HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
TRẦN HOÀNG HIỂU
QUAN HỆ LỢI ÍCH KINH TẾ GIỮA NÔNG DÂN VÀ
DOANH NGHIỆP TRONG PHÁT TRIỂN CÁNH ĐỒNG LỚN
Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI - 2019
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
TRẦN HOÀNG HIỂU
QUAN HỆ LỢI ÍCH KINH TẾ GIỮA NÔNG DÂN VÀ
DOANH NGHIỆP TRONG PHÁT TRIỂN CÁNH ĐỒNG LỚN
Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Mã số: 62 31 01 02
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. NGUYỄN QUỐC DŨNG
2. GS.TS. CHU VĂN CẤP
2.2. Kinh nghiệm xây dựng "Mô hình liên kết sản xuất" - nơi sản
sinh và thực hiện lợi ích kinh tế giữa nông dân và doanh nghiệp
và bài học rút ra cho đồng bằng sông Cửu Long
Chương 3: THỰC TRẠNG QUAN HỆ LỢI ÍCH KINH TẾ GIỮA NÔNG
Trang
1
7
7
28
31
2.1.
DÂN VÀ DOANH NGHIỆP TRONG PHÁT TRIỂN CÁNH
ĐỒNG LỚN Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Khái quát về vùng đồng bằng sông Cửu Long
Thực trạng thực hiện lợi ích kinh tế và quan hệ lợi ích kinh tế
giữa nông dân và doanh nghiệp trong mô hình cánh đồng lớn ở
đồng bằng sông Cửu Long thời gian qua
Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT HÀI HÕA QUAN
3.1.
3.2.
HỆ LỢI ÍCH KINH TẾ GIỮA NÔNG DÂN VÀ DOANH
NGHIỆP TRONG PHÁT TRIỂN CÁNH ĐỒNG LỚN Ở ĐỒNG
BẰNG SÔNG CỬU LONG
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AGPPS
:
Công ty cổ phần bảo vệ thực vật An Giang
CĐL
:
Cánh đồng lớn
CTCP
:
Công ty cổ phần
ĐBSCL
:
Đồng bằng sông Cửu Long
HQKT
:
Nhu cầu kinh tế
NN&PTNT
:
Nông nghiệp và phát triển nông thôn
NSLĐ
:
Năng suất lao động
GAP
:
Thực hành sản xuất tốt
Globalgap
:
Thực hành sản xuất tốt theo tiêu chuẩn toàn cầu
VSATTP
:
Bảng 3.9:
Biểu đồ 3.1:
Biểu đồ 3.2:
Biểu đồ 4.1:
Hình 1.1:
Sơ đồ 4.1:
Tổng hợp lợi ích kinh tế của nông dân và doanh nghiệp
trong mô hình cánh đồng lớn
Vùng liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ lúa - xây dựng
cánh đồng lớn tại đồng bằng sông Cửu Long năm 2014
Diện tích, số hộ thực hiện cánh đồng lớn năm 2016 và kế
hoạch thực hiện cánh đồng lớn giai đoạn 2017-2019 của
thành phố Cần Thơ
Số lượng và diện tích cánh đồng lớn tỉnh Bạc Liêu 20172020
Hiệu quả kinh tế cánh đồng lớn tại Cờ Đỏ vụ Đông Xuân
2015 - 2016
Chi phí sản xuất trung bình vụ Đông Xuân 2015- 2016,
vụ Hè Thu 2016 của vùng đồng bằng sông Cửu Long qua
khảo sát
Doanh thu và lợi nhuận vụ Đông Xuân 2015 - 2016, vụ
Hè Thu 2016 của vùng đồng bằng sông Cửu Long qua
khảo sát
Về hiệu quả kinh tế của mô hình cánh đồng lớn vụ Đông
Xuân 2016-2017 tại huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang
Hiệu quả kinh tế của một số cánh đồng lớn điển hình trên địa
bàn huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang vụ Hè Thu năm 2018
Chênh lệch giữa giá gạo xuất khẩu và giá lúa tại ruộng
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp, nông dân, nông thôn luôn luôn chiếm vị trí quan trọng, là nền
tảng của phát triển kinh tế - xã hội. Đảng ta luôn xác định: Nông nghiệp dồi dào thì
nền tảng vững mạnh, nông dân giàu thì nước thịnh, nông thôn ổn định thì cả xã hội
yên. Đảng ta coi vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn là cơ sở và lực lượng
quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm
bảo an ninh quốc phòng; giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi
trường sinh thái của đất nước.
Chính vì vậy, thời gian qua Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương,
chính sách phát triển nông nghiệp Việt Nam nói chung, đồng bằng sông Cửu Long
(ĐBSCL) nói riêng và đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Tuy nhiên, nông
nghiệp nước ta chủ yếu vẫn là sản xuất nhỏ, phân tán, lạc hậu... nông nghiệp, nông
dân, nông thôn nước ta vẫn đang đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức lớn...
Vì thế, Đảng và Nhà nước ta chủ trương tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng nâng
cao giá trị gia tăng và phát triển hiện đại, bền vững gắn với xây dựng nông thôn
mới, dựa trên nền tảng ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, đặc biệt công nghệ
cao và đổi mới mô hình tổ chức sản xuất nông nghiệp. Để tái cơ cấu nông nghiệp
cần xây dựng vùng sản xuất tập trung gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Theo
Nghị định số 80/2002/NĐ-TTg, ngày 26/4/2002 của Thủ tướng Chính phủ về chính
sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hóa thông qua hợp đồng và Chỉ thị
24/2004/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về xây dựng vùng nguyên liệu gắn với
chế biến và tiêu thụ. Quyết định 62/2013/QĐ-TTg, ngày 25/10/2013 của Thủ tướng
Chính phủ về chính sách phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông
sản, xây dựng cánh đồng lớn (CĐL). Nghị định số 98/2018/NĐ-CP của Chính phủ
ngày 05/7/2018 về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản
xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. Xây dựng CĐL là nhu cầu thực tiễn, là giải
bền vững thì việc đảm bảo hài hòa quan hệ LIKT giữa nông dân và doanh nghiệp
trong liên kết sản xuất lúa theo CĐL là rất quan trọng. Do đó, cần có những nghiên
cứu chuyên sâu tìm giải pháp hữu hiệu nhằm giải quyết hài hòa quan hệ LIKT giữa
nông dân và doanh nghiệp trong phát triển CĐL. Để góp phần tìm giải pháp, nghiên
cứu sinh lựa chọn vấn đề: "Quan hệ lợi ích kinh tế giữa nông dân và doanh
nghiệp trong phát triển cánh đồng lớn ở đồng bằng sông Cửu Long" làm đề tài
luận án Tiến sĩ chuyên ngành kinh tế chính trị.
3
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở luận giải lý luận và thực tiễn về LIKT và quan hệ LIKT giữa
nông dân và doanh nghiệp trong mô hình CĐL, luận án nghiên cứu đánh giá thực
trạng quan hệ LIKT giữa nông dân và doanh nghiệp trong quá trình phát triển mô
hình CĐL sản xuất lúa ở ĐBSCL thời gian qua. Trên cơ sở đó, luận án đề xuất các
quan điểm và giải pháp nhằm giải quyết hài hòa quan hệ LIKT giữa nông dân và
doanh nghiệp để thúc đẩy phát triển CĐL sản xuất lúa ở ĐBSCL đến năm 2025.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, luận án có các nhiệm vụ sau:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến LIKT và quan hệ LIKT
giữa nông dân và doanh nghiệp trong phát triển CĐL.
- Hệ thống hóa, làm rõ thêm lý luận về quan hệ LIKT giữa nông dân và
doanh nghiệp trong mô hình CĐL. Nghiên cứu kinh nghiệm thực tiễn về "xây dựng
và phát triển các mô hình liên kết sản xuất tiêu thụ nông phẩm theo CĐL - nơi sản
sinh và thực hiện quan hệ LIKT tế giữa nông dân và doanh nghiệp.
- Đánh giá toàn diện, khách quan thực trạng thực hiện LIKT và quan hệ
LIKT giữa nông dân và doanh nghiệp trong mô hình CĐL sản xuất lúa ở ĐBSCL
giai đoạn 2014-2018.
- Đề xuất những quan điểm và và giải pháp nhằm giải quyết hài hòa quan hệ
pháp trừu tượng hóa khoa học được sử dụng chủ yếu ở chương 2 nhằm phân tích cơ
sở lý luận về LIKT và mối quan hệ LIKT giữa nông dân và doanh nghiệp trong mô
hình CĐL.
Các phương pháp cụ thể được tác giả luận án sử dụng:
(1) Phân tích - tổng hợp, phương pháp logic kết hợp với lịch sử.
Phân tích là một vấn đề cần thiết để giải thích theo phương pháp truy nguyên
nhằm nhận thức quá trình hình thành, phát triển các hiện tượng, quá trình kinh tế...
trong các giai đoạn khác nhau của quá trình phát triển. Điểm kết thúc của sự phân
tích là tổng hợp, nhờ có tổng hợp mới có thể đi từ cái cụ thể, tản mạn đến sự khái
quát thành khái niệm, phạm trù lý luận. Phương pháp này được sử dụng ở Chương 1
- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án - để phân tích cơ sở
lý luận, kinh nghiệm thực tiễn về đối tượng nghiên cứu, từ đó rút ra những kết quả
nghiên cứu và các vấn đề còn là "khoảng trống" cần tiếp tục nghiên cứu. Phương
5
pháp này cũng được sử dụng ở Chương 2 để phân tích khung lý luận về LIKT và
mối quan hệ LIKT giữa nông dân và doanh nghiệp trong mô hình CĐL.
(2) Phương pháp thống kê và so sánh, diễn dịch và quy nạp, điều tra khảo sát
được sử dụng ở Chương 3 nhằm làm rõ thực trạng thực hiện LIKT và mối quan hệ
LIKT giữa nông dân và doanh nghiệp trong mô hình CĐL giai đoạn 2014-2018, từ
đó rút ra những thành công, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế.
(3) Phương pháp thu thập thông tin
- Thu thập dữ liệu thứ cấp: tác giả luận án thu thập tài liệu trong và ngoài
nước qua các công trình khoa học đã công bố, qua số liệu thống kê của Tổng cục
Thống kê Việt Nam và các tài liệu công bố chính thức liên quan đến đề tài luận án,
của các cơ quan nhà nước, bộ, ngành, địa phương...
- Thu thập dữ liệu sơ cấp: tọa đàm, trao đổi, hỏi ý kiến, phỏng vấn trực tiếp
một số nông dân, doanh nghiệp và cán bộ quản lý...
Phương pháp này được sử dụng chủ yếu ở Chương 3 nhằm cung cấp các luận
án gồm 4 chương 08 tiết.
7
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
LUẬN ÁN
1.1.1. Tổng quan các nghiên cứu về lợi ích kinh tế của các tác giả nước
ngoài và trong nước
Lợi ích kinh tế (LIKT) là vấn đề quan trọng của sản xuất và đời sống, nên từ
lâu, đã có nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu dưới các góc độ
khoa học triết học, kinh tế chính trị, xã hội học, tâm lý học...
1.1.1.1. Các tác giả nước ngoài nghiên cứu về lợi ích kinh tế
* Quan niệm về lợi ích kinh tế:
A.Smith với tác phẩm: "The wealth of nations" (Của cải của các dân tộc)
[95, tr.65] cho rằng: LIKT và phân công lao động chính là hai phạm trù có mối quan
hệ gắn bó với nhau. Thông qua phân công lao động, mỗi cá nhân sẽ trau dồi nghề
nghiệp của mình hoàn hảo và khiến việc lao động mang lại hiệu quả cao nhất, qua
đó sẽ làm cho lợi ích cá nhân tăng lên. Khi nói về vai trò của lợi ích, A.Smith cho
rằng: động lực thúc đẩy con người lao động để làm ra của cải vật chất cho xã hội,
tạo ra sự phồn thịnh của mọi quốc gia, mọi dân tộc chính là LIKT của mỗi cá nhân,
lòng ham tư lợi, vị kỷ của cá nhân, ham làm giàu. Ông cũng chỉ ra mối quan hệ giữa
lợi ích của toàn dân tộc, quốc gia và LIKT của cá nhân. Theo A.Smith, trong quá
trình hoạt động kinh tế, mỗi người đều theo đuổi lợi ích cá nhân, đều nỗ lực cải
thiện mức sống của mình, như thế tất yếu sẽ dẫn đến làm tăng của cải xã hội.
David Ricardo (1772 - 1823) với tác phẩm: Những nguyên lý của kinh tế
chính trị học và thuế khóa, đã cho rằng: LIKT của các giai cấp khác nhau được xây
dựng trên cơ sở giá trị, tiền lương và lợi nhuận. Do đó, việc tăng hay giảm tiền
giữa nhu cầu của chủ thể và điều kiện khách quan, mà trong khuôn khổ của những
điều kiện ấy những nhu cầu này không thể thực hiện. Chính những mâu thuẫn này
là những lực lượng thúc đẩy tính tích cực của con người. A.M.Đidcốp-xki, cho
rằng, lợi ích được nhận thức sẽ định hướng nhận thức nhu cầu và điều kiện khách
quan, đến lượt mình, nó xác định sự tìm kiếm phương thức, con đường và phương
tiện để giải quyết những mâu thuẫn của thực tiễn.
Tác giả Laprinmenco (1978) [63], trong tác phẩm: Những vấn đề lợi ích
trong chủ nghĩa Mác - Lênin cũng đưa ra quan niệm về lợi ích, theo đó, ông cho
rằng: "Lợi ích chính là mối quan hệ xã hội khách quan của sự tự khẳng định xã hội
của chủ thể". Tác giả cùng phân tích và chỉ ra bản chất của lợi ích, ông cho rằng:
nghiên cứu quá trình tự khẳng định bản thân trong đời sống xã hội sẽ hiểu được bản
chất và nội dung lợi ích khách quan của chủ thể, điều này hợp lý vì hoạt động tự
khẳng định bản thân trong xã hội là nhân tố quan trọng nhất trong hoạt động có mục
9
đích của con người, vì khí con người thực hiện các hoạt động của mình sẽ bộc lộ
những đặc tính thể hiện rõ sự phù hợp của họ với vị trí và vai trò của mình trong xã
hội. Đó chính là nội dung của lợi ích và LIKT. Như vậy, có thể khẳng định nội dung
của LIKT là phương thức tự khẳng định xã hội của con người, thể hiện trước hết ở
phương thức thoả mãn những nhu cầu vật chất (nhu cầu kinh tế) của chủ thể.
Ông cũng phân tích những đặc tính của lợi ích nói chung, LIKT nói riêng và
đã tán thành quan điểm của V.I.Lênin khi cho rằng LIKT là một hiện tượng có thực,
biểu hiện của các quan hệ kinh tế khách quan. Tính khách quan của lợi ích thể hiện
ở chỗ, nó xuất hiện bên ngoài các chủ thể, không phụ thuộc vào nhận thức của các
chủ thể. Bên cạnh đó, LIKT cũng mang tính lịch sử cụ thể và tính giai cấp. Có thể
thấy, các quan điểm về LIKT của Laprinmenco trong tác phẩm này chủ yếu xuất
phát từ việc phân tích, phát triển các chỉ dẫn của Lênin về vấn đề này.
Đ.I.Tresnôccôp [120] cho rằng LIKT gắn bó mật thiết với NCKT, song,
LIKT không phải là NCKT. Theo Đ.I.Tresnôccôp, lợi ích là mối quan hệ khách
- Lợi ích kinh tế là một phạm trù mang tính chất giai cấp. Trong xã hội, do
địa vị của các giai cấp khác nhau nên NCKT và LIKT cũng hoàn toàn khác nhau.
Đồng thời, LIKT mang tính chất lịch sử rõ rệt. Trong mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ
phát triển của nền kinh tế - xã hội khác nhau, nhu cầu của con người luôn vận động
và thay đổi. Chính yếu tố nhu cầu thay đổi, tác động làm LIKT luôn biến đổi cho
phù hợp với sự thay đổi của nhu cầu.
- Lợi ích kinh tế đóng vai trò là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội.
Có thể đề cập đến một số công trình tiêu biểu đề cập đến các vấn đề lý luận
nêu ở trên:
Tập thể tác giả cuốn "Bàn về LIKT" (1982) cho rằng "Lợi ích kinh tế là hình
thức biểu hiện của những quan hệ kinh tế, quan hệ giữa người với người trong sản
xuất". "Lợi ích kinh tế dưới chế độ xã hội chủ nghĩa được biểu hiện dưới hình thức
lợi ích của xã hội, lợi ích của tập thể, lợi ích của cá nhân người lao động" [102,
tr.9]. "Lợi ích kinh tế của xã hội là lợi ích của nhân dân lao động trên phạm vi cả
nước, lợi ích của tất cả các tập đoàn, các thành viên của xã hội xã hội chủ nghĩa. Lợi
ích kinh tế của xã hội nảy sinh trên cơ sở nhân dân lao động làm chủ tập thể về tư
liệu sản xuất, về lao động, đất đai, về tài nguyên thiên nhiên" [102, tr.11]. "Lợi ích
kinh tế là phạm trù kinh tế khách quan, là hình thức biểu hiện trước hết của quan hệ
sản xuất, nó không tuỳ thuộc vào ý chí, lòng ham muốn của con người" [102, tr.62].
và cho rằng, LIKT là cái biểu hiện của các quan hệ kinh tế dưới hình thức những
động cơ, mục đích, những nhân tố kích thích khách quan thúc đẩy hoạt động lao
động của con người… LIKT gắn chặt với nhu cầu kinh tế, vì có nhu cầu kinh tế mới
có LIKT tương ứng. Tuy nhiên, sẽ là không đúng nếu đồng nhất LIKT với nhu cầu
kinh tế… Bởi vì, LIKT là một phạm trù kinh tế khách quan, nó phát sinh và tồn tại
trên cơ sở của một quan hệ sản xuất nhất định, không phụ thuộc vào ý muốn con
11
người. Cũng như bất cứ một phạm trù kinh tế nào khác, LIKT tồn tại không tuỳ
thuộc ở chỗ người ta có nhận thức được nó hay không, mà do địa vị của họ trong hệ
Tác giả còn đi sâu phân tích các mối quan hệ biện chứng như: Quan hệ giữa
lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần; giữa lợi ích chung và lợi ích riêng; giữa lợi ích
trước mắt và lợi ích lâu dài. Các mối quan hệ biện chứng giữa các lợi ích tiêu biểu
với tư cách là động lực của xã hội nêu trên đã được tác giả biện giải rất rành mạch
và thuyết phục. Chẳng hạn, khi phân tích mối quan hệ giữa lợi ích vật chất và lợi
ích tinh thần, ông khẳng định: "Xét đến cùng thì các lợi ích vật chất đóng vai trò
13
quyết định và là tiền đề, là cơ sở để thực hiện các lợi ích tinh thần. Và thực hiện
được các lợi ích tinh thần sẽ tạo ra những khả năng mới trong sự nảy sinh cũng như
làm xuất hiện những phương thức thực hiện lợi ích vật chất mới". Về bản chất, vai
trò của lợi ích chung và lợi ích riêng, tác giả đã đi sâu phân tích và chỉ rõ vai trò,
động lực trực tiếp của lợi ích riêng trong việc thúc đẩy cá nhân hoạt động, nó chính
là nhân tố quyết định con người tích cực tham gia hoạt động xã hội, vì vậy nó là cơ
sở để thực hiện lợi ích chung. Trái lại, khi lợi ích chung của tất cả mọi thành viên
trong xã hội được thực hiện sẽ đóng vai trò là điều kiện và định hướng cho lợi ích
riêng, cho nên, chỉ khi tạo lập được mối quan hệ hài hoà giữa lợi ích chung và lợi
ích riêng mới có thể tạo ra sự phát triển của mỗi cá nhân và của cả xã hội. Tác giả
cũng tổng kết lại quá trình sử dụng vai trò, động lực của lợi ích trong thực tiễn cách
mạng Việt Nam. Tác phẩm này là một công trình khoa học vừa mang tính lý luận
quan trọng về lợi ích nói chung vừa nghiên cứu về LIKT nói riêng.
Nguyễn Linh Khiếu (2002), với tác phẩm: Góp phần nghiên cứu quan hệ lợi
ích [62]. Tác giả đi sâu phân tích cụ thể hơn về vai trò của LIKT trong phát triển kinh
tế - xã hội của Việt Nam. Ông khẳng định: "Quan hệ kinh tế của một xã hội biểu hiện
tập trung nhất của các quan hệ lợi ích". Trên cơ sở nghiên cứu các mối quan hệ kinh
tế thể hiện cụ thể các quan hệ LIKT, ông cho rằng: Trong nền kinh tế xã hội của Việt
Nam hiện nay có những xu hướng vận động cụ thể như: Kinh tế nhà nước vận động
theo xu hướng mà Đảng và Nhà nước ta mong muốn, đó là đảm bảo đúng "định
hướng xã hội chủ nghĩa"; kinh tế tập thể vận động theo cơ chế thị trường; kinh tế tư
đến hình thức liên kết; hợp tác đa dạng để cùng thực hiện lợi ích của công nhân;
nông dân và trí thức là Hợp đồng mướn kỹ sư của nông dân xã Hoà Ân, huyện Cầu
Kè, tỉnh Trà Vinh. Đây là sự liên kết, hợp tác hiệu quả.
Cùng với việc nêu ra các hình thức thể hiện sự thống nhất LIKT giữa công
nhân, nông dân và trí thức, tác giả Đặng Quang Định cũng nêu ra một số biểu hiện
thiếu thống nhất LIKT của 3 chủ thể này. Đó là:
- Tình hình tranh chấp việc làm trong lĩnh vực công nghiệp và nông nghiệp, đặc
biệt là tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm của cả công nhân, nông dân và trí thức.
- Tình trạng tranh chấp, vi phạm một số LIKT trong việc thu hồi đất của
nông dân để phát triển công nghiệp và dịch vụ; những tranh chấp giữa nông dân và
doanh nghiệp ở một số nơi; sự chênh lệch về thu nhập và thụ hưởng phúc lợi xã hội
giữa các tầng lớp xã hội (sự chênh lệch về thu nhập giữa thành thị và nông thôn,
giữa các tầng lớp trong xã hội; so với công nhân và trí thức thì mức độ thụ hưởng
các chế độ, chính sách từ an sinh xã hội của nông dân thấp).
Những phân tích của tác giả Đặng Quang Định về những vấn đề liên quan
đến quan hệ lợi ích giữa công nhân, nông dân và trí thức ở nước ta hiện nay, thực sự
là sâu sắc, có giá trị tham khảo tốt.
Tác giả Vũ Văn Phúc, Nguyễn Thị Minh Châu [86] đã đi vào phân tích một
nội dung của LIKT của nông dân là sự hỗ trợ của Nhà nước đối với nông dân.
- Trước hết, các tác giả đã nêu quan niệm về chính sách hỗ trợ nông dân của
Nhà nước, là "chính sách hỗ trợ nông dân của Nhà nước là tổng thể các quan điểm,
chủ trương, đường lối, phương pháp và công cụ của Nhà nước sử dụng để tác động
vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn và nông dân, nhằm thực hiện các mục tiêu mà
nhà nước mong muốn ở nông dân" [86, tr.34-35].
16
- Mục tiêu của chính sách hỗ trợ nông dân bao gồm cả khía cạnh kinh tế (tạo
điều kiện cho nông dân thực thi nền nông nghiệp tiên tiến, hiện đại, trên cơ sở đó có
thu nhập và đời sống tốt hơn), khía cạnh xã hội - mục tiêu xã hội -(góp phần xoá đói,
17
niệm về LIKT. Theo đó: LIKT là những quan hệ kinh tế phản ánh những nhu cầu,
động cơ khách quan về sự hoạt động của các chủ thể khi tham gia vào các hoạt động
kinh tế - xã hội và do hệ thống quan hệ sản xuất quyết định. Tác giả đã nghiên cứu
những kết quả tích cực trong xử lý quan hệ LIKT; những hạn chế, khó khăn về việc
xử lý các quan hệ LIKT phát sinh trong quá trình đô thị hoá ở Hà Nội. Từ đó, đề
xuất một số giải pháp cơ bản nhằm giải quyết mối quan hệ LIKT trong quá trình đô
thị hoá, để giải quyết hài hoà các quan hệ về LIKT giữa các chủ thể.
Trần Thị Lan (2002), Quan hệ LIKT trong thu hồi đất của nông dân để xây
dựng các khu công nghiệp và khu đô thị mới ở Hà Nội [64]. Luận án Tiến sĩ Kinh tế
trình bày thực trạng giải quyết các quan hệ các mối quan hệ LIKT giữa các chủ thể
kinh tế, nảy sinh trong thu hồi đất của nông dân để xây dựng các khu công nghiệp
và khu đô thị mới ở Hà Nội và nêu các giải pháp để giải quyết hài hoà các LIKT...
1.1.2. Những nghiên cứu liên quan đến mối quan hệ liên kết, chuỗi giá
trị và lợi ích kinh tế trong phát triển cánh đồng lớn
1.1.2.1. Các nghiên cứu của các tác giả ngoài nước về quan hệ liên kết và
chuỗi giá trị
Theo Eaton, C. and Shepperd (2001), Contract farming: Partnerships for
Growth [127]: có 07 hình thức liên kết giữa nông dân với thị trường: i) liên kết giữa
nông dân với thương lái; ii) liên kết giữa nông dân với người bán lẻ; iii) liên kết
thông qua đại diện nông dân; iv) liên kết thông qua HTX; v) liên kết giữa nông dân
và nhà chế biến; vi) liên kết giữa nông dân và nhà xuất khẩu; vii) liên kết theo hợp
đồng. Như vậy, liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp trong CĐL là một hình thức
liên kết, gắn người nông dân với thị trường tiêu thụ.
Trong nghiên cứu của Rozhan Abu Dardak (2015) [130], Cooperative
Movement in the Supply Chain of Agricultural Products: Way Forwards,
International Seminar on Improving Food Marketing Efficiency-the Role of
Agricultural Cooperatives, tác giả cho rằng những người nông dân có quy mô ruộng
là phân tích việc tổ chức các hoạt động kinh tế cũng như các tác nhân tham gia từ
sản xuất đến thị trường, xác định cơ cấu sản xuất, thương mại và tiêu thụ sản phẩm.
Ba thành tố chính của phân tích chuỗi giá trị được xác định là: (i), quan hệ đầu vào đầu ra và những yếu tố địa kinh tế; (ii), khuôn khổ thể chế và cơ cấu quản trị và
(iii), phương thức chia sẻ lợi ích giữa các tác nhân tham gia chuỗi giá trị.
Trong nghiên cứu này, một phương diện thứ tư - quan hệ giữa các nhà vận
hành chuỗi và các nhà cung cấp dịch vụ hỗ trợ - cũng được đề cập đến do phân tích
chuỗi giá trị cũng có thể được sử dụng như một công cụ để nghiên cứu liên kết theo
chiều dọc. Vì những ''nhà'' này có tiềm lực để thực hiện kiểu hợp đồng này nên họ
được coi là công ty đầu mối trong chuỗi giá trị - và chính những người bán quy mô
nhỏ phải tự điều chỉnh để phù hợp với yêu cầu của các công ty đầu mối. Nghiên cứu
của Jonh Humphrey có giá trị tham khảo tốt cho việc phân tích vai trò của các chủ
19
thể trong phát triển chuỗi giá trị dựa vào ba thành tố chính và mối quan hệ giữa các
nhà vận hành chuỗi trong mối liên kết dọc.
1.1.2.2. Các nghiên cứu của các tác giả trong nước
- Thứ 1, các nghiên cứu về mô hình cánh đồng lớn:
"Cánh đồng lớn" là mô hình sản xuất mới trong nông nghiệp, phổ biến là
trong sản xuất lúa. Mô hình này được manh nha vào cuối năm 2009 đầu năm 2010
tại tỉnh An Giang. Những hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của mô hình này
đã tạo ra sự quan tâm rất lớn của Đảng, Nhà nước và các nhà khoa học. Mô hình
này đã trở thành đối tượng nghiên cứu của các cơ quan, tổ chức và các nhà khoa học
dưới nhiều góc độ khác nhau. Nhiều công trình đã được công bố dưới dạng các ấn
phẩm khoa học khác nhau. Các tác giả đã nghiên cứu làm rõ mô hình CĐL ở
ĐBSCL(ĐBSCL) trong lĩnh vực canh tác lúa dưới các khía cạnh: quan niệm CĐL,
tính tất yếu và mục tiêu phát triển CĐL, vai trò, hiệu quả của mô hình CĐL, các giải
pháp nhằm phát triển bền vững mô hình CĐL.
Các công trình nghiên cứu tiêu biểu về vấn đề này:
Vũ Trọng Bình và Đặng Đức Chiến [5], Cánh đồng mẫu lớn: Lý luận và tiếp