BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP VIỆN
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA VIỆC TỰ HỌC
TIẾNG ANH CHUYÊN NGÀNH HƯỚNG DẪN DU LỊCH,
ĐÁP ỨNG YÊU CẦU VỀ TRÌNH ĐỘ NGOẠI NGỮ CỦA
KHÓA HỌC THỰC HÀNH NGHIỆP VỤ HƯỚNG DẪN DU
LỊCH TẠI KHOA DU LỊCH, VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
Mã số: V2015-10
Chủ nhiệm đề tài: ThS. Nguyễn Thị Thảo
Hà Nội, 11/2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP VIỆN
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA VIỆC TỰ HỌC
TIẾNG ANH CHUYÊN NGÀNH HƯỚNG DẪN DU LỊCH,
ĐÁP ỨNG YÊU CẦU VỀ TRÌNH ĐỘ NGOẠI NGỮ CỦA
KHÓA HỌC THỰC HÀNH NGHIỆP VỤ HƯỚNG DẪN DU
LỊCH TẠI KHOA DU LỊCH, VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
ThS. Ngô Thanh Hoa
ThS. Trần Thu Phương
ThS. Lưu Thùy Dương
MỤC LỤC
MỤC LỤC ............................................................................................................ i
DANH MỤC BẢNG – BIỂU ................................................................................ iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT .................................................................... v
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1
NỘI DUNG ............................................................................................................. 5
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN ............................................................................. 5
1.1 Tổng quan về tự học ....................................................................................... 5
1.1.1 Khái niệm tự học ...................................................................................... 5
1.1.2 Bản chất của việc tự học .......................................................................... 6
1.1.3 Vai trò của tự học trong đào tạo bậc đại học ............................................. 7
1.1.4 Vai trò của tự học trong đào tạo tín chỉ ở bậc đại học ............................... 8
1.1.5 Các nguyên tắc bảo đảm việc tự học ở bậc đại học ................................... 9
1.1.6 Các hình thức tự học .............................................................................. 11
1.1.7 Các kỹ năng tự học................................................................................. 12
1.1.8 Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình tự học........................................... 14
1.1.9 Đặc điểm tự học của sinh viên đại học ở Việt Nam ................................ 16
1.2. Tổng quan về tiếng Anh chuyên ngành hướng dẫn du lịch........................... 18
1.2.1 Khái niệm tiếng Anh chuyên ngành ....................................................... 18
1.2.2. Vai trò và ý nghĩa của dạy và học tiếng Anh chuyên ngành................... 19
1.2.3 Việc dạy và học tiếng Anh chuyên ngành............................................... 20
1.2.4 Tiếng Anh chuyên ngành Hướng dẫn du lịch ......................................... 21
1.3. Tổng quan về phân tích nhu cầu trong thiết kế nội dung tự học Tiếng Anh .. 22
1.3.1 Khái niệm .............................................................................................. 22
1.3.2 Cách tiếp cận phân tích nhu cầu trong thiết kế nội dung tự học .............. 23
3.3. Kết luận chương…………………………………………………………….56
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ............................................................................... 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................................... 60
PHỤ LỤC ................................................................................................................ I
ii
DANH MỤC BẢNG – BIỂU
Bảng 1 - Cấu trúc nội dung Tài liệu bổ trợ tiếng Anh STT……………………48
Bảng 2 - Thời gian biểu tự học…………………………………………………….56
Hình 1 - Sơ đồ phân tích nhu cầu của Potocar ............................................. 23
Biểu đồ 01 - Thói quen tự học tiếng Anh chuyên ngành ............................... 31
Biểu đồ 02 - Sử dụng Giáo trình tự học tiếng Anh chuyên ngành hướng dẫn của
Khoa ............................................................................................................ 31
Biểu đồ 03 - Sự hữu ích của Giáo trình tự học tiếng Anh chuyên ngành....... 32
hướng dẫn của Khoa với chương trình học STT ........................................... 32
Biểu đồ 04 - Mức độ hài lòng của sinh viên đối với Giáo trình tự học ......... 33
Biểu đồ 05- Mức độ yêu thích của sinh viên với những nội dung trong Giáo
trình tự học tiếng Anh chuyên ngành hướng dẫn của Khoa .......................... 33
Biểu đồ 06 - Khả năng tự quản lý khi tự học tiếng Anh chuyên ngành của sinh
viên .............................................................................................................. 34
Biểu đồ 07 - Mức độ mong muốn được hỗ trợ khi tự học tiếng Anh chuyên
ngành của sinh viên ..................................................................................... 35
Biểu đồ 08 – Mong muốn có thêm tài liệu bổ trợ cho Giáo trình tự học của
Khoa ............................................................................................................ 36
Biểu đồ 09 - Mong muốn được hỗ trợ quản lý việc tự học tiếng Anh chuyên
ngành ........................................................................................................... 36
Biểu đồ 10 - Đề xuất của sinh viên trong quản lý việc tự học tiếng Anh
Thạc sỹ
STT
Sustainable Tourism Training – Khóa thực hành nghiệp vụ hướng dẫn
du lịch
TSKH.
Tiến sỹ khoa học
PGS.
Phó giáo sư
TS.
Tiến sỹ
ESP
English for Specific Purposes – Tiếng Anh chuyên ngành
TEFL
Teaching English as a foreign language – Dạy tiếng Anh như là một
ngoại ngữ
LTE
tiếng Anh – yếu tố giúp tạo thương hiệu cơ sở đào tạo du lịch hàng đầu Việt Nam
của Khoa.
Tình hình hiện tại đòi hỏi sinh viên phải tự học tiếng Anh chuyên ngành du lịch.
Tuy nhiên sinh viên Khoa Du lịch cũng giống như sinh viên tại các trường đại học
khác vở Việt Nam đã số đều chưa có thói quen tự học tốt.
Tất cả các yếu tố trên khẳng định tính cấp thiết của việc đề ra các giải pháp phù hợp
nhằm nâng cao việc tự học tiếng Anh chuyên ngành hướng dẫn du lịch, đáp ứng yêu
cầu về trình độ tiếng Anh của sinh viên cho khóa học tiếng Anh chuyên ngành STT
tại Khoa Du lịch, Viện Đại học Mở Hà Nội. Vì vậy nhóm nghiên cứu thuộc Bộ môn
tiếng Anh, Khoa Du lịch, Viện Đại học Mở Hà Nội đã quyết định tiến hành nghiên
cứu: “Giải pháp nâng cao hiệu quả của việc tự học tiếng Anh chuyên ngành hướng
dẫn du lịch, đáp ứng yêu cầu về trình độ ngoại ngữ của khóa học thực hành nghiệp
vụ hướng dẫn du lịch tại Khoa Du lịch, Viện Đại học Mở Hà Nội”.
1
Mục tiêu của đề tài
Mục tiêu nghiên cứu được xác định như sau:
Tập hợp cơ sở lý luận về tự học ngoại ngữ và tiếng Anh chuyên ngành
hướng dẫn du lịch và phân tích nhu cầu trong thiết kế nội dung tự học;
Xác định cụ thể những tồn tại của việc tự học tiếng Anh chuyên ngành
hướng dẫn của sinh viên, ảnh hưởng của nó đến việc hoàn thành khóa học
STT cũng như nhu cầu được hỗ trợ của sinh viên với quá trình tự học;
Đề xuất các nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả của việc tự học tiếng Anh
chuyên ngành hướng dẫn, đáp ứng yêu cầu về trình độ ngoại ngữ của
khóa học kỹ năng chuyên ngành hướng dẫn STT.
Cách tiếp cận đề tài
Xét về mặt chức năng, đề tài sử dụng hướng tiếp cận nghiên cứu giải pháp (đưa ra
giải pháp để nâng cao hiệu quả của việc tự học). Tuy nhiên, đề tài cũng có áp dụng
nghiên cứu mô tả (môt tả hiện trạng tự học Tiếng Anh chuyên ngành của sinh viên),
Phương pháp phỏng vấn: Nhóm nghiên cứu tiến hành cách phương pháp phỏng vấn
như trò chuyện (với giáo viên và sinh viên), phỏng vẫn ngẫu nhiên và phỏng vấn
sâu.
Phương pháp chuyên gia
Nhóm sử dụng trí tuệ của đội ngũ chuyên gia gồm giáo viên chuyên môn và những
người làm trong ngành hướng dẫn để hiểu hơn về yêu cầu ngoại ngữ đối với môn
STT nói riêng và hướng dẫn viên nói chung.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài tập chung nghiên cứu đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả của việc tự học tiếng
3
Anh chuyên ngành hướng dẫn du lịch của sinh viên chuyên ngành hướng dẫn du
lịch nhằm bảo đảm trình độ ngoại ngữ để hoàn thành khóa học kỹ năng hướng dẫn
STT. Đề tài không nghiên cứu việc tự học tiếng Anh cơ bản hay giải pháp để nâng
cao năng lực tiếng Anh cơ bản hoặc tiếng Anh giao tiếp nói của sinh viên.
Nội dung nghiên cứu của đề tài
Ngoài các phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, mục lục, tài liệu tham khảo, phụ lục,
nội dung nghiên cứu của đề tài được thể hiện qua ba chương:
Chương 1 tổng hợp cơ sở lý luận về tự học, tự học tiếng Anh chuyên ngành hướng
dẫn du lịch và phân tích nhu cầu trong thiết kế nội dung tự học.
Chương 2 phân tích rõ tính cấp thiết của việc tự học tiếng Anh STT, những tồn tại
của việc tự học tiếng Anh STT và ảnh hưởng của nó đến việc bảo đảm năng lực
ngoại ngữ cho khóa học thực hành nghiệp vụ hướng dẫn du lịch STT và mong
muốn được hỗ trợ của sinh viên.
Chương 3 đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả của việc tự học tiếng Anh
chuyên ngành hướng dẫn du lịch nhằm đáp ứng yêu cầu về trình độ ngoại ngữ cho
khóa học kỹ năng hướng dẫn du lịch STT.
5
– GS. TSKH Nguyễn Cảnh Toàn trong cuốn “Quá trình dạy – tự học” (1997) và
“Học và dạy cách học” (2002) đã dày công nghiên cứu về tự học, “Tự học thường
được hiểu là học với sách, không có thầy bên cạnh. Nhưng hiểu như vậy là hơi hẹp.
Ngay cả khi có thầy bên cạnh, thì thầy cũng chỉ giảng giải, uốn nắn, chứ thầy đâu
có học hộ trò. Dạy, dù sao, cũng chỉ là ngoại lực tác động đến trò. Ngoại lực đó
phải có sự cộng hưởng của nội lực cố gắng của học trò. Sự cố gắng này mới đúng
là tự học”. Như vậy, tự học có thể xảy ra khi có thầy, có sách, cả khi không có thầy,
có sách.
– Theo GS. Đặng Vũ Hoạt và PGS. Hà Thị Đức trong cuốn “Lý luận dạy học đại
học” (2009) thì “Tự học là một hình thức tổ chức dạy học cơ bản ở đại học. Đó là
một hình thức nhận thức của cá nhân, nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kỹ năng
do chính người học tự tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp, theo hoặc không theo
chương trình và sách giáo khoa đã được qui định.”
Từ những quan điểm về tự học nêu trên, có thể đi đến định nghĩa về tự học như
sau: Tự học là quá trình cá nhân người học tự giác, tích cực chiếm lĩnh tri thức ở
một lĩnh vực nào đó trong cuộc sống bằng hành động của chính mình nhằm đạt
được mục đích nhất định.
1.1.2 Bản chất của việc tự học
Thực chất tự học là một quá trình học tập, một quá trình nhận thức không trực tiếp
có thầy giáo nên tất yếu đòi hỏi nỗ lực, tích cực hoá hoạt động nhận thức của người
học. Đó là “lao động khoa học”, vất vả hơn nhiều so với quá trình học có thầy bởi
vì người học phải tự xây dựng cho mình cách học và sử dụng hợp lý các điều kiện,
hình thức, phương tiện học tập để đạt được kết quả mong muốn. Có thể nói bản chất
của công việc tự học của sinh viên đại học là quá trình nhận thức một cách tự giác,
tích cực, tự lực không có sự tham gia hướng dẫn trực tiếp của giáo viên nhằm đạt
được mục đích, nhiệm vụ học tập. Tự học vừa mang ý nghĩa củng cố, trau dồi tri
thức vừa có ý nghĩa mở rộng hiểu biết.
trong tương lai. Chính trong quá trình tự học sinh viên đã từng bước biến vốn kinh
nghiệm của loài người thành vốn tri thức riêng của bản thân. Hoạt động tự học đã
7
tạo điều kiện cho sinh viên hiểu sâu tri thức, mở rộng kiến thức, củng cố ghi nhớ
vững chắc tri thức, biết vận dụng tri thức vào giải quyết các nhiệm vụ học tập mới.
Thứ hai, tự học không những giúp sinh viên không ngừng nâng cao chất lượng và
hiệu quả học tập khi còn ngồi trên ghế nhà trường mà còn giúp họ có được hứng
thú, thói quen và phương pháp để làm phong phú thêm, hoàn thiện thêm vốn hiểu
biết của mình, giúp họ tránh được sự lạc hậu trước sự biến đổi không ngừng của
khoa học và công nghệ trong thời đại ngày nay.
Thứ ba, tự học thường xuyên, tích cực, tự giác, độc lập không chỉ giúp sinh viên mở
rộng đào sâu kiến thức mà còn giúp sinh viên hình thành được những phẩm chất trí
tuệ và rèn luyện nhân cách của mình; tạo cho họ có nếp sống và làm việc khoa học,
rèn luyện ý chí phấn đấu, đức tính kiên trì, óc phê phán, hứng thú học tập và lòng
say mê nghiên cứu khoa học.
Thứ tư, trong quá trình học tập ở trường đại học, nếu bồi dưỡng được ý chí và năng
lực tự học cần thiết thì sẽ khơi dậy được ở sinh viên tiềm năng to lớn vốn có của họ,
tạo nên động lực nội sinh của quá trình học tập, vượt lên trên mọi khó khăn, trở ngại
bên ngoài. Khả năng tự học chính là nhân tố nội lực, nhân tố quyết định chất lượng
đào tạo.
Như vậy muốn nâng cao chất lượng học tập của sinh viên trong trường đại học,
chúng ta cần phải quan tâm đúng mức đến vị trí trung tâm của sinh viên trong hoạt
động học tập và nghiên cứu để làm sao khai thác triệt để những tiềm năng vốn có,
phát huy tính tự giác, tích cực sáng tạo, chủ động trong quá trình lĩnh hội tri thức
của sinh viên nhằm đào tạo nhân tài cho đất nước, đáp ứng nhu cầu của sự nghiệp
giáo dục.
1.1.4 Vai trò của tự học trong đào tạo tín chỉ ở bậc đại học
Trong đào tạo đại học theo phương thức tín chỉ, vấn đề tự học của sinh viên càng
tắc nhất định; việc tự học muốn bảo đảm tốt cần tuân thủ các nguyên tắc nhất định.
Trong nghiê cứu chuyên sâu về tổ chức việc tự học cho sinh viên đăng trên Tạp chí
Khoc học ĐHQGHN năm 2009, TS. Phan Bích Ngọc đã đưa ra các nguyên tắc sau:
Thứ nhất: bảo đảm tính tự giáo dục. Trong thực tế, quá trình giáo dục luôn chứa
9
đựng quá trình giáo dưỡng, do vậy mà trong công tác tự học của sinh viên, ngoài
việc tự củng cố những tri thức cũ, lĩnh hội tri thức mới, mở rộng hiểu biết, người
sinh viên từng bước tự hoàn thiện nhân cách của mình.
Thứ hai: bảo đảm tính khoa học. Bản thân quá trình tự học của sinh viên cũng là
một quá tình “lao động khoa học” hết sức khó khăn, do vậy, phải đòi hỏi có tính
khoa học. Việc bảo đảm tính khoa học trong công tác tự học sẽ đảm bảo được tính
tự giáo dục, kích thích hứng thú học tập dẫn đến kết quả học tập như mong muốn.
Thứ ba: đảm bảo “học đi đôi với hành”. Đây là một cặp phạm trù có quan hệ biện
chứng với nhau. Tự học không chỉ củng cố, mở rộng kiến thức thông thường mà
quan trọng hơn là đưa những kiến thức ấy vào cuộc sống, “cọ sát” với thực tế để
thu lượm được những kinh nghiệm thực tiễn sống động, bổ ích, từ đó giúp cho sinh
viên trong những điều kiện quen thuộc cũng như mới mẻ đều có thể vận dụng đúng
linh họat, sáng tạo những điều họ đã tự tiếp thu lĩnh hội được.
Thứ tư: đảm bảo tính tự giác, tích cực. Nguyên tắc này sẽ trực tiếp quyết định đến
kết quả học tập của sinh viên. Kế hoạch tự học có được thực hiện thường xuyên hay
không là do yếu tố tự giác, tích cực quyết định.
Thứ năm: đảm bảo nâng cao dần và củng cố kỹ năng, kỹ xảo. Quá trình tự học
không chỉ đơn thuần là quá trình tự hình thành tri thức mà nó còn là quá trình hoạt
động thực tiễn, nâng cao, củng cố kỹ năng, kỹ xảo.
Năm nguyên tắc cơ bản trên đảm bảo hiệu quả cho quá trình tự học của học sinh,
sinh viên. Năm nguyên tắc này có quan hệ gắn bó với nhau, nguyên tắc này hỗ trợ
cho nguyên tắc kia và đều nhằm mục đích bảo đảm tính tự giáo dục, tự đào tạo
theo mục tiêu giáo dục của trường đại học. Trong thực tiễn tự học của bản thân,
Ngoại lực – Ngoại lực dù quan trọng đến mấy cũng chỉ là chất xúc tác thúc đẩy Nội
lực phát triển.
Trong quá trình tự học ở nhà, tuy người học không giáp mặt với thầy, nhưng dưới
sự hướng dẫn gián tiếp của thầy, người học phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ
động tự sắp xếp kế hoạch huy động mọi trí tuệ và kỹ năng của bản thân để hoàn
11
những yêu cầu do giáo viên đề ra. Tự học của người học theo hình thức này liên
quan trực tiếp với yêu cầu của giáo viên, được giáo viên định hướng về nội dung,
phương pháp tự học để người học thực hiện. Như vậy ở hình thức tự học thứ ba này
quá trình tự học của sinh viên có liên quan chặt chẽ với quá trình dạy học, chịu sự
tác động của nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố tổ chức và quản lý quá trình dạy học
của giáo viên và quá trình tự học của sinh viên.
Như vậy, hoạt động tự học của sinh viên có thể diễn ra ở mọi lúc mọi nơi. Cứ khi
nào sinh viên huy động mọi khả năng nhận thức hiện có của mình, tiến hành các
hoạt động tìm tòi, khám phá tự giác là khi đó họ đang tiến hành tự học.
1.1.7 Các kỹ năng tự học
Để hoạt động tự học được diễn ra hiệu quả, người học cần có các kỹ năng tự học
phù hợp. PGS. TS. Nguyễn Công Khanh (2007) khi nghiên cứu về phong cách học
của sinh viên đã nêu ra những vấn đề cần xem xét liên quan đến kỹ năng tự học của
sinh viên cụ thể như sau:
Xây dựng kế hoạch tự học
Là lên danh mục các nội dung cần tự học, khối lượng và yêu cầu cần đạt được, các
hoạt động cần phải tiến hành, sản phẩm cụ thể cần phải được tạo ra, thời gian dành
cho mỗi nội dung và hoạt động. Kế hoạch tự học phải đảm bảo tính khoa học, tính
vừa sức, và tính khả thi. Xây dựng được bản kế hoạch tự học hợp lý là kĩ năng quan
trọng đầu tiên đối với mỗi sinh viên.
Lựa chọn tài liệu
Việc lựa chọn tài liệu tự học là hết sức quan trọng trong tình hình đa dạng và phong
quá trình bổ sung, mở rộng, đào sâu, làm giàu tri thức cá nhân.
Trao đổi và phổ biến thông tin
Các kiến thức có được ở mỗi sinh viên nếu được trao đổi với bạn học hoặc thông tin
đến các đối tượng có nhu cầu càng tăng thêm ý nghĩa thực tế, đồng thời việc làm đó
có tác dụng tích cực đối với việc nắm tri thức của bản thân.
13
Tự kiểm tra, đánh giá
Tự kiểm tra, đánh giá là một kỹ năng quan trọng trong tự học, vì làm được điều này,
người học mới biết được trình độ tự học của mình đạt được mức độ nào và xác định
điều chỉnh phương pháp tự học thích hợp, cho hiệu quả cao hơn. Việc kiểm tra phải
được tiến hành thường xuyên trong quá trình tự học, dưới nhiều hình thức, như: tự
trắc nghiệm bằng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan; trắc nghiệm tự luận,
hoặc tự kiểm tra qua việc vận dụng kiến thức để làm các bài tập, thực hành, giải
quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra, v.v. Kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá liên quan đến
việc xây dựng các tiêu chí và chọn công cụ kiểm tra, đánh giá.
1.1.8 Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình tự học
Có nhiều nhân tố có thể tác động đến qua trình tự học, nhưng tổng hợp lại có 2
nhóm: Nhóm nhân tố bên trong người học và Nhóm nhân tố bên ngoài (Rubanki:
2004)
Nhóm nhân tố bên trong người học
– Khả năng tự học: Trong các nhân tố bên trong ảnh hưởng đến quá trình tự học,
khả năng tự học của bản thân người học là quan trọng nhất, vì người học là chủ thể
chiếm lĩnh tri thức, chân lý bằng hành động của chính mình. Với khả năng tự học
tốt, người học luôn là chủ thể trung tâm, tự mình tìm ra tri thức bằng hành động của
chính mình.
– Động cơ, hứng thú học tập. Động cơ thúc đẩy người học hăng hái học tập, tư
duy. Cái háo hức có thể nằm ngoài kiến thức như lòng mong muốn đỗ đạt nhưng
– Thời gian: Trong quá trình học tập sinh viên phải học nhiều môn. Mỗi môn có
vị trí, tính chất, nội dung, khối lượng thông tin khác nhau. Ngoài thời gian lên lớp
mỗi ngày và phục vụ cho nhu cầu riêng, sinh viên còn tham gia các hoạt động đoàn
thể: văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, v.v.; một số sinh viên còn đi học thêm, làm
thêm. Vì vậy, để học tốt, sinh viên phải biết phân phối thời gian hợp lý cho từng
công việc.
Hai nhóm nhân tố trên có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, hỗ trợ, bổ sung
cho nhau tạo điều kiện để hoạt động tự học đạt chất lượng cao.
15
1.1.9 Đặc điểm tự học của sinh viên đại học ở Việt Nam
Học đại học là đi sâu vào một chuyên ngành để chuẩn bị cho một nghề trong tương
lai. Do đó, sinh viên phải tự trang bị cho mình những hiểu biết cơ bản, vững vàng
về nghề đó, đồng thời phải có nhiều hiểu biết khác nữa theo yêu cầu của cuộc sống.
Giờ đây, công việc tự học của sinh viên trở nên rất quan trọng, rất nặng nề, nó trở
thành một bộ phận cấu thành của giáo dục đại học. Sinh viên tự đề ra kế hoạch và tự
thực hiện kế hoạch. Các bài kiểm tra chính là kết quả học tập và nghiên cứu của
sinh viên. Có nhiều sinh viên cho biết rằng 50% kiến thức là do tự học. Việc tự học
của sinh viên đại học còn có một đặc điểm: hoạt động tự học diễn ra liên tục, trong
một phạm vi lớn nhằm lĩnh hội rất nhiều tri thức. Thêm vào đó, việc tự học của sinh
viên đại học là sự nỗ lực cao, tính tự giác cao hơn học sinh phổ thông; sinh viên
thực sự làm chủ thời gian, phương pháp phải quan tâm đến chất lượng tự học của
bản thân để từ đó có phương hướng nâng cao kỹ năng nghề nghiệp cho mình, chuẩn
bị cho ngày mai lập nghiệp bằng sự tự tin tuyệt đối.
Tự học ở nhà là một nhân tố quan trọng đối với quá trình lĩnh hội tri thức. Tự học ở
nhà chính là lần thứ hai lĩnh hội tri thức, đó là lĩnh hội bằng sự tái tạo lại của bản
thân sinh viên. Bước tái tạo này giúp sinh viên nắm chắc hơn điều đã được học,
hoàn thành những chỗ khó, hệ thống hoá lại bài học trên lớp, nhờ đó tránh được
“học vẹt”, học mà không hiểu. Trong thực tế, việc học ở nhà còn giúp sinh viên mở
căn bệnh cố hữu có nguồn gốc từ nhà trường phổ thông và chắc chắn rằng sản
phẩm của cách học thụ động này là những con người thụ động không có khả năng
nghiên cứu sáng tạo.
Như vậy, thực tế việc bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu cho sinh viên ở các
trường đại học ở nước ta hiện nay còn nhiều bất cập. Báo cáo của Ủy ban văn hóa,
Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội đã nêu: “Chất lượng
giáo dục nhìn chung còn yếu kém, bất cập; lối học khoa cử vẫn còn nặng nề, giáo
dục chỉ chú ý đến truyền đạt kiến thức, nhằm ứng phó với các kỳ thi, chưa chú trọng
đến việc xây dựng tư duy sáng tạo, tự học, tự nghiên cứu…”.
Tự học, tự nghiên cứu là kỹ năng hết sức cần thiết đối với sinh viên. Việc rèn luyện
kỹ năng tự học, tự nghiên cứu cho sinh viên cần phải là một trong những ưu tiên
hàng đầu của giáo dục đại học.
17