CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ PHÁT TRIỂN CÂY CÀ PHÊ BỀN VỮNG
1.1. Cơ sở lý luận về phát triển bền vững
1.1.1. Khái niệm phát triển bền vững
Năm 1987 Hội đồng thế giới về môi trường và phát triển đã đưa ra khái niệm:
"Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng các nhu cầu của thế hệ hiện tại mà
không làm tổn hại đến khả năng của các thế hệ tương lai đáp ứng các nhu cầu
của họ"
Quan điểm của riêng của bản thân phải phát triển bền vững cây cà phê, vì cây
cà phê là cây truyền thống và trong tương lai vẫn là cây chủ lực của huyện Cư
Mgar; sản phẩm cà phê nhân là sản phẩm đặc thù nằm trong khu vực vùng nguyên
liệu của thương hiệu cà phê Buôn Ma Thuột; cây cà phê đã giải quyết việc làm cho
người nông dân, góp phần xóa đói giảm nghèo, ổn định thu ngân sách và quyết
định phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn. Phát triển bền vững cây cà phê trồng
trên địa bàn huyện nhằm ổn định diện tích theo quy hoạch, năng suất tăng một cách
hợp lý, chất lượng cà phê bảo đảm tiêu chuẩn và hiệu quả kinh tế của người trồng
cà phê được tăng liên tục trước mắt cũng như lâu dài góp phần xóa đói giảm
nghèo
1.1.2. Phát triển nông nghiệp bền vững
1.1.2.1. Sản xuất nông nghiệp
1.1.2.2. Sự cần thiết phát triển nông nghiệp bền vững
1.1.2.3. Nội dung phát triển nông nghiệp bền vững
1.1.3. Quản lý Nhà nước trong phát triển nông nghiệp bền vững
1.1.3.1. Nhà nước quản lý kinh tế :Tạo lập môi trường và điều kiện cho hoạt
động kinh doanh; Định hướng và hướng dẫn phát triển kinh tế; Tổ chức; Điều tiết;
Kiểm tra
1.1.3.2. Quản lý Nhà nước phát triển nông nghiệp bền vững
Quản lý Nhà nước ở địa phương cần triển khai các cơ chế chính sách của
2.1. Vai trò của cây cà phê đối với huyện Cư Mgar
2.2.1. Tổng quan cây cà phê trên địa bàn huyện
Trên địa bàn huyện có 5 doanh nghiệp và 23.200 hộ dân trồng cà phê, trong
đó số hộ có quy mô dưới 0,5 ha chiếm khoảng 35 %, hộ có quy mô diện tích từ 0,5
đến dưới 1 ha chiếm khoảng 34 % và quy mô diện tích từ 1 đến dưới 2 ha gần 24
% số hộ; còn lại từ 2 ha trở lên chỉ có hơn 7 % số hộ canh tác cà phê. Cho nên có
thể nói sản xuất cà phê huyện Cư Mgar là quy mô nhỏ lẻ, manh mún
Sản phẩm cà phê nhân Robusta của huyện Cư Mgar được chứng nhận đăng bạ
chỉ dẫn địa lý Buôn Ma thuột
2.1.2. Vai trò của cây cà phê trong phát triển kinh tế xã hội của huyện
Huyện Cư Mgar là một trong những vùng tập trung về sản xuất cà phê của
tỉnh Đăk Lăk. Trong lĩnh vực nông nghiệp của huyện , sản xuất cà phê giữ vị trí
quan trọng ảnh hưởng lớn tới giá trị sản lượng nông nghiệp. Giai đoạn năm 1999 2009, giá trị sản xuất nông nghiệp chiếm bình quân 77%, so với giá trị tổng sản
lượng sản xuất trên địa bàn huyện; giá trị sản xuất cà phê chiếm bình quân 75% so
với giá trị sản xuất nông nghiệp và chiếm bình quân 60 % so với giá trị tổng sản
lượng sản xuất trên địa bàn huyện
2.2. Thực trạng phát triển cây cà phê huyện Cư Mgar năm 1999 – 2010
2.2.1. Quy mô diện tích, năng suất
Do tác động của giá cả thị trường, diện tích cà phê ở huyện Cư Mgar đã gia
tăng với tốc độ nhanh, năm 1999 toàn huyện có 26.786 ha, đến năm 2010, có
34.081 ha, tăng gần 1,3 lần; Năm 1999, sản lượng đạt 40.500 tấn cà phê nhân, năm
2009 đạt 79.633 tấn cà phê nhân năng suất đạt 2,5 tấn/ha tăng gần gấp 2 lần và
chiếm hơn 20% sản lượng cà phê cả tỉnh Đăk Lăk
2.2.2. Người trồng cà phê
Trong sản xuất cà phê trên địa bàn huyện Cư Mgar, hình thức tổ chức sản
xuất chủ yếu là kinh tế hộ, sự phát triển bền vững trong sản xuất của hộ sẽ ảnh
hưởng tới hiệu quả của ngành này
Kinh tế trang trại trồng cà phê
huyện
Khuyến nông và dạy nghề
Từ năm 2005, huyện tập trung cho công tác khuyến nông, trong đó hướng dẫn
người nghèo cách làm ăn là một chương trình mục tiêu trong công tác xoá đói giảm
nghèo
Thực hiện các chính sách hỗ trợ hộ nghèo trồng cà phê
Giai đoạn năm 2006 – 2009, Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Cư Mgar
phối hợp với các xã, thị trấn, các hội, đoàn thể hướng dẫn, xác nhận và cho các tổ
hộ nghèo vay vốn để đầu tư phát triển sản xuất
Phát triển cơ sở hạ tầng
Đến năm 2010, tất cả các tuyến đường giao thông từ huyện đến xã đã được
nhựa hoá; 100% đường ở trung tâm các xã và 20% đường thôn buôn cũng hoàn
thành nhựa hoá
Chương trình phát triển thủy lợi giai đoạn năm 1999 – 2010, được triển khai
thực hiện đúng tiến độ; nhiều công trình hồ đập đã được xây dựng mới hoặc nâng
cấp với giá trị hàng chục tỷ đồng
Điều tiết phân phối
Giai đoạn năm 1999 - 2009, thu ngân sách trên địa bàn bình quân năm sau
cao hơn năm trước hơn 20%. Năm 2009, thu ngân sách trên địa bàn gần 131 tỷ
đồng bằng 48% tổng chi ngân sách huyện, năm 2010 ước thu ngân sách trên địa
bàn gần 126 tỷ đồng; trong đó hơn 80% nguồn thu ngân sách huyện từ thuế giá trị
gia tăng kinh doanh mua bán hạt cà phê
Gíao dục, y tế, thông tin
Nông dân trên địa bàn huyện được tiếp cận chăm sóc sức khoẻ từ tuyến xã
(trạm xá) đến huyện (bệnh viện đa khoa). Trẻ em được tiếp cận giáo dục từ mầm
non đến hết phổ thông; đến nay toàn huyện đã phổ cập trung học cơ sở. Tất cả các
xã của huyện Cư Mgar đã có điểm bưu điện văn hóa xã; mạng viễn thông đã phủ
sóng toàn huyện. Năm 2008, huyện Cư Mgar đã xây dựng được trang Web, thường
luật pháp quốc gia về độ tuổi, giờ làm việc, điều kiện làm việc, thu nhập, an toàn
lao động
Hình thức sản xuất nông hộ thiếu sự liên kết với nhau như hiện nay là khó
khăn lớn để nâng cao chất lượng nguồn nguyên liệu cà phê
Thu nhập của người trồng cà phê chưa ổn định,còn thấp trong chuỗi giá trị gia
tăng của sản phẩm
Hạn chế của quản lý Nhà nước cấp huyện
Kinh tế
Đến nay huyện Cư Mgar chưa có kế hoạch triển khai đề án phát triển cà phê
bền vững cả về kinh tế - xã hội – môi trường
Huyện chưa thể hiện được vai trò trung gian, liên kết, hỗ trợ và đảm bảo
lợi ích hài hoà của 4 nhà: Nhà nước, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp, và nhà
nông
Huyện chưa phối hợp tốt với các ngành chức năng để kiểm tra, thanh tra theo quy
định hàng năm, nên vẫn xảy ra vi phạm pháp luật ở một số hộ, trang trại, doanh nghiệp
sản xuất kinh doanh cà phê
Huyện Cư Mgar chưa xây dựng riêng thương hiệu sản phẩm, thương hiệu
doanh nghiệp; hiện nay cà phê nhân xô của huyện Cư Mgar thuộc chỉ dẫn địa lý
của cà phê Buôn Ma Thuột
Trên địa bàn huyện chưa có khu công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tập trung.
Huyện chưa kêu gọi đầu tư được cơ sở chế biến, cũng như cơ sở cung cấp dịch vụ
tập trung có quy mô vừa và lớn hỗ trợ cho sản xuất cà phê
Xã hội
Lao động trên địa bàn chủ yếu là lao động phổ thông trong lĩnh vực nông
nghiệp, chưa có nhiều lao động có trình độ chuyên môn. Đến nay huyện chưa có
cơ sở đào tạo nghề cho các hộ nông dân
Việc quản lý các lao động làm thuê theo thời vụ sản xuất cà phê còn bất cập
Môi trường
Việc quản lý lâm nghiệp của huyện còn nhiều yếu kém và “lực bất tòng tâm”
khoa học kỹ thuật, môi trường sinh thái, vệ sinh an toàn thực phẩm, chưa thường
xuyên và triệt để. Các hoạt động khoa học - công nghệ và công tác khuyến nông
chưa đáp ứng kịp yêu cầu của thực tiễn sản xuất
Cơ sở hạ tầng chưa đảm bảo để đáp ứng cho việc phát triển sản xuất cà phê
như: đường giao thông, công trình thủy lợi, sân phơi, máy móc thiết bị chế biến, hệ
thống kho bảo quản
Mô hình liên kết “4 nhà”: Nhà nước - Nhà khoa học - Nhà nông - Nhà doanh
nghiệp chưa rõ ràng, khả năng liên kết kém, ít linh hoạt trong nhiều khâu, nhiều
công đoạn
CHƯƠNG 3
GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CẤP HUYỆN
VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÂY CÀ PHÊ
GIAI ĐOẠN 2011 - 2015 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2020
3.1. Mục tiêu và định hướng phát triển cây cà phê của huyện Cư Mgar
3.1.1. Bối cảnh phát triển
Hiện nay Nhà nước có nhiều cơ chế chính sách hỗ trợ cho sản xuất kinh
doanh cà phê; về phía tỉnh Đăk Lăk có quyết định số 41/2008/QĐ-UBND, ngày
17/11/2008, kèm theo đề án phát triển cà phê bền vững đến năm 2015 và định
hướng đến năm 2020; Quyết định số 18/2010/QĐ-UBND, ngày 30/6/2010 về ban
hành “Quy chế quản lý, sử dụng chỉ dẫn địa lý cà phê Buôn Ma Thuột đối với sản
phẩm cà phê nhân Robusta”; về phía huyện Cư Mgar có nghị quyết đại hội đảng bộ
huyện Cư Mgar nhiệm kỳ 2010 – 2015; trong đó có kế hoạch xây dựng chương
trình phát triển cà phê bền vững
3.1.2. Mục tiêu chung
Phát triển cà phê bền vững trên cơ sở hài hòa các mặt: kinh tế, xã hội, môi
trường và an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội
3.1.3. Mục tiêu phát triển bền vững cây cà phê đến năm 2015
* Duy trì ổn định 28.000 ha, sản lượng đạt bình quân 96.000 tấn nhân/niên vụ;
nông dân tự chọn lọc. Do đó, cà phê cho năng suất thấp, hạt nhỏ, không đồng đều.
Để khắc phục tình trạng này, các nhà khoa học đã nghiên cứu tạo giống vô tính cho
năng suất cao, cỡ hạt to và tính kháng bệnh gỉ sắt
Tăng cường cây che bóng trong vườn càphê
Để xây dựng hệ thống cây che bóng, giải pháp mang tính khả thi là chọn cây
đa tác dụng, vừa có sản phẩm thu hoạch, vừa che bóng, cho phép khai thác hợp lý
đất đai và không gian, rải vụ thu hoạch
Chấn chỉnh khâu thu hoạch
Tuyệt đối không thu hoạch quả xanh. Việc thu hoạch quả xanh không những
làm giảm chất lượng mà còn gây thất thu nghiêm trọng về sản lượng. Nếu thu
hoạch toàn bộ quả xanh thì sự hao hụt lên đến 20%
Đầu tư cho công đoạn chế biến phơi sấy
Thu hoạch cà phê vào mùa nắng, có thể lợi dụng ánh nắng mặt trời để phơi
sấy
Liên kết
Các hộ nông dân riêng lẻ, manh mún, liên kết hình thành các nhóm hộ, các
câu lạc bộ và các hợp tác xã. Hình thành các hợp tác xã chuyên ngành cà phê, gồm
những người cùng sản xuất ra sản phẩm cà phê
3.2.2. Gỉai pháp đối với Nhà nước
* Tạo lập môi trường và điều kiện cho hoạt động kinh doanh
Trợ giúp pháp lý cho các hộ nông dân trong sản xuất, kinh doanh, nhằm hạn
chế những thiệt hại gây ra do thiếu hiểu biết về pháp luật; đồng thời có những hình
thức tiếp thị, quảng bá, tuyên truyền rộng rãi các dạng sản phẩm cà phê. Duy trì
phát triển hoạt động của sàn giao dịch cà phê Buôn Ma Thuột. Hỗ trợ xây dựng,
quảng bá thương hiệu cà phê Buôn Ma Thuột (trong đó có cà phê huyện Cư Mgar)
Ngân sách Nhà nước đầu tư cơ sở hạ tầng, trước hết là phát triển thuỷ lợi
* Định hướng và hướng dẫn phát triển kinh tế
Quy họach các vùng trọng điểm thâm canh cây cà phê, giảm diện tích cà phê,
dịch vụ phục vụ nông nghiệp nói chung và sản xuất cà phê nói riêng theo luật
quản lý thuế
* Chi ngân sách
Hàng năm ngân sách huyện hỗ trợ cùng với nguồn vốn của ngân hàng chính
sách cho hộ nghèo vay phát triển sản xuất, trong đó phần lớn là các hộ trồng cà phê
* Kiểm tra
Huyện Cư Mgar phối hợp với các ngành chức năng để kiểm tra việc tuân thủ
luật pháp trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh cà phê
3.3. Hiệu quả mang lại từ các giải pháp
3.3.1. Kinh tế
Phát huy lợi thế của vùng chuyên canh trồng cà phê và bảo đảm nguồn thu
ngân sách huyện được ổn định theo hướng nuôi dưỡng nguồn thu một cách bền
vững
Đa dạng hoá cây trồng trong vườn cà phê chẳng những có tác dụng nâng cao
thu nhập cho nông dân từ 15 – 30% so với trồng thuần cà phê, mà còn có tác dụng
cải thiện điều kiện tiểu khí hậu trong vườn cây, nâng cao độ phì nhiêu của đất, hạn
chế hiện tượng xói mòn rửa trôi, hàm lượng chất hữu cơ trong đất tăng 24 – 26%
Việc triển khai và áp dụng tiêu chuẩn của các loại hình cà phê có chứng nhận
đã làm tăng giá trị của cà phê xuất khẩu
Nông dân sản xuất cà phê tham gia vào các nhóm nông dân liên kết với cùng
mục tiêu, thông qua đó giúp họ tham gia vào hiệp hội cà phê và họ có thể cùng nhau
hoạch định kế hoạch sản xuất, điều tiết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
3.3.2. Xã hội
Kiến thức, ý thức của người sản xuất về bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khỏe
người lao động, an toàn trong sản xuất, mối quan tâm về giáo dục, phát triển cộng
đồng đã được nâng cao rõ rệt sau khi nắm bắt các tiêu chí của các tiêu chuẩn
Nâng cao dân trí cho đồng bào dân tộc vùng sâu, vùng xa, phát huy nguồn lực
lao động tại chỗ, góp phần xoá đói giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách giữa nông
5. Phòng ngừa rủi ro
Về tạm trữ khi giá cà phê thế giới xuống thấp, đề xuất hai hình thức: Hỗ trợ
trực tiếp cho nông dân và hỗ trợ thông qua doanh nghiệp, nhưng đều phải đảm bảo
cho nông dân có lãi từ 30% trở lên. Tiến tới Nhà nước xây dựng quỹ bảo hiểm rủi
ro về giá cà phê cho nông dân
6. Liên kết
Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho hiệp hội cà phê hoạt động để liên kết
chính quyền địa phương với người sản xuất cà phê, với thị trường và với các khách
hàng nhằm tạo chuỗi giá giá trị gia tăng của sản phẩm cà phê
KẾT LUẬN
Quan điểm của bản thân, huyện Cư Mgar nói riêng và ngành cà phê nói chung
phải phát triển bền vững cây cà phê, vì cây cà phê là cây truyền thống và trong
tương lai vẫn là cây chủ lực của huyện Cư Mgar; sản phẩm cà phê nhân là sản
phẩm đặc thù nằm trong khu vực vùng nguyên liệu của thương hiệu cà phê Buôn
Ma Thuột; cây cà phê đã giải quyết việc làm cho người nông dân, góp phần xóa
đói giảm nghèo, ổn định thu ngân sách và quyết định phát triển kinh tế xã hội trên
địa bàn. Phát triển bền vững cây cà phê trồng trên địa bàn huyện nhằm ổn định
diện tích theo quy hoạch, năng suất tăng một cách hợp lý, chất lượng cà phê bảo
đảm tiêu chuẩn; hiệu quả kinh tế của người trồng cà phê được tăng liên tục trước
mắt cũng như lâu dài, đi đôi với hiệu quả bền vững về môi trường và hiệu quả bền
vững về mặt xã hội trên địa bàn huyện Cư Mgar nói riêng và các tỉnh Tây nguyên
nói chung