NHUẬN TỪ HOẠT ĐỘNG KINH
DOANH NHẬP KHẨU CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN
VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ DETECH
Giáo viên hướng dẫn : TS. ĐÀM QUANG VINH
Sinh viên thực hiện : TRẦN ANH TUẤN
Lớp : QTKDQT
Khóa : K 45
Hệ : CHÍNH QUY
Hà Nội 04 - 2007
Chuyên đề thực tập ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là: Trần Anh Tuấn.
Sinh viªn lớp: Quản trị Kinh doanh Quốc tế 45
Khoa: Kinh tế và Kinh doanh quốc tế
Trong quá trình thực tập tại Công ty cổ phần hỗ trợ và phát triển
công nghệ Detech, tôi đã nghiên cứu một số tài liệu của công ty, và để
hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình tôi có tham khảo một số tài liệu
khác cùng với sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo TS Đàm Quang Vinh.
Nghiên cứu khoa học là một vấn đề có tính chất kế thừa, tìm tòi, và
nghiên cứu, tuy nhiên kết quả nghiên cứu trên là thành quả của chính tôi
và không sao chép cũng như liên quan đến một đề tài nào khác tương tự.
Có gì không đúng với những điều đã nói trên tôi xin hoàn toàn chiụ trách
nhiệm .
Hà Nội, ngày 28 tháng 04 năm 2007
Sinh viên
Trần Anh Tuấn.

SV: Trần Anh Tuấn Lớp: QTKD Quốc tế K45
3
Chuyên đề thực tập ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
Nội dung bài luận văn gồm những phần chính sau:
Chương 1: Những luận điểm chung về nhập khẩu,Lợi nhuận và khả
năng tăng lợi nhuận của hoạt động nhập khẩu.
Chương 2: Thực trạng tình hình thực hiện lợi nhuận tại công ty cổ
phần hỗ trợ và phát triển công nghệ Detech.
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện và phát triển nhập khẩu tạo tăng
lợi nhuận tại công ty cổ phần hỗ trợ và phát triển công nghệ Detech.
4
SV: Trần Anh Tuấn Lớp: QTKD Quốc tế K45
4
Chuyên đề thực tập ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
CHƯƠNG 1
NHỮNG LUẬN ĐIỂM CHUNG VỀ NHẬP KHẨU,LỢI NHUẬN
VÀ KHẢ NĂNG TĂNG LỢI NHUẬN CỦA HOẠT ĐỘNG NHẬP
KHẨU
1.1. Một số vấn đề cơ bản về nhập khẩu,lợi nhuận của doanh nghiệp
1.1.1.một số luận điểm cơ bản về nhập khẩu.
1.1.1.1)Khái niệm về hoạt động nhập khẩu
Trước khi hiểu về hoạt động nhập khẩu tìm hiểu sơ qua về thương mại
quốc tế là việc trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa các chủ thể có quốc tịch khác nhau
(trong đó đối tượng trao đổi thường vượt qua ngoài phạm vi địa lý của một quốc
gia), thông qua hoạt động mua bán lấy tiền làm môi giới. Đây là một trong những
hình thức chủ yếu của hoạt động kinh doanh quốc tế.
Trong những năm vừa qua, thương mại đóng vai trò ngày càng tăng đối với
phần lớn các nền kinh tế thế giới. Một chỉ số để đánh giá tầm quan trọng của thương
mại đối với một quốc gia là xem xét tương quan giữa quy mô thương mại của một
nước với tổng sản lượng của nước đó. Trên thế giới, nhiều nước có chỉ số này lớn

- Mô hình kinh doanh nhập khẩu bao gồm nhiều loại khác nhau và kinh
doanh nhiều loại hàng hoá - vật tư khác nhau như: xăng dầu, thiết bị, rau quả
tươi, hàng mây tre đan, thủ công mỹ nghệ...
- Thời điểm nhập khẩu hàng hoá và thời điểm thanh toán thường có khoảng
cách dài.
- Phương thức thanh toán chủ yếu sử dụng phương thức thanh toán bằng thư
tín dụng.
- Hai bên Mua, Bán có quốc tịch khác nhau, pháp luật khác nhau, tập quán
kinh doanh khác nhau. Do vậy phải tuân thủ luật kinh doanh, tập quán kinh
doanh của 2 nước và luật thương mại quốc tế.
- Điểm nổi bật của hàng nhập khẩu là hàng hoá bao giờ cũng được đóng gói
nguyên đai nguyên kiện, bên ngoài có ghi các ký hiệu mã để thuạn tiện cho
6
SV: Trần Anh Tuấn Lớp: QTKD Quốc tế K45
6
Chuyên đề thực tập ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
việc giao nhận, vận chuyển, trừ một số hàng rời không đóng gói được sẽ có
quy định riêng. Mặt khác, hàng nhập khẩu luôn được giao nhận theo từng lô
và dứt điểm theo từng chuyến hàng, do đó việc theo dõi và quản lý hàng nhập
khẩu có nhiều thuận lợi. ở Việt Nam, xuất nhập khẩu nói chung và nhập khẩu
nói riêng từ lâu đã được coi là một hoạt động không thể thiếu trong nội dung
của các hoạt động kinh tế đối ngoại, là một phương tiện quan trọng để phát
triển nền kinh tế đất nước. Hoạt động xuất nhập khẩu góp phần vào mục tiêu
đưa nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu không có nguồn bổ sung kỹ
thuật tiên tiến thành một nước sản xuất nông nghiệp hiện đại, năng suất lao
động cao, quy mô sản xuất lớn. Tuy nhiên, nhập khẩu hàng hoá không phải là
con đường chính để phát triển một nền kinh tế thị trường, trái lại muốn thực
hiện thành công công cuộc CNH – HĐH đất nước, nước ta cần phải thực hiện
chính sách thay thế hàng nhập khẩu trong chiến lược phát triển lâu dài của
mình. Nhưng chúng ta không thể phủ nhận vai trò của nhập khẩu trong việc

Thương mại cấp giấy phép cho phép trực tiếp giao dịch, ký kết trực tiếp hợp
đồng mua và bán với nước ngoài thanh toán bằng ngoại tệ (chủ yếu là ngoại tệ
mạnh) trong khuôn khổ pháp luật Việt Nam.
 Nhập khẩu uỷ thác: Là hình thức mà các doanh nghiệp địa phương có
ngoại tệ nhưng không có điều kiện và chưa được Nhà nước cho phép nhập
khẩu trực tiếp mà phải nhờ các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trung ương hoặc
địa phương khác nhập khẩu hộ mình. Với hình thức này, doanh nghiệp nhận
uỷ thác nhập khẩu là đơn vị được hưởng hoa hồng theo sự thoả thuận giữa hai
bên.
 Nhập khẩu hỗn hợp: Hình thức này là sự kết hợp của hai hình thức trên,
có nghĩa là doanh nghiệp vừa được Nhà nước nhập khẩu trực tiếp vừa nhờ các
doanh nghiệp khác nhập khẩu hộ.
Cả ba hình thức trên chủ yếu được thực hiện theo hợp đồng kinh tế,
ngoài ra còn có thể thực hiện theo Hiệp định.
8
SV: Trần Anh Tuấn Lớp: QTKD Quốc tế K45
8
Chuyên đề thực tập ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
1.1.3.Lợi nhuận của doanh nghiệp
1.1.3.1 Bản chất lợi nhuận
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên gọi riêng, có tài sản, có trụ sở giao
dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm thực
hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh (Theo điều 3 của luật doanh nghiệp được
Quốc hội Việt Nam thông qua ngày12/06/1999 và có hiệu lực từ ngày
01/01/2000). Doanh nghiệp là nơi trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất đáp ứng
nhu cầu xã hội với mục đích tìm kiếm lợi nhuận.
Có thể nói lợi nhuận là một chỉ tiêu tổng quát nhằm đánh giá hiệu quả
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định.
Từ xưa đến nay, các nhà kinh tế học đặc biệt quan tâm tới kết quả cuối cùng
của hoạt động kinh doanh là lợi nhuận. Từ đó đã cho ra đời rất nhiều quan

nghiệp vì trong điều kiện hạch toán kinh doanh theo cơ chế thị trường, doanh nghiệp có tồn
tại và phát triển được hay không thì điều quyết định là doanh nghiệp có tạo ra được lợi
nhuận hay không? Vì thế lợi nhuận được coi là đòn bẩy kinh tế quan trọng đồng thời còn là
một chỉ tiêu cơ bản để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Lợi nhuận tác động đến tất cả mọi hoạt động của doanh nghiệp, có ảnh hưởng trực tiếp
đến tình hình tài chính của doanh nghiệp, việc thực hiện chỉ tiêu lợi nhuận là điều kiện quan
trọng đảm bảo cho tình hình tài chính của doanh nghiệp được vững chắc.
Đối với doanh nghiệp, thông thường lợi nhuận từ các hoạt động kinh doanh chiếm một
tỷ trọng chủ yếu trong tổng lợi nhuận, do dó đây cũng chính là trọng tâm của công tác quản
lý lợi nhuận ở doanh nghiệp. Đồng thời doanh nghiệp cũng cần phải khai thác tối đa các
khoản lợi nhuận tư hoạt động tài chính và hoạt động bất thường nhằm làm tăng tổng lợi
nhuận của doanh nghiệp, giúp cho doanh nghiệp hoạt động ngày càng có hiệu quả hơn .
1.1.3.3. Phương pháp xác định lợi nhuận của doanh nghiệp
Thông thường lợi nhuận cuả doanh nghiệp được xác định như sau :
= + +
Thứ nhất: Lợi nhuận hoạt động kinh doanh được xác định là khoản
chênh lệch giữa doanh thu hoạt động kinh doanh và chi phí hoạt động kinh
doanh.
10
SV: Trần Anh Tuấn Lớp: QTKD Quốc tế K45
10
Chuyên đề thực tập ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
= - - -
Thứ hai : Lợi nhuận hoạt động tài chính là số chênh lệch giữa thu nhập
hoạt động tài chính và chi phí hoạt động tài chính.
= - -
Thứ ba: Lợi nhuận từ hoạt động bất thường là khoản lợi nhuận không dự
tính hoặc những khoản thu mang tính chất không thường xuyên. Những
khoản lợi nhuận bất thường có thể do chủ quan hoặc khách quan mang lại.
= - -

tái sản xuất mở rộng. Do đó việc định ra một giá bán hợp lý là vấn đề luôn đặt
ra với các doanh nghiệp khi bước chân vào lĩnh vực kinh doanh.
1.1.4.2.2 Nhân tố số lượng sản phẩm hàng hoá tiêu thụ trong kỳ :
Số lượng sản phẩm tiêu thụ càng lớn thì doanh thu tiêu thụ càng cao, thi
đó nếu các nhân tố khác không thay đổi thì lợi nhuận trong kỳ sẽ tăng lên và
ngược lại. Việc tăng số lượng sản phẩm tiêu thụ lại tuỳ thuộc vào kết quả
công tác sản xuất trên cả các mặt khối lượng, chất lượng, chủng loại mặt hàng
và thời hạn. Do đó doanh nghiệp cần phải chuẩn bị tốt các yếu tố đầu vào của
quá trình sản xuất như nguyên vật liệu, nhân công, máy móc…Ngoài ra doanh
nghiệp còn phải có cách thức tổ chức bán hàng hợp lý, có các phương tiện vật
chất đảm bảo cho công tác bán hàng như hệ thống kho bãi, cửa hàng… đồng
thời có các chiến lược marketing sao cho phù hợp.
1.1.4.2.3 Nhân tố kết cấu mặt hàng tiêu thụ
Trong điều kiện hiện nay, sản xuất cái gì là do thị trường quyết định. Kết
cấu sản phẩm đưa ra tiêu thụ cũng ảnh hưởng rất lớn tới doanh thu tiêu thụ, từ
đó ảnh hưởng tới lợi nhuận tiêu thụ. Để nâng cao hiệu quả, các doanh nghiệp
thường có xu hướng đa dạng hoá sản phẩm sản xuất. Họ đưa ra thị trường
nhiều loại sản phẩm có mẫu mã, kiểu dáng, kích cỡ khác nhau, thậm chí còn
tung ra những sản phẩm có chất lượng khác nhau từ loại bình thường tới tốt
tuỳ vào túi tiền của khách hàng.
12
SV: Trần Anh Tuấn Lớp: QTKD Quốc tế K45
12
Chuyên đề thực tập ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
1.1.4.2.4. Nhân tố chất lượng sản phẩm hàng hoá dịch vụ tiêu thụ
Trong nền kinh tế thị trường, sản phẩm hàng hoá được cung cấp ngày
càng nhiều, nó tạo ra nhiều khả năng lựa chọn cho khách hàng. Điều này cũng
khiến doanh nghiệp phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt để tiêu thụ được
sản phẩm, góp phần tăng doanh thu tiêu thụ và lợi nhuận. Trong cuộc cạnh
tranh đó, để chiến thắng đòi hỏi doanh nghiệp phải nâng cao chất lượng sản

- Tỷ giá hối phiếu trả tiền ngay: là tỷ giá mua bán các loại hối phiếu
có kỳ hạn bằng ngoại tệ.
-Tỷ giá hối phiếu có kỳ hạn: là tỷ giá mua bán các loại hối phiếu trả
tiền ngay bằng ngoại tệ.
- Tỷ giá chuyển khoản: là tỷ giá mua bán ngoại hối bằng cách
chuyển khoản qua ngân hàng.
- Tỷ giá tiền mặt: là tỷ giá mua bán ngoại hối được thanh toán bằng
tiền mặt.
+ Căn cứ vào thời điểm mua bán vào ngoại hối, tỷ giá được chia ra 4
loại:
- Tỷ giá mở cửa: là tỷ giá mua bán ngoại hối của chuyến giao dịch ngoại hối
đầu tiên trong ngày.
- Tỷ giá đóng cửa: là tỷ giá mua bán ngoại hối của một chuyến giao dịch cuối
cùng trong ngày.
- Tỷ giá giao nhận ngay: Là tỷ giá mua bán ngoại hối mà việc giao nhận ngoại
hối sẽ được thực hiện chậm nhất sau hai ngày làm việc.
- Tỷ giá giao nhận có kỳ hạn :là tỷ giá mua bán ngoại hối mà việc giao nhận sẽ
được thực hiện theo thời gian nhất định ghi trong hợp đồng.
+ Căn cứ vào nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối của ngân hàng, tỷ giá
được chia làm hai loại :
- Tỷ giá mua : là tỷ giá của ngân hàng mua ngoại hối vào.
- Tỷ giá bán :là tỷ giá của ngân hàng bán ngoại hối ra.
14
SV: Trần Anh Tuấn Lớp: QTKD Quốc tế K45
14
Chuyên đề thực tập ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
+ Căn cứ vào chế độ quản lý ngoại hối: Tỷ giá hối đoái được chia ra 4
loại:
- Tỷ giá chính thức : là tỷ giá do nhà nước công bố được hình thành trên cơ sở
ngang giá vàng.

Ts là thuế tính theo đơn vị hàng hoá.
P1 là giá cả hàng hoá sau khi nhập khẩu.
Thuế quan tính theo giá trị hàng hoá là mức thuế tính theo tỷ lệ phần
trăm(%) của mức giá hàng hoá trả cho nhà xuất khẩu ngoại quốc:
P1= Po(1+ t)
Trong đó : P1: là giá cả hàng hoá sau khi nhập khẩu.
Po :là giá nhập khẩu.
t :là tỷ lệ phần trăm đánh vào giá hàng.
Như vậy thuế quan nhập khẩu tạo điều kiện cho các nhà sản xuất trong
nước mở rộng sản xuất, tạo thêm công ăn việc làm, tăng thêm nguồn thu cho
ngân sách, tăng cường khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong
nước.Chính vì vậy thuế quan nhập khẩu được áp dụng phổ biến ở mọi nước
tuy rằng mức thuế là khác nhau.Tuy nhiên kết quả kinh tế của thuế nhập khẩu
là nó làm cho giá trị hàng hoá trong nước cao vượt hơn mức gái nhập khẩu và
chính người tiêu dùng trong nước phải trang trải cho gánh nặng thuế quan
này.Điều đó đưa đến tình trạng giảm mức cầu của người tiêu dùng đối với
hàng nhập khẩu và làm cho hạn chế mức nhập khẩu.Đây là một khía cạnh
trong mục tiêu của chính sách thương mại nhưng đôi khi việc thực hiện mục
triêu này lại đi quá mức cần thiết.Đưa đến quá trình trao đổi thương mại quốc
tế, và ảnh hương tới các doanh nghiệp.Bởi vậy việc quy định thuế nhập khẩu
luôn luôn là một đề tài được quan tâm và doanh nghiệp cần nắm bắt và thích
ứng kịp thời với sự thay đổi của nhà nước.
Thuế quan nhập khẩu có vai trò rất quan trọng và đến nay nó vẫn được
sử dụng rrộng rãi nhất trong chính sách thương mại.Bởi vậy sự phân tích các
16
SV: Trần Anh Tuấn Lớp: QTKD Quốc tế K45
16
Chuyên đề thực tập ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
tác động của thuế quan nhập khẩu đến hoạt động đến thương mại quốc tế và
hoạt động kinh tế nói chung và hoạt động kinh tế nói riêng của các doanh

Mức độ bảo hộ thực tế là tỷ lệ % giữa thuế quan danh nghĩa với phần giá
trị gia tăng nội địa.Chính tỷ lệ này sẽ nâng cao thêm giá của một đơn vị sản
phẩm cuối cùng.Tỷ lệ này nói lên mức bảo hộ thực tế cao hay thấp cho các
nghành sản xuất trong nước.
Như vậy:
Mức độ bảo hộ thực tế =(Thuế quan danh nghĩa/giá trị gia tăng nội địa)x
100.
Mức bảo hộ thực tế (fi) thường tính theo công thức sau :
fi=( Vi’ – Vi)/Vi
hoặc : ti = (t-ai*ti)/(1- ai)
Trong đó : fi là mức độ bảo hộ thực tế trường hợp thứ i.
Vi’ :giá trị gia tăng trong ngành i khi áp dụng thuế nhập khẩu.
Vi) : giá trị gia tăng trong ngành i trong chế độ buôn bán tự do
( không có thuế quan).
t : tỷ lệ thuế quan danh nghĩa đối với sản phẩm cuối cùng.
ti: tỷ lệ thuế quan danh nghĩa đối với sản phẩm trung gian
trường hợp thứ i.
ai :tỷ lệ giữthuế quan giá trị sản phẩm trung gian với giá trị sản
phẩm cuối cùng khi không có thuế quan.
Thông thường mức độ bảo hộ cao hơn khi nhập khẩu từng linh kiện
đều cao hơn so với trường hợp nhập khẩu nguyên chiếc.Công ty cổ phần hỗ
trợ và phát triển công nghệ Detech áp dụng hình thức nhập khẩu các linh kiện
xe đap, xe máy để về sản xuất lắp ráp thành nguyên chiếc .
1.1.5.2.2.Hạn ngạch (Quota).
Hạn ngạch hay hạn chế số lượng ( Quota) đã trở nên ngày càng quan
trọng trong những năm gần đây, một công cụ phổ biến quan trọng trong
18
SV: Trần Anh Tuấn Lớp: QTKD Quốc tế K45
18
Chuyên đề thực tập ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

Chuyên đề thực tập ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
khẩu nên doanh nghiệp trong nước ưa thích nó hơn, còn người được hưởng
lợi nhiều nhất là doanh nghiệp chứ không phải là nhà nước.
1.1.5.2.3.Hạn chế xuất khẩu tự nguyện.
Đây là một hình thức của hàng rào mậu dịch phi thuế quan.Hạn chế xuất
khẩu tự nguyện là một biện pháp hạn chế xuất khẩu, mà theo đó, một quốc gia
nhập khẩu đòi hỏi quốc gia xuất khẩu phải hạn chế bớt lượng hàng xuất khẩu
sang nước mình một cách “ tự nguyện”, nếu không họ sẽ sử dung phương
pháp trả đũa kiên quyết.Chính vì vậy doanh nghiệp cần phải nghiên cứu kỹ
những mặt hàng của doanh nghiêp nhập khẩu có bị hạn chế không, và hạn chế
như thế nào để tìm ra những giải pháp kịp thời cho doanh nghiệp.
1.1.6. Các biện pháp để gia tăng lợi nhuận của hoạt động nhập khẩu.
Qua nghiên cứu, xem xét ảnh hưởng của các nhân tố tới lợi nhuận của
hoạt động nhập khẩu, ta có các biện pháp gia tăng lợi nhuận của doanh nghiệp
như sau:
1.1.6.1.Các biện pháp điều chỉnh tỷ giá.
a.chính sách chiết khấu.
Là chính sách của ngân hàng trung ương dùng cách thay đổi lãi xuất
chiết khấu để điều chỉnh Tỷ giá hối đoái trên thị trường.khi tỷ giá hối đoái
trên thị trường nâng cao đến mức báo động cần phải can thiệp thì ngân hàng
trung ương nâng cao lãi xuất chiết khấu. Khi lãi xuất chiết khấu tăng, lãi xuất
cho vay trên thị trường cũng tăng lên, kích thích nguồn vốn nước ngoài để thu
lãi cao, do đó tỷ giá hối đoái sẽ giảm xuống.Ngược lại khi ngân hàng trung
ương áp dụng lãi xuất chiết khấu thấp ,tỷ giá hối đoái sẽ tăng lên.
b.Phá giá tiền tệ.
Phá giá tiền tệ là việc hạ thấp sức mua của tiền tệ nước mình so với các
ngoại tệ hay là nâng cao tỷ giá hối đoái của một đơn vị ngoại tệ.Phá giá tiền tệ
có tác dụng đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá, hạn chế nhập khẩu hàng hoá.
20
SV: Trần Anh Tuấn Lớp: QTKD Quốc tế K45

21
SV: Trần Anh Tuấn Lớp: QTKD Quốc tế K45
21
Chuyên đề thực tập ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
khách hàng trên thị trường. Do đó công ty một mặt đào sâu khai thác, chiếm
lĩnh thị trường hiện có, đặc biệt là thị trường nội địa, mặt khác phải luôn
nghiên cứu khảo sát tìm kiếm những thị trường mới để đầu tư khai phá, qua
đó tạo động lực cho doanh nghiệp ngày càng mở rộng quy mô và phát triển
vững chắc lâu dài. Với suy nghĩ đó, Detech đó mở rộng hoạt động kinh doanh
rộng lớn nhằm khai thác hết tiềm năng sản xuất kinh doanh của công ty.
1.1.6.3. Mở rộng thị trường tăng doanh số bán hàng từ đó tăng lợi nhuận.
Thị trường là yếu tố quyết định đầu ra của doanh nghiệp và cũng chính
thị trường quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Một doanh
nghiệp nếu không tìm ra thị trường cho sản phẩm của mình thì không thể tồn
tại được. Tại thời điểm này Detech không nhanh chóng tìm kiếm thị trường
mới là nước ngoài mà tập trung phát triển nội địa, nếu không quyết tâm đầu tư
đổi mới công nghệ sản xuất để làm ra những sản phẩm chất lượng cao đáp
ứng yêu cầu cao hơn, đa dạng hơn của khách hàng thì sớm muộn Detech cũng
sẽ đi vào ngõ cụt và phá sản như nhiều doanh nghiệp chậm đổi mới
khác.Thấm thía sâu sắc bài học này, Detech một mặt đào sâu khai thác,chiếm
lĩnh thị trường nội địa, một mặt luôn nghiên cứu khảo sát thị trường mới để
đầu tư khai phá trong tương lai, qua đó tạo động lực cho doanh nghiệp mở
rộng quy mô và phát triển vững chắc lâu dài.
1.1.6.4.Sự can thiệp của chính phủ vào tỷ giá tác động đến thương mại
quốc tế.
Sự can thiệp của chính phủ nhằm khuyến khích xuất khẩu hoặc hạn chế
nhập khẩu .Để khuyến khích xuất khẩu, chính phủ có thể sử dụng biện pháp
trợ cấp xuất khẩu.Điều này chưa tác động trực tiếp đến công ty do công ty chỉ
nhập khẩu chứ chưa hoạt động kinh doanh theo hình thức xuất khẩu.Khi nhà
nước sử dụng chính sách hạn chế nhập khẩu sẽ làm tăng giá cả nhập khẩu và

- Căn cứ vào QĐ số 1459/2002/QĐ-KHCNQG ngày 22/10/2002 của
giám đốc trung tâm KHTN và CNQG về việc chuyển đổi công ty hỗ trợ phát
triển công nghệ thành công ty cổ phần và phát triển công nghệ.
23
SV: Trần Anh Tuấn Lớp: QTKD Quốc tế K45
23
Chuyên đề thực tập ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
Công ty cổ phần hỗ trợ phát triển công nghệ detech thuộc loại hình công
ty cổ phần hoạt dộng theo luật doanh nghiệp và các quy dịnh khác của nhà
nước.
Tên tiếng anh: Technology Development Suppỏting Join Stock
Company.
Tên goai dịch: Detech.JSC
Trụ sở chính: 47 Hoà Mã - quận Hai Bà Trưng - Hà Nội
Số điện thoại: 049781926 hoặc 049761731.
Số fax: 048212721 - 9781924
* Các bước phát triển của công ty.
Kể từ ngày thành lập đến nay công ty đã trải qua nhiều thăng trầm và
cùng đi lên với sự phát triển của đất nước. Ngay sau khi được thành lập công
ty đã tiến hành thành công các các hoat đông: Đại diện sở hữu trí tuệ,tư vấn
công nghệ và thiết kế đóng tàu cao tốc cũng như các phương tiện vận tải khác.
Năm 1993 Detech bắt đầu tiến hành lắp ráp xe may dạng: CKD.
Năm 1998 Detech đầu tư trang thiết bị hiện đại và công nghệ tiên tiến
xây dưng nhà máy sản xuất phụ tùng và lắp ráp xe máy công xuất 80000 đến
100000 chiếc trên/năm với các chủng loại xe từ 100 cc đến 150 cc.
Năm 1999:Detech triển khai sản xuất đông cơ xe gắn máy với công xuất
500000chiếc/năm.
Năm 2000:Tổng số lượng xe gắn máy detech bán ra trên toàn quốc đạt
50000 xe chiếm 3% lượng xe bán ra trên toàn quốc .
Năm 2005 :Detech đã xây dựng đượ mạng lưới bán hàng rộng khắp trên

up,xe suv và các loại xe chuyên dụng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước.
Năm 2005: Detech đã khẳng định được vị thế của doanh nghiệp có vị thế
trên thị trường Việt Nam qua hàng loạt các giải thưởng như:
- Cúp vàng tốp ten thương hiệu Việt.
- Cúp vàng cho sản phẩm uy tín năm 2005.
25
SV: Trần Anh Tuấn Lớp: QTKD Quốc tế K45
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status