TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH sử
===£T)lGŨ!lGa===
CẤN THỊ LAN HƯƠNG
THIẾT KÉ VÀ SỬ DUNG PHIÉU HOC TÂP
• • •
TRONG DAY HOC LICH sử Ở TRƯỜNG
• • •
THPT DựA TRÊN PHONG CÁCH HỌC TẬP
CỦA HỌC SINH
(ÁP DỤNG PHÂN LỊCH sử THẾ GIỚI CẬN ĐẠI - SGK LỊCH sử
LỚP 10, CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học Lịch
sử
Người hướng dẫn khoa học
HÀ NỘI - 2016
LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới ThS Ninh Thị Hạnh đã nhiệt tình
hướng dẫn, giúp đỡ, chỉ bảo và tạo điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình em thực
hiện khóa luận này.
Phong cách học tập
SGK
Sách giáo khoa
DHLS
Dạy học Lịch sử
THPT
Trung học phổ thông
pp
Phương pháp
MỤC LỤC
CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ VÀ sử DỤNG PHIẾU HỌC TẬP TRONG DHLS Ở
TRƯỜNG THPT DựA TRÊN PHONG CÁCH HỌC TẬP CỦA
PHỤ LỤC 1 PHIẾU THĂM DÒ Ý KIẾN GIÁO VIÊN PHỤ
LỤC 2 PHIẾU THĂM DÒ Ý KIẾN HỌC SINH PHỤ LỤC 3
GIÁO ÁN THựC NGHIỆM PHỤ LỤC 4 GIÁO ÁN ĐỐI
CHỨNG
PHỤ LỤC 5 PHIẾU PHẢN HỒI Ý KIẾN HỌC SINH SAU GIỜ HỌC THỰC
NGHIỆM
có hạn làm HS khó hiểu, khó tiếp thu kiến thức. Những điều này dẫn đến hiệu quả
giảng dạy chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu mục tiêu của vấn đề đổi mới PPDH
hiện nay.
Trong chương trình Lịch sử lớp 10 ở bậc THPT, đặc biệt là phần Lịch sử thế
giới cận đại có nội dung tương đối khó với nhiều mốc thời gian, khái niệm và vấn đề
lịch sử quan trọng. Nếu các giờ dạy vẫn được tiến hành đồng loạt, áp dụng nhu nhau
cho mọi đối tượng HS thì sẽ có nhiều HS yếu, kém không nắm được kiến thức và kỹ
năng cơ bản. Chính vì vậy, để giúp HS tìm hiểu nội dung kiến thức này, GV cần cung
cấp những công cụ hướng dẫn HS nhằm nâng cao chất lượng DH.
Bên cạnh đó, khi đứng trước một tình huống học tập, mỗi HS đều có PCHT
riêng biệt nhằm tiếp thu kiến thức một cách tốt nhất. PCHT ảnh hưởng rất lớn đến hiệu
quả học tập và thảnh công của mỗi cá nhân. Hiểu rõ về phong cách của HS, GV có thể
chủ động về chuyên môn và lựa chọn được PPDH phù hợp nhằm giúp HS tiếp cận với
những thông tin, kiến thức một cách dễ dàng hơn, đáp ứng nhu cầu, sở thích, năng lực
và kinh nghiệm của các em. Thiết kế và sử dụng PHT dựa trên PCHT của HS là một
con đường, một cách có thể khắc phục những hạn ché này.
Xuất phát từ những lí do trên, cùng với nhu cầu bản thân muốn trang bị
cho mình kĩ năng thiết ké và sử dụng PHT vào dạy học môn Lịch sử lớp 10 THPT
nên chúng tôi chọn đề tài “Thiết kế và sử dụng phiếu học tập trong DHLS ở trường
THPT dựa trên phong cách học tập của học sinh (Ảp dụng phần Lịch sử thế giới
cận đại - SGKLịch sử lớp 10, chương trình Chuẩn)”.
2. LỊCH SỬ NGHIÊN cứu VẤN ĐỀ
Xung quanh vấn đề đổi mới PPDH Lịch sử và thiết kế công cụ hồ trợ hướng
HS học tập trong môn Lịch sử ở trường THPT đã được rất nhiều nhà nghiên cứu quan
tâm và trình bày trong các công trình nghiên cứu của mình.
Thứ nhất sách chuyên khảo về PPDH Lịch sử.
Các giáo trình về PPDH Lịch sử như: “Phương pháp dạy học lịch sử phần đại
cương”, tập 2 của các tác giả Phan Ngọc Liên, Trần Văn Trị chủ biên (NXB Giáo dục
PHT có thể thực hiện tốt nhiệm vụ này.
Cuốn sách có nhan đề “Frames of Mind” (tạm dịch “Cơ cẩu của trí tuệ”) của
tiến sĩ Howard Gardner - một nhà tâm lý học nổi tiếng của Đại học Harvard đã công
bố các nghiên cứu của mình về sự đa dạng của trí thông minh. Lý thuyết của Gardner
đã chỉ ra rằng: mỗi con người chúng ta đều tồn tại một vài kiểu thông minh tuy nhiên
sẽ có kiểu thông minh trội hơn trong mỗi người... Trường học đã bỏ rơi các em có
thiên hướng học tập thông qua vận động, thị giác... đồng thời lèo lái tất cả mọi HS
đi theo cùng một con đường. Nhiều HS đã có thể học tập tốt hơn nếu chúng được
tiếp thu kiến thức bằng chỉnh thế mạnh của mình. Thuyết đa trí tuệ đã mang lại một
cái nhìn nhân bản và cần thiết nhằm kêu gọi GV tôn trọng sự đa dạng về trí tuệ ở
mỗi HS. GV phải là người giúp đỡ, khơi gợi tiềm năng, tạo điều kiện học tập theo
các hướng khác nhau ở HS.
Theo cuốn "Phương pháp giáo dục cho người học đa trình độ” của tác giả
Dunn có nói: cách thức mỗi cá nhân tập trung và ghi nhớ những thông tin mới và
khó liên quan tới quá trình nhận thức của họ. Một số HS học dễ dàng hơn khi những
thông tin được trình bày theo từng bước trong một sơ đồ liên tục. Những người khác
học dễ dàng hơn cả khỉ học hiểu khái niệm sau đó tập trung vào chỉ tiết. Hay như
cuốn “Các phong cách học tập: trí tuệ đa phương tiện ” của Miller đã đề cập đến
cách phân loại PCHT dựa vào bán càu não trái và bán càu não phải. Điều này ảnh
hưởng rất lớn đến xu hướng học tập của HS. Như vậy, các tác giả đã chỉ ra rằng mỗi
cá nhân đều có PCHT riêng biệt nhằm tiếp thu kiến thức một cách tốt nhất. Hiểu rõ
về phong cách của người học, người dạy có thể điều chỉnh pp giảng dạy nhằm tận
dụng tốt nhất tình huống đang diễn ra để giúp người học tiếp nhận thông tin, kiến
thức mới một cách dễ dàng hơn.
Các công trình nghiên cứu trên là những gợi mở quý báu về mặt lí luận giúp
chúng tôi tìm được hướng giải quyết các nhiệm vụ của khóa luận.
Thứ hai một sổ công trình khoa học khác có cùng hướng nghiên cửu Trong
luận văn thạc sỹ khoa học giáo dục của tác giả Đồ Thị Hồng Hạnh với đề tài “Thiết kế
Trịnh Đình Tùng trên tạp chí nghiên cứu lịch sử số 5/1991, " về biện pháp nâng cao
chẩt lượng dạy học lịch sử” của PGS Trịnh Đình Tùng đăng trên tạp chí nghiên cứu
giáo dục số 5/1994, " Hướng dẫn làm bài tập lịch sử” của tác giả Nguyễn Thị Côi và
Phan Thị Kim Anh trên tạp chí nghiên cứu giáo dục số 6/1994... đã đi sâu vào các vấn
đề khác nhau của PPDH Lịch sử nói chung và vấn đề công cụ hỗ trợ trong DHLS nói
riêng mà cụ thể là PHT.
Cụ thể hơn trong bài viết “Phiếu học tập - phương pháp dạy học cỏ sử dụng
phiếu học tập” của tác giả Nguyễn Thị Dung được đăng trên thông tin khoa học giáo
dục số 45/1994;"Phương pháp sử dụng phiếu học tập trong dạy học Địa lỉ lớp 10
nhằm phát huy tỉnh tích cực và độc lập của học sinh” của tác giả Đậu Thị Hòa, Tạp
chỉ giáo dục số 195/2008, cho biết: Phiếu học tập là công cụ để GV tổ chức hoạt động
khai thác và lĩnh hội kiến thức theo hướng định trước của GV.
Ngoài ra, trong bài viết “Mỗi người một kiểu học” ịBản tin đại học Quốc gia
Hà Nội, số 216/2009) PGS.TS Nguyễn Công Khanh đã đòi hỏi GV bằng các chiến
lược dạy và học tích cực như sử dụng PHT dựa trên PCHT của người học, học thông
qua hành động, học qua trải nghiệm, tìm cách đặt ra cho người học những nhiệm vụ
phải giải quyết để các em suy nghĩ, tìm lý thuyết, pp phù hợp... Có như vậy, người học
mới có nhiều cơ hội để phát triển các chiến lược học hiệu quả tạo thành PCHT tích
cực.
Bài viết của Ths.Nguyễn Thị Đỗ Quyên trong Lý thuyết phong cách học tập và
khả năng ứng dụng và dạy học (Bản tin khoa học, cao đẳng Thương Mại, 23/9/2009)
đã chỉ ra những đặc điểm cốt lõi của PCHT. Và đây cũng là cơ sở lí luận quan trọng để
GV đổi mới pp giảng dạy theo hướng tích cực hóa người học thông qua các mô hình
PCHT phù hợp với đặc điểm môn học và giúp HS ý thức rõ hơn về PCHT ưu thế của
bản thân để có pp tự học phát huy và hạn ché tối đa các ưu khuyết điểm trong thói
quen học tập. Đây là các nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho đề tài.
Tóm lại các công trình nghiên cứu kể trên đã đề cập đến yêu cầu cần có sự hồ
trợ tích cực của các phương tiện, công cụ trong DHLS để giờ học Lịch sử có hiệu quả
Quá trình DHLS ở truờng THPT với việc sử dụng PHT dựa trên PCHT của
HS.
5.2.
Phạm vỉ nghiên cứu
- Nội dung: nghiên cứu việc sử dụng PHT nhằm sử dụng có hiệu quả dựa trên
PCHT của HS trong phần Lịch sử thế giới cận đại (SGK Lịch sử lớp 10, chuông trình
Chuẩn).
- về phạm vi điều tra, khảo sát thực trạng và thực nghiệm:
+ THPT Tùng Thiện (Hà Nội)
+ THPT Thạch Thất (Hà Nội)
+ THPT Hung Nhân (Thái Bình)
+ THPT Tiên Hưng (Thái Bình)
6. GIẢ THUYẾT NGHIÊN cứu
Nếu vận dụng được cách thức thiết kế và sử dụng dựa trên PCHT của HS một
cách hợp lí sẽ góp phàn nâng cao chất lượng DHLS nói chung và phàn Lịch sử thế
giới cận đại (SGK Lịch sử lớp 10, chương trình Chuẩn) nói riêng.
7. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu
Sử dụng két hợp các nhóm phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hóa... tài liệu có liên quan.
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
+ Tìm hiểu, quan sát quá trình dạy và học môn Lịch sử ở trường phổ thông.
+ Điều tra, phỏng vấn, trao đổi, hỏi ý kiến của các GV trường THPT.
+ Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
+ Phương pháp chuyên gia: tham khảo, tiếp thu ý kiến đóng góp của các
Khái niệm
PHT là công cụ quen thuộc hồ trợ người GV trong dạy học nói chung và
DHLS nói riêng. Có nhiều quan niệm giải thích về nội dung của khái niệm PHT. Tuy
nhiên hầu hết các nhà nghiên cứu đều thống nhất với cách hiểu cơ bản sau:
Thứ nhất, trong Từ điển Tiếng Việt, Hoàng Phê định nghĩa:
Phiếu là tờ giấy rời có cỡ nhất định, ghi chép những nội dung nhất định nhằm
để phân loại, sắp xếp theo một hệ thống nào đó, ghi nhận một quyền lợi của người sử
dụng [39, tr 780].
Học tập là học và luyện tập để hiểu biết, để có kĩ năng [39, tr.454].
Kết hợp cách giải nghĩa từ phiếu và từ học tập, ta có thể khái quát: Phiếu học
tập là những tờ giấy rời in sẵn những nội dung, nhiệm vụ học tập.
Thứ hai, một số quan điểm về PHT của các nhóm tác giả:
Nhà nghiên cứu Đậu Thị Hòa và tác giả Đồ Thị Hồng Hạnh đều thống nhất với
ý kiến :
Phiếu học tập là những thông tin bằng giấy hoặc dạng giấy do giáo viên thiết
kế, gồm một hoặc một số tờ có vai trò học liệu để bổ sung cho sách và tài liệu giáo
khoa quy định, có chức năng hỗ trợ giảng dạy, vừa như là công cụ hoạt động, vừa tạo
điều kiện cho hoạt động của người học và người dạy mà trước hết như một nguồn
thông tin học tập [20, tr.22]. Trong mồi PHT giao cho HS là những nhiệm vụ nhận
thức cụ thể nhằm dẫn dắt tới một kiến thức, tập dượt một kỹ năng, rèn luyện một thao
tác tư duy hoặc thăm dò một thái độ của HS trước một vấn đề.
Theo nhóm tác giả Nguyễn Thành Đạt, Nguyễn Đức Thành, Nguyễn Xuân Viết
trong tài liệu bồi dưỡng thường xuyên giáo viên THPT chu kì III 2004- 2007 lại cho
rằng: Phiếu học tập là những tờ giấy rời in sẵn những công tác độc lập, được phát
cho từng học sinh, nhóm học sinh, tự lực hoàn thành trong một thời gian ngắn của tiết
học [tr 45]. Cách quan niệm tương đối khái quát nhưng tác giả chỉ giới hạn phạm vi sử
dụng của PHT là ở trên lớp học.
học, nó cũng có thể là những thông tin ngoài bài học nhằm bổ sung thêm kiến thức càn
thiết cho HS. Tiếp xúc với PHT là HS được tiếp xúc với một một kênh thông tin khác
do GV tạo ra nhằm hướng HS đến những yêu cầu nhất định.
Ví dụ: Một bài giới thiệu về nhân vật G. Oa-sinh-tơn mà GV tìm trong các
nguồn tài liệu hay một số hình ảnh ngoài SGK nói về thành tựu của cuộc cách mạng
công nghiệp ở châu Âu. GV yêu càu HS đọc những thông tin đã cho và hoàn thành
yêu cầu : Em hãy trình bày một vài nét ngắn gọn về G. Oa-sinh-tơn hoặc Trình bày
những thành tựu tiêu biểu của cuộc cách mạng công nghiệp ở châu Âu.
Thứ hai ỉà công cụ để GV và HS giao tiếp trong học tập.
Hoạt động DH là hoạt động giao tiếp giữa GV và HS. GV và HS có thể sử
dụng nhiều phương tiện để giao tiếp, trong đó PHT là một công cụ hữu hiệu. Thông
qua những tờ giấy rời phát đến tận tay từng HS thì GV sẽ giao tiếp với HS, nắm bắt
được tâm tư nguyện vọng cũng như khả năng của học trò. Thông qua đó mà không khí
lớp học sẽ sinh động hơn chứ không đơn điệu ở hình thức thầy đặt câu hỏi - trò nghe
và trả lời. Mặt khác, qua PHT với pp học tập trao đổi và hợp tác, HS có thể trao đổi
với nhau, giao lưu kiến thức với nhau, chỉnh sửa kiến thức cho nhau để quá trình khám
phá tri thức được thực hiện một cách hiệu quả.
Ví dụ: Khi dạy nội dung Cách mạng công nghiệp ở Anh trong bài Cách mạng
công nghiệp ở châu Âu. GV thiết kế một PHT cho HS hoạt động nhóm với nhiệm vụ
là thống kê các thành tựu của cuộc các mạng công nghiệp trên các lĩnh vực khác nhau:
công nghiệp dệt, máy móc và giao thông vận tải. HS mồi nhóm làm về một thành tựu
và trình bày, các nhóm khác theo dõi, trao đổi, đặt câu hỏi dưới sự hướng dẫn của GV.
Sau đó cả lớp thống nhất ghi vào phần nội dung trống trong phiếu.
Như vậy, thông qua các hoạt động học tập được tổ chức ở lớp, GV có thể nắm
bắt được khả năng nhận thức và diễn đạt của HS, tâm tư nguyện vọng của HS. Mặt
khác, khi cho HS hoạt động hợp tác, trao đổi với nhau thông qua PHT các em có thể
mở rộng, giao lưu kiến thức. Từ đó, HS sẽ trưởng thành hơn thông qua hoạt động giao
tiếp này.
bị bài tốt hơn.
- Căn cứ vào nội dung của phiếu học tập cỏ các dạng phiếu sau:
+ Yêu cầu giải quyết vấn đề: phiếu đặt ra một nhiệm vụ học tập cụ thể nào đó
mà HS phải giải quyết trong một thời gian nhất định.
+ Yêu cầu trả lời câu hỏi: phiếu ghi những câu hỏi mà HS phải trả lời.
+ Yêu cầu rèn luyện kĩ năng: phiếu yêu cầu HS phải thực hiện một hoặc một
vài kĩ năng nhất định.
Ở đây, trong đề tài, chúng tôi sử dụng cách phân loại PHT căn cứ vào mục
đích sử dụng.
1.1.1.4.
Cẩu trúc
PHT được thiết kế dưới dạng tờ giấy rời, tuỳ thuộc vào từng loại phiếu, nội
dung bài học và mục đích sử dụng của GV. Tuy nhiên cấu trúc của phiếu gồm các nội
dung cơ bản sau:
-
Thông tin chung: thông tin chung của HS (họ và tên, lớp, trường)
- Nhiệm vụ cần thực hiện: Tuỳ thuộc vào nội dung bài học, đối tượng HS và
mục đích sử dụng mà GV sẽ đưa ra nhiệm vụ cho HS.
- Phần để HS thực hiện nhiệm vụ: được GV thiết kế dưới nhiều hình thức, tuỳ
thuộc vào mục đích sử dụng của phiếu.
- Thời gian hoàn thành: Các thao tác nêu trên phải thực hiện trong khoảng
thời gian nhất định. Tùy khối lượng công việc, nội dung bài học và thời gian quy định
của tiết học mà GV đưa ra mức thời gian cho hợp lí.
Có thể tham khảo mô hình cấu trúc PHT dưới đây:
Khái niệm
PCHT được dịch từ thuật ngữ tiếng Anh “Learning Styte ”, là một lý thuyết học tập hiện đại đang được quan tâm hiện
nay. Trên thế giới có hàng trăm mô hình PCHT khác nhau, mồi tác giả của mồi mô hình khi xây dựng lý thuyết của mình lại
đưa ra một định nghĩa riêng cho PCHT.
Thử nhất, theo các tác giả nước ngoài
Rita Dunn (1960) đưa ra định nghĩa về PCHT như sau: PCHT như là cách thức mỗi người bắt đầu chủ ỷ, xử lỷ, thu
nhận và tái hiện nội dung kiến thức mới.
Keefe (1979) quan niệm: PCHT ỉà những đặc trưng về mặt nhận thức, tính hiệu quả và các hành vi tâm lỷ học cỏ liên
quan, mang tính ổn định, chỉ dẫn cho người học cách tiếp nhận thông tin, tương tác với thông tin và phản ủng lại môi trường
học tập (F.Romaneli, 2009).
Reid (1995) thì cho rang: PCHT là những cách thức ưu thế có tinh chat tự nhiên, thói quen của cá nhân khỉ tiếp nhận,
xử lỷ và lưu giữ thông tin, kĩ năng mới (Casidy, 2004).
Casidy lại cho rằng: PCHT là các đặc điểm tâm lý của con người tương đổi bền vững, nhưng ở vài khía cạnh nào đỏ
PCHT cỏ thể thay đổi để đáp ứng kinh nghiệm và đòi hỏi của các tình huống khác nhau (Casidy, 2004).
Thử hai, theo quan điểm của các tác giả Việt Nam
PGS. TS Nguyễn Công Khanh trong bài viết Mỗi người một kiểu học (Bản tin Đại Học Quốc Gia Hà Nội, sổ 216, tr 56
- 57, năm 2009) cho rằng: “Phong cách học tập là một cẩu trúc phức hợp đa mặt, đa thành tổ. Đó là tổ hợp những phẩm chất/
nét cá nhân, năng lực/ kỹ năng thể hiện được cái riêng có tính ổn định về các chiến lược học, thái độ, động cơ, hứng thú học,
phương pháp giảng dạy được ưa thích của người học nhằm đáp ứng các nhiệm vụ nhận thức, tương tác và thỏa mãn các yêu
cầu của môi trường học tập ”.
Trong Lý thuyết phong cách học tập và khả năng ứng dụng vào dạy học (Bản tin khoa học, cao đẳng Thương Mại,
23/9/2009) Ths. Nguyễn Thị Đỗ Quyên cũng đưa ra khái niệm về phong cách học tập như sau: “Phong cách học tập là những
đặc điểm tâm lỷ ưu thế, tương đổi bền vững của cá nhân, quy định cách tiếp nhận và xử lý và lưu giữ thông tin trong môi
trường học tập ”.
Cũng bàn về PCHT, tác giả Nguyễn Thế Lộc trong Dạy theo phong cách học cTạp chí phát triển và hội nhập, so 7,
tháng 10/2010) lại đưa ra quan điểm: “Phong cách học tập có thể xem là các phương pháp học tập riêng biệt mà mỗi cá nhân
mô hình VARK: Visual - Auditory - Reading and Writing - Kinesthetic (Quan sát - Lắng nghe - Ghi chép - Hành động). Tiêu
biểu nhất phải kể đến mô hình VAK của Neil Fleming (Đại học Lincoln, New Zealand) là một trong những mô hình được biết
đến rộng rãi và được ứng dụng nhiều nhất trên thế giới. Trong phạm vi khóa luận, chúng tôi sử dụng cách phân loại PCHT theo
3 giác quan: thị giác, thính giác và vận động (VAK).
Từ năm 1987, Fleming đã phát triển một công cụ được thiết kế nhằm giúp cho HS và những người khác có thể học
được nhiều hơn từ những sự ưu thế của bản thân.
VAK là ba chữ cái đầu tiên viết tắt bằng ba từ tiếng Anh là: Visual - Auditory - Kinesthetic. Khi dịch sang tiếng Việt
là: Quan sát - Lắng nghe - Hành động.
Trong mô hình của Fleming, người học được phân loại dựa trên ưu thế về học kiểu nhìn (tranh ảnh, phim, sơ đồ), học
kiểu nghe (âm nhạc, thảo luận, thuyết trình) hoặc học kiểu vận động (chuyển động, thí nghiệm, hoạt động thực hành).
Mô hình PCHT VAK là một trong những mô hình được sử dụng rộng rãi trong các trường học. Mô hình đã đưa ra
cách phân loại PCHT theo giác quan thị giác, thính giác, vận động nên dễ hiểu và vận dụng trong DH.
Cách học VAK
Người học kiểu nhìn (Visual) Tranh ảnh, băng hình, đồ thị, sơ đồ, biểu đồ, mô
hình...
Người học kiểu nghe
Bài giảng, ghi âm, chuyện kể, âm nhạc, động từ
(Auditory)
Người học vận động
hoá, đặt câu hỏi...
Hành động, đóng vai, làm mô hình đất sét...
(Kinesthetic)
động” ghi - chép.
PHT dựa trên PCHT của HS là giúp rèn luyện cho HS những kỹ năng giao tiếp, biết lắng nghe...PHT hướng tới phong
cách học như xúc giác - thính giác - thị giác giúp cho chất lượng học tập được nâng lên, HS dễ dàng lĩnh hội kiến thức và làm
cho môn Lịch sử không còn khô khan và nhàm chán.
Thiết kế và sử dụng PHT dựa trên PCHT hợp lý, logic sẽ giúp HS phát triển tư duy, cho phép HS dựa trên những kiến
thức đã học để nêu lên những ý kiến riêng của bản thân giúp cho HS phát triển kỹ năng giao tiếp, lập luận...
Khi xây dựng PHT dựa trên PCHT của từng nhóm HS học tập theo thị giác - thính giác - xúc giác HS sẽ dễ hiểu và
tiếp thu kiến thức giúp cho HS tích cực tham gia vào xây dựng bài học.
Đối với GV, việc thiết kế và sử dụng PHT dựa trên PCHT của HS là một trong những pp DHLS chính khiến cho giờ
học của GV trở nên sinh động, bớt nhàm chán. Sử dụng PHT giúp cho GV nhận ra khả năng học tập của từng HS, khả năng
tiếp thu kiến thức, từ đó đưa ra những PPDH tích cực nhẳm thẳng vào mục tiêu phát triển năng lực của HS.
PHT dựa trên PCHT của HS là phương tiện trực tiếp giúp cho GV nhận ra mức độ tiếp thu kiến thức của HS toong giờ
học, chỗ nào hiểu đúng vấn để, chỗ nào các em còn hiểu sai vấn đề, đánh giá mức độ hiểu bài hay lồ hổng kiến thức, nhờ đó
mà GV có thể đưa ra PPDH tích cực.
PHT dựa trên PCHT của HS là công cụ để khắc sâu kiến thức đã học và củng cố kiến thức, đảm bảo đúng tiến độ bài
giảng và đi vào đúng kiến thức trọng tâm.
Nhìn chung, PHT dựa trên PCHT của HS có vai trò rất quan trọng trong DH nói chung và DHLS nói riêng. Song thực
tiễn dạy và học ở các trường phổ thông chưa đặt đúng vị trí của việc sử dụng các công cụ, phương tiện dạy học trong đó có
PHT. Chính vì vậy, PHT chưa phát huy hết vai trò của mình trong quá trình DH đặc biệt là theo PCHT của HS.
1.3.
ĐỊNH HƯỚNG ĐỔI MỚI PPDH LỊCH sử Ở TRƯỜNG THPT
Giáo dục theo định hướng phát triển năng lực người học đang là xu thế chung của các nền giáo dục tiên tiến trên thế
giới. Đối với nền giáo dục Việt Nam, phát triển năng lực người học được xem là một trong những mục tiêu lớn được ngành
Giáo dục và Đào tạo đặt ra trong giai đoạn hiện nay và là một mục tiêu chính đã được khẳng định trong “Nghị quyết số 29NQ/TW” của Ban chấp hành TW Đảng Cộng sản Việt Nam ban hành ngày 4/11/2013: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương
pháp dạy và học theo hướng hiện đại phát huy tỉnh tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của
người học, khắc phục loi học truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích
NHỮNG YÊU CẦU cơ BẢN CỦA VIỆC THIẾT KẾ VÀ sử DỤNG PHT DựA TRÊN PCHT CỦA HS
1.4.1.
Yêu cầu thiết kế PHT dựa trên PCHT của HS
Yêu cầu khi xây dựng PHT là những tiền đề cơ bản xác định nội dung và hình thức thiết kế PHT. Khi thiết kế PHT cần
lưu ý đến các yêu cầu sau:
- Phải phù hợp với PCHT của HS
PHT cần được thiết ké sao cho phù hợp với PCHT của HS. Vì trước một tình huống học tập được đưa ra, mồi HS đều
có những cách thức giải quyết vấn đề khác nhau tùy thuộc vào khả năng nhận thức và suy nghĩ của mỗi cá nhân. Biết được mặt
mạnh, mặt yéu trong phong cách học của HS, GV có thể thiết ké hệ thống PHT dựa trên PCHT của các em nhằm chọn lựa pp
dạy phù hợp để giúp các em phát huy được các thế mạnh của PCHT của mình cũng như cải thiện các mặt yếu kém, đáp ứng
nhu cầu, sở thích, năng lực của người học nhằm tiếp cận thông tin, kiến thức dễ dàng hơn. Có như vậy thì PHT mới phát huy
được hét tính hiệu quả.
- Phải phù hợp với mục tiêu, nội dung bài học
Mục tiêu của bài học không phải chỉ là hình thành những kiến thức, kĩ năng mà quan trọng là phát triển tư duy, vận
dụng kiến thức. Do đó, khi thiết kế và sử dụng PHT phải bám sát điều đó. PHT chỉ là một công cụ hỗ trợ nhằm nâng cao hiệu
quả của hoat động DHLS trong nhà trường, cho nên yêu cầu trước hết là nội dung của phiếu phải phù hợp với mục tiêu, nội
dung bài học. PHT phải giúp HS khai thác và nắm bắt được những nội dung cơ bản, ữọng tâm của bài học thì mới có giá ữị và
hiệu quả.
Ví dụ: Khi học bài 32: Cách mạng công nghiệp ở châu Ầu, HS cần đạt được mục tiêu:
Lập được bảng thống kê các phát minh lớn của cuộc cách mạng công
nghiệp ở châu Âu và ý nghĩa của những phát minh đó với đời sống xã hội.
-
Phân tích được hệ quả của cuộc cách mạng công nghiệp.
Bám sát mục tiêu trên, khi thiết kế PHT GV phải chú ý: những nhiệm vụ và nội dung trong phiếu cũng phải đề cập đến