quan hệ lợi ích kinh tế giữa hộ nông dân và doanh nghiệp ngành cà phê ở huyện cư m’gar, tỉnh đăk lăk - Pdf 14

Lời Cảm Ơn
Trong quá trình nghiên cứu đề tài khoa học này, tôi đã nhận được nhiều sự
động viên, giúp đỡ quý báu.
Trước hết, tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo hướng
dẫn – Thạc sỹ Nguyễn Hữu Lợi, trường khoa Kinh tế chính trị đã tận tình dành nhiều
thời gian, công sức trực tiếp hướng dẫn chúng tôi trong suốt qua trình xây dựng và
hoàn thành khóa luận này.
Tôi cũng xin cám ơn Ban giám hiệu trường Đại học Kinh Tế - ĐH Huế, Khoa
kinh tế chính trị cùng toàn thể các thầy cô giáo đã tạo mọi điều kiện nên chúng tôi có
thể hoàn thành để tài nghiên cứu khoa học.
Xin chân thành cảm ơn phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Cư
M’gar, tỉnh Đăk Lăk đã tạo điều kiện cho tôi thực tập tại cơ quan và tận tình giúp đỡ
tôi trong suốt quá trình thực tập để hoàn thành khóa luận.
Với tất cả sự cố gắng và nổ lực của bản thân, tôi đã cố gắng hoàn thành khóa
luận này. Song chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong quý thầy cô
giáo và mọi người quan tâm đóng góp ý kiến cho đề tài được hoàn thiện hơn.
Một lần nữa, chúng tôi xin chân thành cảm ơn!
Đăk Lăk, tháng 5 năm 2014
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Thu Sương
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ cái viết tắt Nghĩa
4C Bộ nguyên tắc chung cho cộng đồng cà phê
Common Code for the Coffee Community
ACP Dự án cạnh tranh nông nghiệp
Agriculture Compete Project
BHXH Bảo hiểm xã hội
BVTV Bảo vệ thực vật
GDP Tổng sản phẩm nội địa
Gross Domestic Product
LIKT Lợi ích kinh tế

1.2.2. Sự phát triển của thị trường 17
1.2.3. Hệ thống pháp luật 18
1.2.4. Tập quán văn hóa (văn hóa kinh doanh, tập quán buôn bán của người nông dân trồng cà phê) 18
1.3. KINH NGHIỆM VỀ GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ LỢI ÍCH KINH TẾ GIỮA HỘ NÔNG DÂN VÀ DOANH NGHIỆP TRONG MỘT SỐ
NGÀNH SẢN XUẤT NÔNG SẢN Ở MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG Ở VIỆT NAM 19
1.3.1. Kinh nghiệm tỉnh Lâm Đồng 19
1.3.2. Kinh nghiệm “Cánh đồng mẫu lớn” giữa nông dân trồng lúa và doanh nghiệp ở các tỉnh miền Tây
Nam Bộ 20
1.3.3. Bài học kinh nghiệm cho xây dựng quan hệ lợi ích kinh tế giữa nông dân và doanh nghiệp ngành cà
phê ở huyện Cư M’gar, tỉnh Đăk Lăk 22
CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG QUAN HỆ LỢI ÍCH KINH TẾ GIỮA NÔNG DÂN VÀ DOANH NGHIỆP NGÀNH CÀ PHÊ Ở HUYỆN CƯ
M’GAR, TỈNH ĐĂK LĂK 24
2.1. TỔNG QUAN VỀ HUYỆN CƯ M’GAR, TỈNH ĐĂK LĂK 24
2.1.1. Vị trí địa lý 24
2.1.2. Về tự nhiên 24
2.1.3. Về kinh tế 26
2.1.3. Về xã hội 27
2.2 THỰC TRẠNG CỦA QUAN HỆ LỢI ÍCH KINH TẾ GIỮA HỘ NÔNG DÂN VÀ DOANH NGHIỆP NGÀNH CÀ PHÊ HUYỆN CƯ M’GAR,
TỈNH ĐĂK LĂK 28
2.2.1 Tổng quan về các chủ thể 28
2.2.2 Về các hình thức hợp đồng 31
2.2.3. Về việc thực hiện quan hệ lợi ích kinh tế giữa nông dân và doanh nghiệp ngành cà phê qua thương
lái, các trung gian không chuyên kinh doanh cà phê 42
2.3. ĐÁNH GIÁ MỐI QUAN HỆ LỢI ÍCH KINH TẾ GIỮA HỘ NÔNG DÂN VÀ DOANH NGHIỆP NGÀNH CÀ PHÊ Ở HUYỆN CƯ M’GAR 43
2.3.1. Thành tựu 43
2.3.2. Hạn chế 45
2.3.3 Nguyên nhân 48
CHƯƠNG 3:
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM BẢO ĐẢM HÀI HÒA QUAN HỆ LỢI ÍCH KINH TẾ GIỮA NÔNG DÂN VÀ

NỘI DUNG 11
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUAN HỆ LỢI ÍCH KINH TẾ
GIỮA NÔNG DÂN VÀ DOANH NGHIỆP NGÀNH CÀ PHÊ 11
1.1. BẢN CHẤT VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA LỢI ÍCH KINH TẾ 11
1.1.1. Lợi ích kinh tế, quan hệ lợi ích kinh tế 11
1.1.2. Quan hệ lợi ích kinh tế giữa nông dân và doanh nghiệp ngành cà phê 12
1.1.3. Đặc điểm của quan hệ lợi ích kinh tế giữa nông dân và doanh nghiệp ngành cà phê 13
1.2. NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUAN HỆ LỢI ÍCH KINH TẾ GIỮA HỘ NÔNG DÂN VÀ DOANH NGHIỆP NGÀNH CÀ PHÊ 17
1.2.1. Trình độ phát triển của nền kinh tế 17
1.2.2. Sự phát triển của thị trường 17
1.2.3. Hệ thống pháp luật 18
1.2.4. Tập quán văn hóa (văn hóa kinh doanh, tập quán buôn bán của người nông dân trồng cà phê) 18
1.3. KINH NGHIỆM VỀ GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ LỢI ÍCH KINH TẾ GIỮA HỘ NÔNG DÂN VÀ DOANH NGHIỆP TRONG MỘT SỐ
NGÀNH SẢN XUẤT NÔNG SẢN Ở MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG Ở VIỆT NAM 19
1.3.1. Kinh nghiệm tỉnh Lâm Đồng 19
1.3.2. Kinh nghiệm “Cánh đồng mẫu lớn” giữa nông dân trồng lúa và doanh nghiệp ở các tỉnh miền Tây
Nam Bộ 20
1.3.3. Bài học kinh nghiệm cho xây dựng quan hệ lợi ích kinh tế giữa nông dân và doanh nghiệp ngành cà
phê ở huyện Cư M’gar, tỉnh Đăk Lăk 22
CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG QUAN HỆ LỢI ÍCH KINH TẾ GIỮA NÔNG DÂN VÀ DOANH NGHIỆP NGÀNH CÀ PHÊ Ở HUYỆN CƯ
M’GAR, TỈNH ĐĂK LĂK 24
2.1. TỔNG QUAN VỀ HUYỆN CƯ M’GAR, TỈNH ĐĂK LĂK 24
2.1.1. Vị trí địa lý 24
2.1.2. Về tự nhiên 24
2.1.3. Về kinh tế 26
2.1.3. Về xã hội 27
2.2 THỰC TRẠNG CỦA QUAN HỆ LỢI ÍCH KINH TẾ GIỮA HỘ NÔNG DÂN VÀ DOANH NGHIỆP NGÀNH CÀ PHÊ HUYỆN CƯ M’GAR,
TỈNH ĐĂK LĂK 28

BẢNG 2.2: CÁC LOẠI HÌNH SẢN XUẤT KINH DOANH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CƯM’GAR 30
BẢNG 2.3: KẾT QUẢ SXKD CỦA CÔNG TY CÀ PHÊ EATUL TỪ NĂM 2009-2012 39
BẢNG 2.4: PHƯƠNG THỨC BÁN CÀ PHÊ CỦA MỘT SỐ HỘ NÔNG DÂN Ở CƯ M’GAR 43
BẢNG 2.5: TÌNH HÌNH THU NHẬP TỪ SẢN XUẤT CÀ PHÊ CỦA NÔNG HỘ 44
BẢNG 2.6: CHI TIẾT CHI PHÍ SẢN XUẤT TRÊN 1 HA CÀ PHÊ CỦA NÔNG DÂN 47
BẢNG 2.7: TỔNG HỢP SỐ LIỆU HUẤN LUYỆN ĐÀO TẠO, THÔNG TIN TUYÊN TRUYỀN 49
BẢNG 2.8: TÌNH HÌNH LAO ĐỘNG VÀ TRÌNH ĐỘ HỌC VẤN CỦA NÔNG HỘ 51
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Hữu Lợi
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, cùng với sự phát triển về mọi mặt của con người kéo theo đời sống
của con người được nâng cao, nhu cầu về các mặt hàng có thể thỏa mãn được cuộc
sống cũng được quan tâm. Trong những năm qua, cà phê luôn giữ vai trò là một trong
số ít mặt hàng trọng yếu của nền kinh tế và dần khẳng định chỗ đứng của mình ở thị
thường trong nước cũng như thế giới. Nó không chỉ đáp ứng nhu cầu của con người
mà nó còn là nguồn thu nhập quan trọng của nhiều hộ gia đình vùng Tây Nguyên.
Huyện Cư M’gar có diện tích tự nhiên là 82.443 ha với 70% là đất đỏ Bazan,
trong đó đất nông nghiệp 61.493 ha. Điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển các
loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao, nhất là cà phê. Trước năm 1975, chỉ có 2
đồn điền cà phê với diện tích hơn 100 ha; sau giải phóng hình thành một số nông
trường cà phê với diện tích vài trăm ha; từ năm 1990, người dân tự ươm giống và bắt
đầu trồng đại trà cây cà phê, đến năm 2009 toàn huyện Cư M’gar có 34.081 ha cà phê,
đây là cây chủ lực, là sản phẩm chủ yếu, chiếm hơn 70% giá trị từ sản xuất nông
nghiệp, tác động lớn đến phát triển kinh tế xã hội hàng năm của huyện.
Tuy nhiên, việc sản xuất, kinh doanh và tiêu thụ cà phê ở huyện Cư M’gar cũng
như ở các huyện ở Đăk Lăk đang gặp nhiều vấn đề khó khăn, cản trở đòi hỏi phải sớm
được giải quyết. Vấn đề giá cả và chất lượng cà phê còn thiếu tính ổn định, đặc biệt xuất
hiện nhiều bất cập mới nhất là trong kinh doanh và tiêu thụ. Đó là thực trạng “ được
mùa mất giá, được giá mất mùa” đối với cà phê thường xuyên xảy ra, nông dân nhiều
khi điêu đứng vì sự biến động của giá cả, thua lỗ nặng vì giá cà phê tụt giảm. Doanh

Cư M’gar, tỉnh Đăk Lăk” của Phạm Quốc Duy, năm 2012;
Tuy nhiên, nền kinh tế luôn vận động và biến đổi theo thời gian. Mỗi đề tài có
một cái nhìn khác nhau, vì vậy trong quá trình nghiên cứu và tiếp thu có chọn lọc tôi
muốn đưa vào đề tài của mình một cái nhìn mới và riêng.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1. Mục tiêu
Mục tiêu làm rõ vai trò, tiềm năng và đánh giá thực trạng của quan hệ lợi ích kinh
tế ở huyện Cư M’gar, tỉnh Đăk Lăk trên cơ sở đó đề xuất phương hướng và các giải pháp
cơ bản để đảm bảo hài hòa quan hệ lợi ích kinh tế giữa hộ nông dân và danh nghiệp ngành
cà phê ở huyện Cư M’gar, tỉnh Đăk Lăk.
Nguyễn Thị Thu Sương
8
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Hữu Lợi
3.2. Nhiệm vụ
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về mối quan hệ lợi ích kinh tế giữa nông dân
và doanh nghiệp trong ngành cà phê. Nghiên cứu, tổng kết kinh nghiệm phát triển của
một số quốc gia và một số địa phương trong nước về quan hệ lợi ích kinh tế, rút ra kinh
nghiệm có thể vận dụng vào quan hệ lợi ích kinh tế ở huyện Cư M’gar, tỉnh Đăk Lăk.
Phân tích, đánh giá những thành tựu và hạn chế trong việc thực hiện quan hệ
lợi ích kinh tế giữa nông dân và doanh nghiệp ngành cà phê ở huyện Cư M’gar, tỉnh
Đăk Lăk.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Về mối quan hệ lợi ích kinh tế giữa hai chủ thể trong ngành cà phê là nông dân
và doanh nghiệp ngành cà phê ở huyện Cư M’gar, tỉnh Đăk Lăk.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Địa bàn huyện Cư M’gar, tỉnh Đăk Lăk.
- Về thời gian: Giai đoạn 2009 – 2012 và những giải pháp đến năm 2020.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để làm rõ đối tượng nghiên cứu, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu

dân và doanh nghiệp ngành cà phê.
Chương 2: Thực trạng về quan hệ lợi ích kinh tế giữa hộ nông dân và doanh
nghiệp ngành cà phê ở huyện Cư M’gar, tỉnh Đăk Lăk giai đoạn 2009 – 2012.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp thúc đẩy quan hệ lợi ích kinh tế giữa hộ
nông dân và doanh nghiệp ngành cà phê ở huyện Cư M’gar, tỉnh Đăk Lăk.
Nguyễn Thị Thu Sương
10
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Hữu Lợi
NỘI DUNG
Chương 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUAN HỆ LỢI ÍCH KINH TẾ
GIỮA NÔNG DÂN VÀ DOANH NGHIỆP NGÀNH CÀ PHÊ
1.1. Bản chất và đặc điểm của lợi ích kinh tế
1.1.1. Lợi ích kinh tế, quan hệ lợi ích kinh tế
- Về lợi ích kinh tế
LIKT là phạm trù kinh tế khách quan xuất hiện trong những điều kiện tồn tại
của con người. Hay nói cách khác, LIKT là mối quan hệ xã hội nhằm thực hiện các
nhu cầu kinh tế của con người, các chủ thể kinh tế. Những nhu cầu kinh tế của con
người khi nó được xác định một cách tự giác, được thừa nhận về mặt xã hội thì nó trở
thành cơ sở, nội dung của LIKT. Về mặt triết học, LIKT biểu hiện những quan hệ
kinh tế khách quan của xã hội, quyết định phương hướng của ý chí và hành động con
người, Ph. Ăngghen đã viết:
“Những quan hệ kinh tế của một xã hội nhất định nào đó biểu hiện trước hết
dưới hình thức lợi ích” [2]. LIKT được xác lập một cách khách quan khi các chủ thể
tham gia các hoạt động kinh tế. Ở đâu có hoạt động sản xuất kinh doanh thì ở đó có
LIKT và các chủ thể sản xuất kinh doanh cũng là chủ thể của LIKT.
- Về quan hệ lợi ích kinh tế
LIKT là lợi ích vật chất mà mỗi chủ thể có được khi tham gia vào quá trình sản
xuất của xã hội. LIKT biểu hiện ở mức độ của cải vật chất mà mỗi chủ thể có được khi
tham gia vào các hoạt động kinh tế của xã hội và để thỏa mãn các nhu cầu kinh tế của

trồng cà phê và doanh nghiệp kinh doanh, chế biến và xuất khẩu cà phê.
QHLIKT giữa nông dân và doanh nghiệp ngành cà phê là sự gắn kết giữa hai
chủ thể này liên quan tới việc sản xuất, chế biến và kinh doanh cà phê với mục đích
khai thác LIKT từ các hoạt động đó.
LIKT từ các hoạt động sản xuất, chế biến và kinh doanh cà phê là động lực dính
kết sự gắn bó giữa nông dân và doanh nghiệp ngành cà phê với nhau và là cơ sở kinh
tế làm phát sinh QHLIKT trong ngành này. Quan hệ này chịu ảnh hưởng của nhiều
yếu tố tác động đến như giá cả, thị trường, vốn, chính sách, chiến lược Ngoài ra còn
có thêm nhiều điều kiện đảm bảo mối quan hệ hài hòa về lợi ích nhưng cũng không ít
những biểu hiện của sự thiếu thống nhất trong mối quan hệ lợi ích này.
Nguyễn Thị Thu Sương
12
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Hữu Lợi
- Bản chất QHLIKT giữa doanh nghiệp và nông dân ngành cà phê
QHLIKT giữa nông dân và doanh nghiệp trong ngành cà phê mang bản chất
kinh tế chính trị - xã hội sâu sắc. Về mặt kinh tế, đó là mối quan hệ giữa công nghiệp
và nông nghiệp; là hai khâu nối tiếp nhau trong quá trình sản xuất… Về mặt chính trị,
quan hệ này là cơ sở vật chất của mối quan hệ liên minh giữa công nhân và nông dân.
Về mặt xã hội, đó là cơ sở nền tảng của mối quan hệ giữa nông thôn và thành thị.
Quan hệ kinh tế giữa nông dân là các chủ thể sản xuất nguyên liệu với doanh
nghiệp chế biến và kinh doanh chịu sự tác động của nhiều nhân tố kinh tế, kỹ thuật,
chính trị, xã hội khác nhau. Về mặt kinh tế, nhân tố có tính qui định mạnh mẽ nhất là
chế độ kinh tế-xã hội, tức chế độ sở hữu và cơ chế vận hành nền kinh tế. Quan hệ kinh
tế giữa nông dân với doanh nghiệp chế biến, kinh doanh còn bị chi phối bởi trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất. Quan hệ này còn phụ thuộc vào đặc điểm ngành
nghề, sản phẩm…
Bản chất của mối QHLIKT giữa nông dân và doanh nghiệp ngành cà phê chính
là đảm bảo quyền lợi, nghĩa vụ các bên để không bên nào bị thiệt hại về kinh tế. Cụ thể
là quyền lợi, nghĩa vụ về kinh tế tài chính như thu nhập, vốn bỏ ra; bình đẳng trước
pháp luật, nghĩa vụ thuế… Hay nói cách khác, QHLIKT được đảm bảo giữa hai chủ

thể hiện cụ thể ở nhiều khía cạnh như vùng nguyên liệu bền vững, giá cả, thị trường,
thương hiệu… Nhất là thương hiệu có ý nghĩa rất quan trọng với các doanh nghiệp
rang xay, chế biến cà phê hơn các doanh nghiệp thu mua.
Vì cùng hướng đến lợi nhuận nên nếu mối QHLIKT giữa hai chủ thể này được
giải quyết hài hòa thì mối quan hệ này sẽ càng trở nên bền vững. Nhưng ngược lại, nếu
trong trường hợp quan hệ lợi ích giữa các bên bất thuận thì sẽ xảy ra tranh chấp giữa
các chủ thể. Mà thông thường phần thua thiệt thường rơi vào chủ thể là người nông
dân trồng cà phê.
1.1.3.2. Sự gắn bó kém bền vững giữa nông dân và doanh nghiệp trong việc
thực hiện quan hệ lợi ích kinh tế ngành cà phê
Hiệu quả của quan hệ lợi ích giữa nông dân và doanh nghiệp ngành cà phê được
thể hiện qua sự gắn bó giữa hai chủ thể này trong quá trình từ việc trồng, sản xuất đến
thu mua và chế biến cà phê. Tuy nhiên, một đặc điểm khá nổi bật trong mối quan hệ
này là sự gắn bó kém bền vững giữa nông dân và doanh nghiệp ngành cà phê.
Nguyễn Thị Thu Sương
14
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Hữu Lợi
Người nông dân thường quan tâm đến lợi ích trước mắt, dễ phá vỡ hợp đồng
với doanh nghiệp nếu thấy có lợi hơn. Nên thường thì quan hệ lợi ích dễ xảy ra xung
đột giữa nông dân và doanh nghiệp.
Nhiều doanh nghiệp đã bán trước ở giá thấp buộc phải gom hàng ở giá cao để xuất
khẩu. Gặp lúc khủng hoảng kinh tế, tín dụng khó khăn, họ không mua được hàng để giao
dẫn đến xù hàng. Nhiều doanh nghiệp bị thiệt hại về vật chất lẫn uy tín của mình.
Nguyên nhân ở đây là do giá cả, giá tăng hay giảm đều gây thiệt hại cho nhóm
này thì cũng cho nhóm khác trong chuỗi cung ứng cà phê. Do đó, tùy vị thế kinh
doanh mà xác định xem giá giảm hay tăng là bất lợi cho chủ thể nào, cho doanh
nghiệp hay nông dân.
Giả sử ta xem có hai nhóm người trong chuỗi cung ứng: nhóm nắm giữ hàng là
nông dân và nhóm cần hàng là doanh nghiệp.
Nông dân Doanh nghiệp

vụ trả bằng cà phê hạt. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến sản lượng cà phê tích trữ
trong dân không còn nhiều vào cuối vụ.
Một số nông hộ khác được vay vốn của ngân hàng cũng phải trả nợ ngay từ đầu vụ
bằng cà phê, dẫn đến tình trạng cung vượt cầu trong cùng thời điểm đầu vụ, khiến cà phê
mất giá. Đã vậy, do chi phí đầu vào như xăng dầu, vật tư nông nghiệp, công lao động…
tăng cao, tình trạng khô hạn, sâu bệnh có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây, cụ
thể như nạn ve sầu tấn công cây cà phê nhưng chưa có thuốc đặc trị nên người trồng cà
phê ngày càng gặp nhiều khó khăn. Ngoài ra, việc người nông dân làm ra sản phẩm cà
phê, nhưng tư thương là người quyết định giá, mọi mua bán cũng đều thông thương lái,
đại lý doanh nghiệp nên tình trạng ép giá vào đầu vụ là không thể tránh khỏi.
1.1.3.4. Quan hệ lợi ích kinh tế giữa nông dân và doanh nghiệp ngành cà phê
chịu ảnh hưởng lớn của cạnh tranh trong hội nhập kinh tế quốc tế
Xu hướng cạnh tranh ngày càng khốc liệt ở hầu hết tất cả các lĩnh vực sản xuất,
tất cà các ngành hàng, là đặc trưng cơ bản trong thị trường thế giới hiện nay. Nhất là
trong vấn đề xuất khẩu mà nổi bật là xuất khẩu nông sản và ngành cà phê không nằm
ngoài xu hướng đó. Những đợt sụt giảm giá cà phê quốc tế hay tình trạng những diện
tích trồng cà phê xuất khẩu thường có năng suất thấp cả về chất lẫn về lượng và nhiều
hộ nông dân còn thiếu năng lực để đối phó với tình trạng bất ổn định về mức thu nhập
thực mà họ thu được từ việc sản xuất cà phê để xuất khẩu; hay vấn đề cạnh tranh với
Nguyễn Thị Thu Sương
16
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Hữu Lợi
các doanh nghiệp cà phê nước ngoài… Tẩt cả những vấn đề này đều ảnh hưởng đến
QHLIKT giữa nông dân và doanh nghiệp ngành cà phê.
Mặt khác, trong quá trình hội nhập quốc tế, quan hệ lợi ích giữa nông dân và
doanh nghiệp ngành cà phê phải chịu sự ràng buộc của các quy tắc kinh tế, thương
mại, tài chính - tiền tệ, đầu tư chủ yếu do các nước phát triển áp đặt; phải chịu sức ép
cạnh tranh bất bình đẳng và sự điều tiết vĩ mô bất hợp lý của các nước phát triển hàng
đầu. Chính điều này đã gây ra nhiều bất lợi cho các doanh nghiệp trong đó có các
doanh nghiệp kinh doanh cà phê cũng như người trồng cà phê. Nếu không nắm rõ các

ngoài thì các doanh nghiệp trong nước càng quan tâm để gắn chặt hơn nữa mối quan
hệ kinh tế với nông dân trồng cà phê. Vì vậy, thị trường phát triển thì các mối
QHLIKT giữa nông dân và doanh nghiệp ngành cà phê càng tốt đẹp hơn.
Ngược lại, nếu thị trường không phát triển, các mối quan hệ kinh tế không rõ
ràng, minh bạch sẽ khiến QHLIKT giữa nông dân và doanh nghiệp có thể không hài
hòa, các chủ thể dễ bị xâm phạm đến lợi ích của nhau, quan hệ càng trở nên rời rạc và
không bền vững.
1.2.3. Hệ thống pháp luật
Pháp luật là một trong những công cụ để nhà nước thực hiện chức năng quản lý
của mình. Hệ thống pháp luật nhất là luật pháp điều chỉnh các quan hệ trong sản xuất
kinh doanh càng hoàn thiện thì càng tạo tiền đề để quan hệ kinh tế minh bạch, hiệu quả
hơn. Trong ngành cà phê cũng vậy, nếu hệ thống luật pháp công bằng, rõ ràng thì
doanh nghiệp hay nông dân trong quá trình trồng, sản xuất hay kinh doanh cà phê đều
phải thực hiện theo chính sách pháp luật của nhà nước mà tôn trọng lợi ích của nhau.
Các quy định của pháp luật vừa hướng các chủ thể hoạt động tích cực vừa là công cụ
để giải quyết các tranh chấp, mâu thuẫn xảy ra trong QHLIKT giữa nông dân và doanh
nghiệp ngành cà phê. Như vậy, hệ thống pháp luật là nhân tố rất quan trọng để mối
QHLIKT giữa nông dân và doanh nghiệp ngành cà phê được đảm bảo hài hòa, tốt đẹp.
1.2.4. Tập quán văn hóa (văn hóa kinh doanh, tập quán buôn bán của người
nông dân trồng cà phê)
Tập quán, thói quen ảnh hưởng trưc tiếp đến cách thức thực hiện lợi ích của
nông dân trồng cà phê. Trong quá trình thu hoạch, tiêu thụ sản phẩm, ngoài trình độ
am hiểu thị trường thì người nông dân trồng cà phê chủ yếu bán sản phẩm theo thói
quen. Có nơi bán trực tiếp cho thương lái ít thực hiện hợp đồng, có nơi thường ký gửi
cho đại lý, công ty, có nơi bán cho đại lý là chủ yếu Các thói quen này có thể ảnh
Nguyễn Thị Thu Sương
18
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Hữu Lợi
hưởng tiêu cực đến mối QHLIKT giữa nông dân và doanh nghiệp ngành cà phê như
thói quen bán cà phê không có hợp đồng và giấy tờ làm cho quan hệ kinh tế này ít

Doanh nghiệp cà phê ở Lâm Đồng thực hiện chính sách hỗ trợ người dân đảm
bảo kỹ thuật, quy trình thu hoạch để đạt được cà phê có chất lượng, năng suất cao.
Khuyến khích các cơ sở chế biến, các doanh nghiệp áp dụng các hệ thống quản lý chất
lượng theo tiêu chuẩn quốc tế và quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm, góp phần nâng cao
chất lượng cà phê. Tăng cường quản lý kỹ thuật, nâng cao chất lượng sản phẩm tại các
vùng trồng cà phê, tăng cường đào tạo cho đội ngũ khuyến nông nhằm chuyển giao tiến
bộ kỹ thuật sản xuất cà phê theo hướng bền vững, nghiên cứu ứng dụng các biện pháp
thâm canh tổng hợp cho từng giống cà phê, từng vùng sinh thái. Chuyển dần tập quán
bón phân tỷ trọng vô cơ cao sang phương thức canh tác hữu cơ bền vững, ứng dụng chế
độ tưới nước khoa học, tiết kiệm, hợp lý trên cơ sở phù hợp cho từng thời kỳ, từng vùng
sinh thái; hướng dẫn triển khai các hoạt động hỗ trợ tiêu thụ cà phê thông qua hợp đồng,
tăng cường công tác khuyến công, khuyến khích nông dân và doanh nghiệp đầu tư công
nghệ chế biến, bảo quản sau thu hoạch nhằm nâng cao chất lượng cà phê theo tiêu chuẩn
Việt Nam. Thực hiện tiêu chuẩn cà phê Lâm Đồng đạt sản xuất cà phê bền vững theo
các tiêu chuẩn 4C (Common Code for the Coffee Community - Bộ nguyên tắc chung
cho cộng đồng cà phê) ở các huyện như Lâm Hà, Di Linh và Bảo Lộc.
Mặt khác, gắn kết nhà máy chế biến với vùng cung cấp nguyên liệu, các cơ sở
chế biến chủ động nguồn nguyên liệu. Tạo mối quan hệ lợi ích hài hòa giữa doanh
nghiệp chế biến và người trồng cà phê, đảm bảo sản xuất cà phê chất lượng cao đáp
ứng nhu cầu của thị trường.
Ngoài ra, hệ thống ngân hàng cũng có chính sách hỗ trợ cho các doanh nghiệp
tiếp cận nhanh nguồn vốn vay và kéo dài thời gian trả nợ để doanh nghiệp chủ động.
Những bài học này sẽ là kinh nghiệm tham khảo rất tốt cho việc phát triển mối
QHLIKT giữa nông dân và doanh nghiệp ngành cà phê ở huyện Cư M’gar.
1.3.2. Kinh nghiệm “Cánh đồng mẫu lớn” giữa nông dân trồng lúa và doanh
nghiệp ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ
Dự án cánh đồng mẫu lớn là mô hình xây dựng vùng sản xuất hàng hóa tập trung
gắn với chế biến, tiêu thụ sản phẩm, thông qua việc tăng cường liên kết bốn nhà (nhà
nước, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp, nhà nông), sản xuất và tiêu thụ nông sản theo
Nguyễn Thị Thu Sương

đồng mẫu lớn và tiến tới thu mua trong vùng nguyên liệu được ưu tiên xem xét thu
mua lúa tạm trữ theo chính sách nhà nước. Hỗ trợ xây dựng, vận hành và quản lý hệ
Nguyễn Thị Thu Sương
21
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Hữu Lợi
thống sấy lúa và khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư khép kín trong mô hình cánh
đồng mẫu lớn bằng vốn, nhân lực.
1.3.3. Bài học kinh nghiệm cho xây dựng quan hệ lợi ích kinh tế giữa nông
dân và doanh nghiệp ngành cà phê ở huyện Cư M’gar, tỉnh Đăk Lăk
Từ các kinh nghiệm đã phân tích ở các doanh nghiệp như trên, có thể rút ra bài
học kinh nghiệm cho xây dựng QHLIKT giữa nông dân và doanh nghiệp cà phê ở
huyện Cư M’gar như sau:
Cần xây dựng các mô hình liên kết cà phê bền vững giữa doanh nghiệp và nông
dân. Doanh nghiệp cần hỗ trợ cho nông dân về các yếu tố đầu vào như giống, kỹ thuật,
phân bón, vốn… Doanh nghiệp còn đóng vai trò đảm bảo khâu tiêu thụ hàng hóa, yếu
tố quan trọng cho việc đảm bảo về LIKT. Còn nông dân phải chủ động liên kết với
doanh nghiệp, cùng doanh nghiệp chủ động áp dụng các bộ tiêu chuẩn quốc tế về chất
lượng cà phê.
Xây dựng cơ chế chính sách khuyến khích các hộ nông dân và doanh nghiệp
thực hiện các mô hình liên kết. Đẩy mạnh công tác khuyến nông. Nhà nước hỗ trợ
doanh nghiệp tham gia mua cà phê để giữ giá như chương trình thu mua tạm trữ.
Thông qua hệ thống ngân hàng, nhà nước hỗ trợ về vốn cho doanh nghiệp và nông dân
trong quá trình sản xuất và kinh doanh cà phê.
Phương thức thực hiện QHLIKT giữa nông dân và doanh nghiệp nên thông qua
hợp đồng, thống nhất về sản lượng, giá cả để tránh xung đột xảy ra và giữ mối liên kết
được bền chặt trên cơ sở tôn trọng lợi ích của nhau.
Ngoài mối liên kết giữa hai chủ thể quan trọng trong ngành cà phê là nông dân
và doanh nghiệp thì mối quan hệ này càng chặt chẽ nếu có thêm sự gắn kết với các chủ
thể khác là nhà nước và nhà khoa học. Nếu được thêm sự hỗ trợ đắc lực của nhà nước và
nhà khoa học thì liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp càng gắn chặt và hài hòa, ổn

04’ độ vĩ Bắc và từ 107
0
55’ đến 108
0
13’kinh độ Đông, với tổng diện
tích 82.443 ha, chiếm 4,2% diện tích tự nhiên toàn tỉnh; với 17 đơn vị hành chính bao
gồm 15 xã và 2 thị trấn; có ranh giới với các huyện như sau:
- Phía Đông giáp huyện Krông Búk và thị xã Buôn Hồ.
- Phía Tây giáp huyện Buôn Đôn và huyện Ea Súp.
- Phía Nam giáp thành phố Buôn Ma Thuột và huyện Krông Pắc.
- Phía Bắc giáp huyện Ea H’leo và huyện Ea Súp.
Huyện nằm ở cửa ngõ phía Bắc của thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh lộ 8 đã
được nhựa nối liền thành phố Buôn Ma Thuột – Cư M’gar – Thị xã Buôn Hồ, phía
Đông Nam của huyện có tuyến Quốc lộ 14 đi qua. Trung tâm huyện nằm cách sân bay
Buôn Ma Thuột khoảng 28 km, vì vậy, với vị trí địa lý này huyện có lợi thế trong
nhiều mặt về giao lưu văn hóa, quan hệ phát triển kinh tế - xã hội đối với các huyện,
thành phố trong vùng và với các tỉnh Tây Nguyên, Duyên hải miền trung và cả nước.
2.1.2. Về tự nhiên
2.1.2.1. Đất đai trồng cà phê
Đất đai là cơ sở đầu tiên, quan trọng nhất để tiến hành trồng trọt. Quỹ đất, tính
chất đất và độ phì nhiêu của đất có ảnh hưởng đến quy mô, cơ cấu, năng suất và sự
phân bố cây trồng. Đất nào, cây ấy. Kinh nghiệm dân gian đã chỉ rõ vai trò của đất đối
với sự phát triển sản xuất nông nghiệp, qua đó khẳng định vai trò của đất đối với phát
triển sản xuất cà phê.
Nguyễn Thị Thu Sương
24
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Hữu Lợi
Ở Cư M’gar, phần lớn cà phê được trồng trên đất bazan, chiếm 84,68% diện
tích, các loại đất khác chiếm diện tích không đáng kể.
Đất bazan là loại đất có đặc tính lý hóa học rất phù hợp để cây cà phê phát triển


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status