BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
HỒ XUÂN THỦY
SỰ THÍCH HỢP CỦA CHUẨN MỰC BÁO CÁO TÀI
CHÍNH QUỐC TẾ CHO DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ
VỪA ÁP DỤNG TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 62 34 03 01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Tp. Hồ Chí Minh - NĂM 2016
Công trình này được hoàn thành tại:
Trường Đại học Kinh tế. TP.HCM
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS Nguyễn Xuân Hưng
2. TS. Lê Đình Trực
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp trường họp tại:
DN khác trên thế giới. Mặt khác, trong xu thế hội nhập kế toán ngày càng mạnh mẽ, tương
tự các quốc gia khác, Việt Nam cũng đang có những áp lực về hài hòa với IFRS/IFRS for
SMEs. Tuy vậy, những thay đổi đáng kể trong hệ thống chuẩn mực kế toán VN, đặc biệt là
liên quan đến SMEs để đáp ứng xu hướng hội nhập vẫn chưa được giải quyết một cách toàn
diện trong thời gian vừa qua.
Khi IFRS for SMEs ban hành, một số các nhà nghiên cứu trên thế giới đã thực hiện
các nghiên cứu mang tính dự báo để đánh giá sự thích hợp của IFRS for SMEs đối với nhu
cầu BCTC của SMEs ở một số quốc gia, làm cơ sở cho quyết định áp dụng IFRS for
SMEs. Tuy nhiên, các nghiên cứu này vẫn còn tồn tại một số hạn chế. Hơn nữa, chưa có
một nghiên cứu nào mang tính học thuật được công bố liên quan đến sự thích hợp của
IFRS for SMEs ở VN. Mặt khác, ngoài số lượng nghiên cứu về IFRS for SMEs trên thế
giới cũng như Việt Nam còn khan hiếm, quan điểm hội tụ với IFRS for SMEs của các quốc
gia cũng khác biệt nhau. Đồng thời, phần lớn các nghiên cứu thực hiện ở các nước phát
triển hoặc các nước đang phát triển nhưng đã áp dụng đầy đủ IFRS, thiếu nghiên cứu về
IFRS for SMEs ở các nước có nền kinh tế mới nổi và việc áp dụng IFRS còn khá hạn chế
như VN.
Như vậy, dựa trên bối cảnh của thế giới và điều kiện Việt Nam, để khắc phục khe
hổng nghiên cứu đã phân tích ở trên, nghiên cứu về “Sự thích hợp của Chuẩn mực báo
cáo tài chính quốc tế cho doanh nghiệp nhỏ và vừa áp dụng tại Việt Nam” là cần thiết.
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chính của luận án là nghiên cứu sự thích hợp của IFRS for SMEs và định
hướng áp dụng cho SMEs ở VN, được chia thành nhiều mục tiêu cụ thể:
1. Xác định nhu cầu cần áp dụng IFRS for SMEs của SMEs VN.
2. Đánh giá sự thích hợp của các chuẩn mực, chính sách kế toán, nguyên tắc ghi nhận
và đo lường của IFRS for SMEs đối với SMEs VN.
3. Xác định những nhân tố đặc điểm SMEs ảnh hưởng đến: nhu cầu cần áp dụng IFRS
for SMEs; sự thích hợp của các chuẩn mực, chính sách kế toán, nguyên tắc ghi nhận
và đo lường của IFRS for SMEs.
thức kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng tiến hành đồng thời nhưng
riêng biệt trong thu thập và phân tích dữ liệu, chỉ hợp nhất kết quả trong phần phân tích kết
quả nghiên cứu chung.
5
Ý nghĩa của nghiên cứu
5.1 Ý nghĩa khoa học
Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về CMBCTC khác biệt của IASB cũng như một số
quốc gia và các nghiên cứu liên quan đến sự thích hợp của IFRS for SMEs.
Tổng hợp các quan điểm về tiêu chí phân loại SMEs. Đặc biệt, đóng góp quan trọng
nhất trong nghiên cứu này là xác lập tiêu chí SMEs phù hợp để áp dụng IFRS for
SMEs trên cơ sở kết hợp tiêu chí định tính và định lượng.
Bổ sung vào khe hổng các nghiên cứu liên quan đến sự thích hợp của IFRS for SMEs
đối với SMEs có những đặc điểm khác nhau ở VN nói riêng và các quốc gia đang
phát triển nói chung.
Cung cấp thêm một bằng chứng thực nghiệm về sự ảnh hưởng của các nhân tố thuộc
đặc điểm SMEs đến nhu cầu và sự thích hợp của các chính sách kế toán, nguyên tắc
ghi nhận và đo lường của IFRS for SMEs, qua việc thực hiện kiểm định 9 nhân tố thể
3
hiện môi trường hoạt động đa dạng, cơ cấu tổ chức, nguồn lực... của SMEs. Trong
đó, có ba nhân tố mới được phát hiện từ kết quả của nghiên cứu định tính.
Xác lập định hướng phát triển CMBCTC phù hợp với SMEs VN.
5.2 Ý nghĩa thực tiễn
Là nguồn thông tin cần thiết cho các cơ quan quan NN, cụ thể là BTC nhận định rõ
về thực trạng áp dụng VAS đối với SMEs trong thời gian vừa qua và đánh giá nhu
cầu của SMEs đối với IFRS for SMEs.
Là tài liệu tổng hợp quan điểm đánh giá của SMEs, các chuyên gia trong lĩnh vực
kiểm toán, giảng dạy, nghiên cứu về sự khác biệt giữa IFRS for SMEs và VAS, bộ
nhu cầu cần có chuẩn mực kế toán riêng cho SMEs (Chandet al, 2006; Quagli & Paoloni,
2012; Albu et al, 2013).
4
1.2.2 Nghiên cứu về sự thích hợp của các chính sách kế toán, nguyên tắc ghi nhận và
đo lường theo quy định của IFRS for SMEs
IASB cho rằng IFRS for SMEs thích hợp đối với tất cả SMEs ở tất cả các quốc gia trên
thế giới cho dù đã áp dụng IFRS hay chưa. IASB nhấn mạnh thêm IFRS for SMEs thích hợp
với cả DN có quy mô siêu nhỏ vì cách trình bày đơn giản giúp DN có quy mô nhỏ có những
hướng dẫn áp dụng dễ dàng (IASB, 2009b, BC75, 76). Tuy nhiên, các nghiên cứu của Wyk
& Rossouw (2009); Schutte & Buys (2010); Eierle & Haller (2009, 2010); Otchere &
Agbeibor (2012); Bunea et al (2012); Chand et al (2015) đã khẳng định không phải tất cả
các chuẩn mực, chính sách kế toán của IFRS for SMEs đều thích hợp với bất kỳ quốc gia
nào. Đồng thời, kết luận từ các nghiên cứu cũng khác biệt, không thể khái quát chung cho
tất cả các quốc gia.
1.2.3 Nghiên cứu về nhân tố đặc điểm của DN ảnh hưởng đến nhu cầu và sự thích
hợp của các chính sách kế toán, nguyên tắc ghi nhận và đo lường theo quy định
của IFRS for SMEs
IASB khẳng định IFRS for SMEs là một bộ chuẩn mực thích hợp đối với tất cả DN
chưa niêm yết, bất kể quy mô, lập BCTC theo mục đích chung cho các các đối tượng sử
dụng thông tin bên ngoài (IASB, 2009b). Tuy nhiên, một số các nghiên cứu đã thực hiện
kiểm chứng để khẳng định không phải tất cả các DN chưa niêm yết đều thích hợp để áp
dụng. Các nghiên cứu này đã khám phá mối liên quan giữa các nhân tố đặc điểm của DN và
nhu cầu cũng như sự thích hợp về chuẩn mực, chính sách kế toán, nguyên tắc ghi nhận và
đo lường theo quy định của IFRS for SMEs đối với mục tiêu BCTC của họ. Dù vậy, số
lượng các nghiên cứu về vấn đề này còn khá khiêm tốn (Collis & Jarvis, 2000; Ikahaimo,
2008; Mazars, 2008; Nerudova & Bohusova, 2008; Sian & Robert, 2006, 2008;Wyk &
Rossouw, 2009, Eierle & Haller, 2009, Albu et al, 2010; Atik, 2010; Pascu & Vasiliu, 2011;
dụng.
Nội dung và kết quả nghiên cứu:
Thể hiện bức tranh về nhu cầu và sự cần thiết của IFRS for SMEs đối với các quốc
gia phát triển và đang phát triển.
Các chuẩn mực, chính sách kế toán, nguyên tắc ghi nhận, đo lường và yêu cầu công
bố theo quy định của IFRS for SMEs thích hợp với yêu cầu BCTC của SMEs được
đánh giá, phân tích dựa trên quan điểm đa dạng của cả người lập và người sử dụng
BCTC.
Một số nhân tố thuộc đặc điểm của DN như quy mô, hoạt động liên quan quốc tế,
lĩnh vực kinh doanh, hình thức pháp lý ảnh hưởng đến sự thích hợp của IFRS for
SMEs đã được phát hiện và kiểm định từ các nghiên cứu.
Khái quát những thuận lợi, những nhân tố gây trở ngại trong quá trình áp dụng IFRS
for SMEs, khả năng và cách thức áp dụng làm nền tảng cho các quốc gia trong quyết
định hội tụ với IFRS for SMEs.
1.4.2 Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
Bên cạnh những kết quả đạt được, các nghiên cứu thuộc lĩnh vực này vẫn còn một số
hạn chế:
Thứ nhất, các nghiên cứu đánh giá về tiêu chí phân loại SMEs để áp dụng IFRS for
SMEs hầu như khác nhau giữa các quốc gia, chưa có kết luận đồng nhất.
Thứ hai, các nghiên cứu thực nghiệm xác định nhu cầu của SMEs đối với IFRS for
SMEs và sự thích hợp của các chuẩn mực, chính sách kế toán, nguyên tắc ghi nhận
và đo lường theo quy định của IFRS for SMEs không nhiều và kết luận của những
nghiên cứu này không hoàn toàn như nhau.
Thứ ba, các nhân tố thuộc đặc điểm của DN ảnh hưởng đến nhu cầu cần IFRS for
SMEs và sự thích hợp về nội dung quy định của IFRS for SMEs được kiểm định
còn rời rạc, chủ yếu dừng ở phân tích thống kê mô tả hay đơn thuần chỉ là lược khảo
các nghiên cứu, chưa được khám phá và kiểm định một cách đầy đủ.
Thứ tư, các nghiên cứu thực hiện thường gắn với từng quốc gia chưa thể kết luận
chung cho các quốc gia vì SMEs không phải là một khối đồng nhất.
Cuối cùng, phần lớn các nghiên cứu thực hiện ở các nước phát triển hoặc đang phát
niệm SMEs đưa ra đầu tiên trong báo cáo Bolton năm 1971. Ngoài tiêu chí định tính, các
tiêu chí định lượng như số lượng lao động, doanh thu hoặc tổng tài sản…hay kết hợp tiêu
chí định tính và định lượng cũng được sử dụng phổ biến để xác định SMEs (Sian & Robert.
2006; Ploybut, 2012).
Về phương diện quốc gia, các quốc gia thường sử dụng tiêu chí định lượng để phân
biệt SMEs dựa vào điều kiện kinh tế xã hội của từng quốc gia. Do đó, các tiêu chí định
lượng phân biệt SMEs thường khác nhau. IASB không dựa vào bất kỳ tiêu chí định lượng
nào để xác định SMEs thuộc phạm vi áp dụng chuẩn mực. IASB cho rằng SMEs là: “các
công ty không có trách nhiệm giải trình công khai và phát hành BCTC theo mục đích chung
cho đối tượng bên ngoài DN”.
2.2.1.1 Khái quát về CMBCTC khác biệt
Các cuộc tranh luận về CMBCTC khác biệt đã bắt đầu từ những năm 1980 (Schutte,
2011). Vấn đề chính của những cuộc tranh luận này là liệu nên có CMBCTC khác biệt (big
GAAP - little GAAP) cho các công ty niêm yết lớn và cho các công ty nhỏ hơn hay không.
Theo Harvey & Walson (1996), các DN khác nhau nên có những quy định về kế toán
khác nhau hay cần có những bộ chuẩn mực kế toán khác nhau. Nair & Rittenberg (1983) và
HKSA (2002) đều cùng quan điểm khi cho rằng CMBCTC khác biệt là quy định DN được
cho phép giảm trừ một số yêu cầu của chuẩn mực kế toán hay toàn bộ chuẩn mực kế toán
trong việc lập BCTC.
2.2.1.2 Các cách thức áp dụng CMBCTC khác biệt
7
Một số cách thức tiếp cận CMBCTC khác biệt đã được tranh luận trong các nghiên
cứu của McCaney & Ramsey (1989), Devi (2003), Eierle (2005); Wise & Faux (2005),
Baskerville & Cordery (2006) và Sian & Robert (2006). Có thể chia thành hai nhóm quan
điểm liên quan đến hình thức nói chung và nội dung bên trong của các CMBCTC khác biệt.
2.2.2 Mối liên hệ giữa các nhân tố đặc điểm SMEs và sự cần thiết của CMBCTC khác
biệt thích hợp cho nhu cầu BCTC của SMEs
hạng tín dụng.
Do đó, SMEs thuộc phạm vi áp dụng chuẩn mực không phải là các công ty có cổ phiếu
niêm yết trên thị trường chứng khoán và cũng không bao gồm các tổ chức kinh doanh dịch
vụ tài chính như ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, các tổ chức tương hỗ và các tổ chức
tương tự có nhận vốn từ công chúng.
Về mục tiêu của BCTC theo IFRS for SMEs, IASB xác định:
8
“Mục tiêu BCTC của SMEs là cung cấp thông tin về tình hình tài chính, tình hình
kinh doanh và các luồng tiền của DN đáp ứng yêu cầu sử dụng thông tin hữu ích để
ra các quyết định kinh tế cho các đối tượng sử dụng thông tin mà không ở vị trí để có
thể yêu cầu cung cấp các báo cáo đặc biệt theo nhu cầu của họ” (IASB, 2009a, trang
12).
Mục tiêu chung BCTC theo IFRS for SMEs là hướng đến mục tiêu thông tin hữu ích
cho việc ra quyết định của các đối tượng bên ngoài.
2.3.3 Một số đặc điểm của IFRS for SMEs
IFRS for SMEs là bộ chuẩn mực độc lập được xây dựng dựa trên “Khuôn mẫu lý
thuyết cho việc lập và trình bày BCTC” của IFRS, dài 230 trang, trình bày thành 35 phần
cho từng chuẩn mực. IFRS for SMEs đơn giản hơn IFRS nguyên tắc ghi nhận, đo lường và
cả yêu cầu công bố, đồng thời chú ý đến sự cân đối giữa chi phí và lợi ích khi áp dụng cho
SMEs. Cụ thể:
Các chuẩn mực không phù hợp với SMEs bị loại bỏ;
Giảm bớt các lựa chọn theo IFRS, chỉ sử dụng lựa chọn đơn giản nhất;
Một số các nguyên tắc ghi nhận, đánh giá tài sản, nợ phải trả, thu nhập, chi phí cũng
như các chính sách kế toán đơn giản hơn quy định của IFRS;
Các yêu cầu trình bày thông tin cũng đơn giản hơn.
Theo kế hoạch đề ra ban đầu, IFRS for SMEs sẽ được soát xét mỗi ba năm một lần.
IASB bắt đầu thực hiện quá trình soát xét lại toàn bộ IFRS for SMEs từ năm 2012 đến 2014.
thể rút ra bốn vấn đề cần cân nhắc để có thể thực hiện trong bối cảnh ở VN, cụ thể là:
(1)Tiêu chí xác định DN áp dụng, (2) Cách thức tiếp cận, (3) Sự cân nhắc về chi phí và lợi
ích, (4) Sự lựa chọn phương thức áp dụng CMBCTC khác biệt.
2.4 Các lý thuyết nền về việc áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế
Các lý thuyết nền được sử dụng gồm lý thuyết thể chế xã hội học hiện đại (new
institutional sociology theory), lý thuyết ủy nhiệm (agency theory), lý thuyết thông tin hữu
ích (decision usefulness theory). Các lý thuyết nền được sử dụng để thiết lập các giả thuyết
về mối quan hệ giữa các đặc điểm DN với nhu cầu cần áp dụng IFRS for SME, với sự thích
hợp của các chuẩn mực, chính sách kế toán, nguyên tắc ghi nhận và đo lường theo quy định
của IFRS for SMEs. Đồng thời, tác giả còn dựa vào lý thuyết thể chế xã hội học hiện đại để
biện luận hướng áp dụng IFRS for SMEs.
2.5 Cơ sở xây dựng mô hình nghiên cứu lý thuyết
Trên cơ sở các lý thuyết nền là lý thuyết thể chế xã hội học hiện đại, lý thuyết ủy
nhiệm, lý thuyết thông tin hữu ích, kế thừa kết quả của các nghiên cứu chủ yếu đã thực
hiện và kinh nghiệm xây dựng CMBCTC khác biệt thích hợp với nhu cầu BCTC SMEs
của các quốc gia, hình 2.1 trình bày mô hình nghiên cứu của luận án.
Sự thích hợp của IFRS for SMEs
Nhu cầu cần IFRS
for SMEs
Các nhân tố đặc điểm của
SMEs
2.6 Kết luận chương 2
10
Khái niệm SMEs vẫn chưa thống nhất trong các nghiên cứu cũng như quy định của
các quốc gia. Tuy nhiên, xuất phát từ tầm quan trọng của SMEs đối với sự phát triển kinh tế,
nhiều quốc gia cũng như IASB đã thực thi các chính sách nhằm giảm sự phức tạp của
CMBCTC cũng như ban hành các quy định kế toán phù hợp với yêu cầu BCTC của SMEs.
Đó chính là vấn đề gây ra những cuộc tranh luận về sự cần thiết của CMBCTC khác biệt
được trình bày trong chương này.
Những nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển hệ thống CMBCTC khác
biệt được tổng quát từ các nghiên cứu. Đồng thời, trên cơ sở các lý thuyết nền về áp dụng
chuẩn mực kế toán quốc tế, kế thừa kết quả các nghiên cứu trước cũng như tổng kết kinh
nghiệm từ xây dựng và áp dụng CMBCTC khác biệt ở các quốc gia, tác giả đã thiết lập mô
hình nghiên cứu của luận án.
CHƯƠNG 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Giới thiệu
Mục đích của chương này là trình bày thiết kế nghiên cứu để trả lời cho các câu hỏi
nghiên cứu
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Xác định phương pháp
Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp xuất phát từ mục tiêu nghiên cứu của đề tài
luận án và những ưu điểm của phương pháp nghiên cứu này.
3.2.2 Thiết kế nghiên cứu
Tác giả sử dụng thiết kế hỗn hợp song hành hội tụ được mô tả như hình 3.1:
VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu sự thích hợp của IFRS for SMEs ở VN
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Phân tích kết quả nghiên cứu: thống kê mô tả, kiểm
định Chi-bình phương, hệ số tương quan Spearman’s,
hồi quy Binary Logistic
2.
Kết hợp kết quả nghiên
cứu định tính và định
lượng
Đề xuất gợi ý chính sách
Hình 3.1. Khung thiết kế nghiên cứu của luận án
3.3 Nghiên cứu định tính
3.3.1 Quy trình nghiên cứu
11
Quy trình nghiên cứu định tính thực hiện qua các bước như sau (xem hình 3.2):
Mục tiêu
nghiên cứu
Dàn bài
thảo luận
Chọn
mẫu NC
Thu thập dữ
liệu
trình xây dựng và áp dụng chuẩn mực kế toán của SMEs, gồm cả người ban hành quy định,
người lập và người sử dụng thông tin BCTC.
3.3.3.2 Đặc điểm mẫu phỏng vấn
Trên cơ sở kỹ thuật lấy mẫu có chủ đích, 5 nhóm đối tượng được lựa chọn để phỏng
vấn bao gồm: các chuyên gia nghiên cứu và giảng dạy trong các trường đại học, giám đốc,
phó giám đốc của các ngân hàng thương mại, giám đốc kiểm toán, trưởng phòng kiểm toán
của các công ty kiểm toán, KTT của SMEs, đại diện cơ quan xây dựng, ban hành các quy
định về kế toán và các tổ chức nghề nghiệp.
3.3.3.3 Kích cỡ mẫu
Trong nghiên cứu này, tác giả xác định cỡ mẫu nằm trong khoảng từ 5-20 cuộc phỏng
vấn là thuộc điểm bảo hòa dữ liệu.
3.3.4 Thu thập dữ liệu
Tác giả thực hiện phỏng vấn bán cấu trúc. Trước khi phỏng vấn thử, dàn bài thảo luận
ban đầu cũng được kiểm tra thử lần đầu tiên với các chuyên gia là giảng viên trong Khoa Kế
toán- kiểm toán của ĐH Kinh tế-Luật quan tâm đến nghiên cứu về chuẩn mực kế toán. Sau
đó, nghiên cứu thực hiện phỏng vấn thử với 2 KTT của SMEs để hoàn chỉnh bảng câu hỏi
lần cuối cùng chuẩn bị cho phỏng vấn chính thức.
Tất cả các cuộc phỏng vấn chính thức (trừ hai chuyên gia do không sắp xếp được thời
gian nên trả lời phỏng vấn bằng email) đều được thực hiện thảo luận tay đôi, và ghi âm lại.
12
Sau hơn 4 tháng thực hiện phỏng vấn, 17 cuộc phỏng vấn đã tiến hành và không còn thu
được thông tin gì mới liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
3.3.5 Phân tích dữ liệu
3.3.5.1Phương pháp phân tích dữ liệu
Nghiên cứu áp dụng phương pháp GT để phân tích dữ liệu phỏng vấn định tính. Trong
nghiên cứu này, dữ liệu định tính thu thập từ các cuộc phỏng vấn bán cấu trúc được phân
tích theo quy trình đề nghị của Strauss & Corbin (1998) gồm 3 bước là phân tích mở, phân
Bảng câu hỏi
hoàn chỉnh
Thống kê mô tả
Kiểm định Chi –square
Hệ số tương quan
Spearman’s
Hồi quy Logistic
Hình 3.3. Quy trình nghiên cứu định lượng
3.4.2 Cấu trúc bảng câu hỏi khảo sát
Bảng câu hỏi bao gồm 4 phần, gồm:
Phần 1- Thông tin chung về DN
Phần 2- Đánh giá VAS hiện hành áp dụng cho SMEs
Phần 3- Quan điểm về CMBCTC thích hợp cho SMEs
Phần 4- Những khó khăn và hướng áp dụng IFRS for SMEs
Bảng câu hỏi thiết kế gồm cả các câu hỏi đóng và các câu hỏi mở, sử dụng chủ yếu câu
hỏi đóng dạng danh sách, dạng phân loại, dạng mức độ và các thang đo được sử dụng là
thang đo định danh, thứ bậc và thang đo khoảng.
3.4.3 Chọn mẫu
Nghiên cứu lấy mẫu theo xác suất và chọn kỹ thuật lấy mẫu theo cụm. Tổng mẫu gồm
có 1.043 DN, trong đó DN tham gia câu lạc thuế của DN có VĐTNN là 180, DN hội viên
của VCCI tham gia CLB TAF gồm 863 DN hoạt động nhiều ngành nghề, nhiều hình thức
pháp lý khác nhau, chủ yếu là tập trung ở TP.HCM và một số tỉnh lân cận như Bình Dương,
13
H1-1e Hoạt động cạnh tranh với các DN ở nước ngoài có mối liên hệ với nhu cầu cần
IFRS for SMEs
H1-2
Cơ cấu tổ chức quốc tế của SMEs có mối liên hệ với nhu cầu cần IFRS for
SMEs
H1-3
Quy mô có mối liên hệ với nhu cầu cần IFRS for SMEs
H1-4
Lĩnh vực kinh doanh có mối liên hệ với nhu cầu cần IFRS for SMEs
H1-5
Việc thực hiện kiểm toán BCTC có mối liên hệ với nhu cầu cần IFRS for
SMEs
H1-6
Tổ chức kiểm toán có mối liên hệ với nhu cầu cần IFRS for SMEs
H1-7
Sự chia tách quyền sở hữu và điều hành có mối liên hệ với nhu cầu cần
IFRS for SMEs
14
H1-8
Hình thức pháp lý có mối liên hệ với nhu cầu cần IFRS for SMEs
H1-9
Hình thức sở hữu có mối liên hệ với nhu cầu cần IFRS for SMEs
3.5.1.2 Các giả thuyết liên quan đến sự thích hợp của các chuẩn mực, chính sách kế
toán, nguyên tắc ghi nhận và đo lường theo quy định của IFRS for SMEs
H2-1a Hoạt động XK có mối liên hệ với sự thích hợp của các chuẩn mực IFRS for
SMEs
Các giả thuyết được đặt ra trả lời câu hỏi liên quan đến sự thích hợp của các chính
sách kế toán, nguyên tắc ghi nhận và đo lường đối với SMEs là:
H3-1a Hoạt động XK có mối liên hệ với sự lựa chọn các chính sách kế toán,
nguyên tắc ghi nhận và đo lường thích hợp đối với SMEs
H3-1b Hoạt động NK có mối liên hệ với sự lựa chọn các chính sách kế toán,
nguyên tắc ghi nhận và đo lường thích hợp đối với SMEs
H3-1c Cơ cấu vốn nước ngoài có mối liên hệ với sự lựa chọn các chính sách kế
toán, nguyên tắc ghi nhận và đo lường thích hợp đối với SMEs
H3-1d Việc vay nợ từ ngân hàng hoặc các tổ chức tài chính ở nước ngoài của
SMEs có mối liên hệ với sự lựa chọn các chính sách kế toán, nguyên tắc ghi
nhận và đo lường thích hợp đối với SMEs
H3-1e Hoạt động cạnh tranh với các DN ở nước ngoàicủa SMEs có mối liên hệ với
sự lựa chọn các chính sách kế toán, nguyên tắc ghi nhận và đo lường thích
15
hợp đối với SMEs
H3-2
Cơ cấu tổ chức quốc tế có mối liên hệ với sự lựa chọn các chính sách kế
toán, nguyên tắc ghi nhận và đo lườngthích hợp đối với SMEs
H3-3
Quy mô có mối liên hệ với với sự lựa chọn các chính sách kế toán, nguyên
tắc ghi nhận và đo lường thích hợp đối với SMEs
H3-4
Lĩnh vực kinh doanh có mối liên hệ với với sự lựa chọn các chính sách kế
toán, nguyên tắc ghi nhận và đo lường thích hợp đối với SMEs
H3-5
Việc thực hiện kiểm toán BCTC có mối liên hệ với với sự lựa chọn các
chính sách kế toán, nguyên tắc ghi nhận và đo lường thích hợp đối với
Haller
toán
SMEs. Thang đo Likert, 1- Không quan (2009), Schutte &
trọng đến 5- Rất quan trọng (34 chuẩn Buys (2010), Otchere
mực theo quy định của IFRS for SMEs)
& Agbeibor (2012)
Các chính sách kế Chính sách kế toán khác nhau cơ bản Eierle
&
Haller
toán
giữa IFRS for SMEs và VAS, so sánh ở (2009)
các đặc điểm về chi phí tạo ra thông tin
và lợi ích cung cấp thông tin hữu ích cho
việc ra quyết định. Đo lường biến này
bằng thang đo so sánh: 1- Thấp hơn
nhiều, 5- Cao hơn nhiều
Các biến độc lập
Hoạt động quốc tế
Hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, vốn đầu Eierle
&
Haller
tư nước ngoài, vay nợ nước ngoài: thang (2009)
đo Likert 5 điểm từ 1-Không liên quan
đến 5- liên quan rất cao
Riêng biến cạnh tranh với doanh nghiệp
ở nước ngoài sử dụng biến dummy, 1Có, 0- Không
16
Sự chia tách quyền 1- Nếu chủ sở hữu trực tiếp điều hành
quản lý và điều hành
hoạt động kinh doanh và 0- Nếu chủ sở
hữu không trực tiếp điều hành hoạt động
kinh doanh
Báo cáo tài chính 1- Báo cáo tài chính được kiểm toán và
được kiểm toán
0- Báo cáo tài chính không được kiểm
toán
Hình thức sở hữu
SMEs là DNNN được mã hóa là 1, 0không phải là DNNN
Francis et al (2008);
Otchere & Agbeibor
(2012)
Francis et al (2008),
Morris et al (2012),
Guerreiro et al (2012)
Street
&
Gray
(2002), Francis et al
(2008)
Street
&
Gray
(2002), Guerreiro et
Các chuyên gia đại diện cho cơ quan ban hành chuẩn mực, tổ chức nghề nghiệp và các
giám đốc kiểm toán đều cho rằng chuẩn mực kế toán đóng vai trò quan trọng trong việc lập
BCTC có chất lượng. SMEs tuân thủ chuẩn mực kế toán sẽ cải thiện thông tin hữu ích của
BCTC, đồng thời tạo sự yên tâm và tin tưởng cho các đối tượng sử dụng thông tin.
(RG1) BCTC của SMEs phải tuân thủ chuẩn mực kế toán và các quy định liên quan. Những yêu
cầu này nhằm mục đích đảm bảo SMEs cung cấp BCTC có chất lượng.
Tuy nhiên, chỉ có các DN có vốn đầu tư nước ngoài nhận thức được lợi ích của VAS,
còn lại đa số SMEs lại thiếu quan tâm và phần lớn không nhận thức được vai trò của chuẩn
mực kế toán. Điều này là một trong những nguyên nhân dẫn đến chất lượng BCTC SMEs
không đáng tin cậy.
4.2.1.2 Quan điểm về chuẩn mực kế toán giảm trừ hiện hành áp dụng cho SMEs (theo
chủ đề 1.2, phụ lục D3)
Các chuyên gia đều đánh giá chuẩn mực giảm trừ áp dụng cho SMEs như hiện hành là
không phù hợp, thiếu các quy định cần thiết nên DN khó khăn khi áp dụng. Điều này dẫn
đến giảm khả năng so sánh của BCTC và ở một khía cạnh nào đó làm giảm chất lượng
thông tin BCTC. Mặt khác, với việc ban hành tiêu chí SMEs áp dụng chuẩn mực giảm trừ
nhưng lại không bắt buộc đối với SMEs đáp ứng yêu cầu nên đa số SMEs không chọn và
vẫn áp dụng bộ chuẩn mực đầy đủ cũng như ít quan tâm đến quy định giảm trừ này. Với
thực tế như vậy, mục tiêu ban hành QĐ 48/2006/-QĐ-BTC để làm giảm rào cản khó khăn
cho SMEs khi tuân thủ chuẩn mực kế toán đã không phát huy tác dụng như kỳ vọng. Điều
này cũng có thể sẽ xảy ra tương tự đối với TT 133/2016/TT-BTC vừa ban hành.
4.2.1.3 Đối tượng sử dụng thông tin BCTC và mục đích sử dụng thông tin BCTC (theo
chủ đề 2.1, 2.2, phụ lục D3)
Ý kiến của các chuyên gia đều khẳng định SMEs chủ yếu lập BCTC để đáp ứng yêu
cầu pháp lý đối với NN. BCTC hầu như không được sử dụng cho việc ra quyết định mà chỉ
đơn thuần là DN phải lập và nộp theo quy định của NN, chủ yếu là cho mục đích thuế, đặc
biệt đối với DN quy mô nhỏ và DN không có kế toán mà chỉ thuê công ty dịch vụ kế toán để
lập BCTC, báo cáo thuế. Ngân hàng cũng không xem BCTC là kênh thông tin quan trọng để
ra quyết định cho vay đối với SMEs.
biệt DN có quy mô nhỏ thì ảnh hưởng này càng mạnh mẽ. Ngoài tác động của thuế, trình
độ, nhận thức của kế toán viên, quan điểm của chủ DN, quy định pháp quy của NN, văn hóa
kinh doanh của DN, quy mô và hình thức pháp lý của DN là các nhân tố khác ảnh hưởng
đến chất lượng thông tin BCTC cũng được phát hiện qua phỏng vấn chuyên gia.
Ngoài ra, những khó khăn nảy sinh từ chính những bất cập trong quy định về kế toán
cũng gây ảnh hưởng không nhỏ đến tuân thủ chuẩn mực kế toán và chất lượng thông tin
BCTC. Các chuyên gia đã phản hồi SMEs gặp nhiều khó khăn khi áp dụng VAS, đó là ngôn
ngữ chuẩn mực khó hiểu, chuẩn mực lạc hậu và mâu thuẫn với hướng dẫn của chế độ kế
toán, thiếu sự hỗ trợ, hướng dẫn từ phía BTC tới từng DN dẫn tới việc triển khai khó khăn,
sự tuyên truyền cũng không hiệu quả...
4.2.2 CMBCTC khác biệt
4.2.2.1 Sự cần thiết và các nhân tố ảnh hưởng đến việc xây dựng CMBCTC khác
Tất cả các chuyên gia đều thống nhất quan điểm cần thiết phải có CMBCTC phù hợp
cho SMEs vì tầm quan trọng của SMEs, những bất cập trong quy định kế toán hiện hành áp
dụng cho bộ phận DN này và nhu cầu cải thiện chất lượng thông tin BCTC. Chuẩn mực kế
toán riêng với những quy định phù hợp, cân đối giữa chi phí và lợi ích sẽ khuyến khích
SMEs tuân thủ. Thông tin BCTC của SMEs sẽ hữu ích hơn đối với các đối tượng sử dụng
thông tin.
(RG1) Theo tôi ban hành riêng CMBCTC cho SMEs là tốt nhất vì sẽ phù hợp và đáp ứng tốt hơn
yêu cầu quản lý đối với các DN này. Trên cơ sở đó, xác định các nguyên tắc và các chính sách kế
toán phù hợp đối với SMEs.
(AU2) Theo số liệu thống kê của VCCI thì hơn 95% DN Việt Nam là SMEs nên rất cần tập
trung các giải pháp cho số đông này, do đó rất cần bộ chuẩn mực kế toán riêng cho SMEs để có
thể áp dụng phù hợp.
19
Mặt khác, việc xây dựng chuẩn mực kế toán riêng cho SMEs là cần thiết vì những đặc
điểm đặc thù của SMEs về khả năng và nguồn lực, đối tượng sử dụng thông tin và nhu cầu
Ngoài ra, quy mô của SMEs VN cũng không lớn so với SMEs của các quốc gia khác, nguồn
lực tài chính và con người cũng giới hạn, nên các nghiệp vụ kinh tế phức tạp cũng không
nhiều. Hơn nữa, SMEs cũng ít tham gia những hoạt động liên quan quốc tế như xuất khẩu,
nhập khẩu, trừ một số DN có vốn đầu tư nước ngoài. Mặc dù vậy, các chuyên gia đều tán
thành cần thiết phải áp dụng IFRS for SMEs với một số các lý do như SMEs đóng vai trò
quan trọng trong nền kinh tế VN, SMEs cần phải minh bạch thông tin đề thu hút các nguồn
vốn đầu tư và xu hướng hội nhập trong khu vực và quốc tế ngày càng mạnh mẽ.
4.2.3.2Quan điểm về các chuẩn mực, chính sách kế toán, nguyên tắc ghi nhận và đo
lường thích hợp với SMEs ( theo chủ đề 4.3, 4.4, phụ lục D3)
Các chuẩn mực kế toán
20
Tương tự IASB, các chuẩn mực hợp đồng bảo hiểm, báo cáo bộ phận, BCTC giữa niên
độ, lãi trên cổ phiếu không cần áp dụng cho SMEs theo quy định của VN. Quan điểm của
các chuyên gia cũng khá đồng nhất là chưa nên áp dụng đối với các chuẩn mực còn lại theo
quy định của IFRS for SMEs nhưng chưa được ban hành ở VN như tài trợ của Chính phủ,
thanh toán trên cơ sở cổ phần, lợi ích của người lao động và BCTC trong nền kinh tế siêu
lạm phát. Những chuẩn mực này được xem là hiếm khi xảy ra nên chưa cần thiết cũng như
chưa thể áp dụng cho DN lớn thì càng không thể áp dụng cho SMEs. Tuy nhiên, các chuyên
gia có quan điểm khá đa dạng về áp dụng các chuẩn mực như công cụ tài chính, tổn thất tài
sản, nông nghiệp.
Ngoài ra, các chuẩn mực tương đồng giữa VN và IFRS for SMEs nhưng theo quy định
hiện hành không áp dụng hoàn toàn hoặc áp dụng một phần cho SMEs cũng được bàn luận.
Quan điểm chung của các chuyên gia đều thống nhất là các chuẩn mực nên được áp dụng
đầy đủ cho SMEs, không nên áp dụng một phần. Có thể đây là các chuẩn mực ít xảy ra đối
với SMEs nhưng vẫn phát sinh vì thế bắt buộc phải ban hành quy định để tránh tình trạng
thiếu cơ sở pháp quy tham chiếu khi cần và ảnh hưởng đến chất lượng thông tin BCTC.
Các chính sách kế toán, nguyên tắc ghi nhận và đo lường
yếu. Mặt khác, sự khác biệt giữa VN và các quốc gia khác về môi trường văn hóa, kinh tế,
xã hội mà SMEs hoạt động cũng sẽ ảnh hưởng đến việc xây dựng CMBCTC riêng cho
SMEs. Ngoài ra, một số nhân tố khác gây trở ngại cho việc áp dụng trong môi trường đặc
trưng của VN cũng được các chuyên gia đề cập, đó là mối liên hệ chặt chẽ giữa kế toán và
thuế, chi phí cho dịch vụ kế toán thấp nên chất lượng dịch vụ cung cấp bị hạn chế, tư duy
của SMEs quen với cách xử lý kế toán cũ, không quen với các chính sách kế toán theo IFRS
for SMEs cần phải xét đoán, sự thiếu liên kết giữa SMEs và các cơ quan ban hành chuẩn
mực.
Với những lợi ích, khó khăn từ những nhân tố môi trường kế toán, phần lớn các
chuyên gia đều thống nhất xây dựng một lộ trình hội tụ không hoàn toàn (not fully
converged) (Zeff & Nobes, 2010), đó là trong giai đoạn đầu, giai đoạn chuyển tiếp, tạm thời
nên điều chỉnh IFRS for SMEs cho phù hợp với điều kiện của VN, tiến tới hội tụ hoàn toàn
trong tương lai.
4.2.4 Kết luận từ kết quả của nghiên cứu định tính
Các chuyên gia nhận diện những đặc điểm và môi trường hoạt động của SMEs ảnh
hưởng đến sự phức tạp của nghiệp vụ kinh tế phát sinh, chi phí tuân thủ chuẩn mực kế toán,
từ đó dẫn đến cần phải xây dựng CMBCTC thích hợp cho SMEs. Mục tiêu xây dựng chuẩn
mực riêng cho SMEs nhằm giảm những khó khăn cho SMEs khi lập BCTC, đảm bảo cân
đối về chi phí và lợi ích khi tuân thủ và đáp ứng nhu cầu thông tin hữu ích cho các đối tượng
sử dụng thông tin, không phải chỉ cho cơ quan thuế. Tiêu chí SMEs áp dụng được tán thành
nhiều là kết hợp giữa tiêu chí định tính theo quy định của IASB và tiêu chí định lượng dựa
trên số lượng lao động, vốn hay doanh thu.
IFRS for SMEs được xem là một trong những giải pháp thích hợp với SMEs VN. Tuy
nhiên, khả năng áp dụng thích hợp tùy thuộc vào bối cảnh kinh tế, xã hội của từng quốc gia.
Các chuyên gia đều ủng hộ điều chỉnh IFRS for SMEs trước mắt và hướng tới áp dụng hoàn
toàn IFRS for SMEs đối với các công ty chưa niêm yết theo đúng tiêu chí quy định phạm vi
áp dụng IFRS for SMEs của IASB.
4.3 Phân tích và bàn luận kết quả nghiên cứu định lượng
4.3.1 Thống kê đặc điểm của DN khảo sát
4.3.1.1 Hình thức pháp lý, hình thức sở hữu, lĩnh vực kinh doanh, kiểm toán BCTC
là cơ quan thuế (96,9%), chủ DN (86%), ngân hàng (67,1%) và ở mức tương đối là nhà đầu
tư (43,5%). Một loạt kết quả kiểm định Chi-square đã khẳng định có sự khác nhau trong
nhận thức giữa SMEs có quy mô khác nhau về đối tượng sử dụng thông tin chính của BCTC
SMEs là nhà đầu tư (Chi-square = 15,820, df = 2, Sig. = 0,000), ngân hàng (Chi-square =
19,008, df = 0, Sig. = 0,000), các đối tượng còn lại như cơ quan thuế, chủ DN, nhân viên,
nhà cung cấp, khách hàng không có sự khác biệt.
Khác với kỳ vọng về mục đích sử dụng BCTC theo quy định của chuẩn mực kế toán,
DN tham gia khảo sát đều xác nhận sử dụng BCTC chủ yếu để tính thuế TNDN để hoàn
thành BC thuế và đáp ứng yêu cầu quản lý từ các cơ quan NN (> 80%). Tỷ lệ này nhất quán
với nhận định về đối tượng sử dụng thông tin BCTC của SMEs đã phân tích ở trên. Điều đó
càng khẳng định vai trò của BCTC đối với SMEs VN vẫn thật sự chỉ quan trọng để phục vụ
cho yêu cầu quản lý từ cơ quan NN, BCTC cũng chưa thật sự phát huy vai trò cung cấp
thông tin để ra quyết định cho các đối tượng sử dụng thông tin. Một loạt kết quả kiểm định
Chi-square xác định có sự khác nhau trong nhận thức giữa các SMEs có quy mô khác nhau
về mục đích sử dụng BCTC SMEs là để tăng mức tín nhiệm từ nhà cung cấp (Chi-square =
7,155, df = 2, Sig. = 0,028), để nộp hồ sơ vay vốn ngân hàng (Chi-square = 11,030, df = 2,
Sig. = 0,004) và để đáp ứng yêu cầu quản lý nội bộ (Chi-square = 19,678, df = 2, Sig. =
0,000).
4.3.2.2 Mức độ tuân thủ chuẩn mực và chất lượng thông tin BCTC SMEs
Mức độ tuân thủ chuẩn mực của SMEs được đa số đối tượng khảo sát đánh giá ở mức
cao. Kiểm định Chi-square kết luận có sự liên hệ giữa quy mô (Chi-square = 27,522, df = 4,
Sig. = 0,000), hình thức sở hữu vốn (Chi-square = 40,354, df = 2, Sig. = 0,000) và mức độ
tuân thủ chuẩn mực. SMEs có quy mô lớn, DN có VĐTNN có mức độ tuân thủ chuẩn mực
cao hơn SMEs còn lại. Các lý do được đề nghị nhiều là kế toán viên nhận thức tốt vể chuẩn
mực kế toán (67,0%), trình độ chuyên môn của KTT cao (54,1%) và chủ DN/ nhà quản lý
quan tâm đến công việc kế toán (52,7%). Tuy nhiên, chỉ có 19,4% DN khẳng định việc tuân
thủ cao là do DN nhận thức được lợi ích cao hơn chi phí khi tuân thủ.
23
ra quyết định đối với SMEs tổ chức dưới dạng công ty gia đình…, nhưng khoảng 60% DN
đánh giá IFRS for SMEs cần thiết đối với nhu cầu của họ trong xu hướng VN ngày càng hội
nhập với kế toán quốc tế.
4.3.3.2 Kiểm định các giả thuyết liên quan nhu cầu của SMEs cần áp dụng IFRS for
SMEs
Phân tích sâu hơn về tác động của các nhân tố thuộc đặc điểm của DN đến nhu cầu áp
dụng IFRS for SMEs, tác giả sử dụng kiểm định Chi-square để kiểm định tương quan giữa
các biến độc lập và phụ thuộc trong mô hình. Kết quả cho thấy nhu cầu cần áp dụng IFRS
for SMEs khác nhau đáng kể ở hầu hết tất cả các đặc điểm của SMEs, chỉ có 2 biến lĩnh vực
kinh doanh, hình thức sở hữu là không có tương quan với nhu cầu cần IFRS for SMEs.
Kết quả này là dấu hiệu ban đầu khẳng định đặc điểm SMEs (môi trường kinh doanh
quốc tế, cơ cấu tổ chức quốc tế, quy mô…) có ảnh hưởng đến nhu cầu cần áp dụng IFRS for
SMEs. Đối với hình thức pháp lý, kết quả khá thú vị là 100% DN tư nhân đều chọn không