Chƣơng 1:
MỞ ĐẦU
1.1. Giới thiệu về đề tài nghiên cứu
1.1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Nguồn lực con người có ý nghĩa quan trọng, nó quyết định sự
phát triển bền vững của một quốc gia nhưng ở nước ta đang thiếu
nguồn nhân lực có trình độ cao ở nhiều lĩnh vực. Đòi hỏi các trường
ĐH phải là những trung tâm ĐT, NC, chuyển giao công nghệ và xuất
khẩu tri thức. Tuy nhiên, các trường ĐHCL nước ta vẫn còn hạn chế
về chất lượng, chưa có sức cạnh tranh. Nguyên nhân là do các trường
chưa được TCTC ở mức độ cao dẫn tới chưa có đủ nguồn lực tài
chính cho việc cải thiện nâng cao chất lượng đào tạo.
Để các trường ĐHCL “thay đổi” thì cơ chế TCTC cần được
hoàn thiện theo hướng giao quyền TCTC ở mức độ cao, buộc các
trường phải tự nguyện cung cấp dịch vụ tốt nhất đáp ứng yêu cầu của
người học, người tuyển dụng. Vì vậy, đề tài “Hoàn thiện cơ chế TCTC
các trường ĐHCL ở Việt Nam” có ý nghĩa cả về lý luận, thực tiễn và
được lựa chọn làm đề tài Luận án Tiến sỹ kinh tế.
1.1.2. Mục đích, nội dung nghiên cứu của luận án
Nhằm tổng quan các đề tài đã nghiên cứu, hệ thống hóa lý luận về
TCTC, cơ chế TCTC, kinh nghiệm quốc tế. Đánh giá thực trạng cơ chế
TCTC; từ đó, đề xuất giải pháp hoàn thiện phù hợp hoàn cảnh Việt Nam.
1.1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận án làm rõ nhân tố tạo nên cơ chế TCTC; tiêu chí đánh
giá, tác động của cơ chế tới hoạt động tạo và sử dụng nguồn thu,
trách nhiệm giải trình tài chính của các trường ĐHCL. Luận án chỉ
nghiên cứu các vấn đề liên quan tới cơ chế tài chính của Nhà nước,
của các trường nhằm thúc đẩy các trường nhanh chóng hội nhập
nguồn thu; nâng cao đời sống CBVC. Chỉ ra một số bất cập về phân
2
bổ NS cho NCKH chưa có tiêu chí, có sự chồng chéo, không hiệu
quả trong điều hành, thủ tục giải ngân phức tạp. Phân bổ NS chi
thường xuyên còn nặng tính bình quân, chưa chú trọng đầu ra. Chế độ
học phí thấp, chưa làm rõ trách nhiệm giải trình.
Hạn chế của các công trình đã nghiên cứu, vẫn giới hạn trường
ĐHCL là đơn vị sự nghiệp. Kết quả nghiên cứu chỉ chuyên biệt về
một nội dung... Đặc biệt, chưa phân tích sâu khái niệm, bản chất
TCTC, cơ cấu thu chi; hiệu quả nguồn NS cấp; chưa đưa ra tiêu chí
đánh giá mức độ hoàn thiên của cơ chế. Giải pháp mang tính gợi mở,
đơn lẻ cho một trường, một khối trường, chưa khái quát chung cho
trường ĐHCL. Số liệu minh họa trong các phân tích, kết luận còn ít.
1.3. Phƣơng pháp nghiên cứu của luận án
Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp
với đinh
̣ lươ ̣ng . Số liệu được tổng hợp từ tạp chí , internet, báo cáo
của Bộ, ngành chức năng và một số trường ; báo cáo thường niên của
Nhà nước, của Ngân hàng thế giới , các nghiên cứu của tác giả khác
và trực tiếp dự Hội thảo đổi mới cơ chế tài chính trường ĐHCL, Hội
thảo Luật GDĐH…; kết quả ghi nhận trong phiế u điề u tra của
60
trường ĐHCL trong 3 năm (2009÷2011); báo cáo quyết toán của các
trường Bộ GD&ĐT, 4 trường Bộ Công Thương và 02 ĐHQG từ
2006÷2011. Phỏng vấn cán bộ quản lý , quản lý tài chính của nhà
Sự phát triển của các trường ĐH gắn liền với sự phát triển của
quốc gia. Chủ nghĩa lý tưởng cho rằng trường ĐH như một “thánh
đường tri thức” (Wolff, 1992), các nhà KH được tự do theo đuổi tri
thức. Chủ nghĩa duy thực cho rằng trường ĐH phải gắn với bối cảnh
XH mà nó bắt nguồn và được hỗ trợ về tài chính để hoạt động. Chủ
nghĩa lý tưởng và duy thực có chung quan điểm trường ĐH với XH
và phát triển kinh tế có mối quan hệ hữu cơ với nhau.
2.1.2.2. Hệ thống tổ chức các trường Đại học công lập
Trường ĐHCL thuộc giáo dục chính qui, đào tạo cấp học cao
nhất của hệ thống GD. Năm 2001 có 57 trường, đến năm 2011 là 149
trường. Tốc độ tăng trưởng nhanh, không đều, mức tăng cao nhất vào
ba năm học 2005÷2008 là 11,27%; 11,39% và 13,63%. Bộ GD&ĐT
4
quản lý 33,56%; các Bộ, ngành và địa phương quản lý 66,44%. Nó
phân bố tại 37/63 tỉnh thành và tập trung ở 3 vùng: Đồng bằng Sông
Hồng (46,31%), Đông Nam Bộ (21,48%), Bắc Trung Bộ (10,07%).
Trong đó, tại Hà Nội 25,74%; thành phố Hồ Chí Minh 14,85%.
2.1.2.3. Đặc điểm của trường Đại học công lập
Giữ vai trò chính trong đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao
cho đất nước, qui mô nhỏ, chưa cạnh tranh, phẩm chất thuộc loại
trung bình thấp, phân hoá về chất lượng. Vai trò quản lý nhà nước rất
đậm nét. Nguồn tài chính hoạt động chủ yếu từ NS cấp và thu học phí.
2.1.2.4. Phân loại trường Đại học công lập
Chưa phân tầng rõ ràng. Luật GDĐH đưa ra 03 loại: ĐH định
hướng nghiên cứu, định hướng ứng dụng và định hướng thực hành.
2.2. Cơ chế tự chủ tài chính trong trƣờng Đại học công lập
2.2.1. Khái niệm về cơ chế tự chủ tài chính
thế giới tăng 63% (từ 92,5 triệu SV năm 1999 lên 150,5 triệu SV
năm 2007). Thách thức đặt ra là giải quyết bài toán giữa qui mô và chất
lượng. Lời giải chỉ có được khi các trường được TCTC ở mức độ cao.
2.2.3. Nội dung cơ chế tự chủ tài chính của trường ĐHCL
Nó là một văn bản pháp luật, chứa đựng những qui định nhằm
chuyển đổi quyền hạn ra quyết định về tài chính của nhà nước sang
các trường có thể tự chủ trong lĩnh vực tài chính. Nội dung là các
trường được tự chủ quản lý, sử dụng các khoản thu chi; quản lý TS...
2.2.3.1. Tự chủ trong quản lý và khai thác các nguồn thu
Nguồn thu được tổ chức theo chế độ, phạm vi, định mức, đưa
vào dự toán, được quản lý, hạch toán đúng pháp luật. Đảm bảo công
khai, minh bạch, kết hợp chặt chẽ giữa thẩm quyền và trách nhiệm.
2.2.3.2. Tự chủ trong quản lý chi tiêu
Các khoản chi dựa trên tiêu chuẩn, định mức khoa học, đảm
bảo tiết kiệm, chính xác, đúng số phát sinh, mục đích, phạm vi chi
tiêu; chấp hành chế độ tài chính của nhà nước, nhà trường qui định.
6
2.2.3.3. Tự chủ trong quản lý, sử dụng tài sản của nhà trường
Nó được hiểu là các trường được tự chủ đầu tư, mua sắm, sử
dụng tài sản để nâng cao hiệu suất, hiệu quả và bảo toàn vốn.
2.2.4. Những tác động của cơ chế tự chủ tài chính
Nếu cơ chế xây dựng theo hướng tăng quyền tự chủ, những
qui định trong nó phù hợp với quy luật vận động của các phạm trù
kinh tế, tài chính, XH sẽ khuyến khích các trường làm tốt nhiệm vụ;
giảm chi phí vô ích; thúc đẩy tăng thu, tăng thu nhập cho CBVC.
Tác động tiêu cực của cơ chế TCTC có thể xảy ra cạnh tranh
không lành mạnh giữa các trường có cùng ngành nghề, nội dung đào
Cơ chế cần có tác dụng thúc đẩy các trường tìm kiếm nguồn thu ngoài NS.
2.2.6.6. Sự thừa nhận của cộng đồng (Community acceptance)
Cơ chế được xem là một bản thỏa thuận giữa nhà nước và các
trường để tạo ra sự đồng thuận về quản lý thu chi tài chính. Vì vậy,
trong cơ chế phải qui định rõ việc trao quyền cho các trường khai thác,
sử dụng hiệu quả các nguồn tài chính nhằm nâng cao chất lượng ĐT.
2.3. Kinh nghiệm các nƣớc về TCTC của trƣờng Đại học
2.3.1. Kinh nghiệm của một số nước
2.3.1.1. Kinh nghiệm của Trung quốc
Chuyển giao, nới rộng quyền quản lý cho các Tỉnh, thành phố.
Đẩy mạnh XHH, thực hiện cơ chế đầu tư đa nguồn: Nhà nước cấp
NS; trường tạo thu nhập từ giảng dạy, NCKH với LĐSX, liên kết với
DN; khuyến khích XH, tư nhân làm GD; chia sẻ chi phí ĐT với SV.
2.3.1.2. Kinh nghiệm của Hàn quốc
Thành lập Hiệp hội các trường ĐH để đánh giá chương trình
ĐT. Giao quyền tự chủ toàn diện, nhà trường được tự do thiết lập học
phí; quản lý nhà cửa, trang thiết bị sử dụng cho ĐT, NCKH; gắn hỗ
trợ tài chính với chất lượng; cho SV vay vốn. NS cấp theo chế độ
khoán nhưng bắt buộc chế độ kiểm toán tài chính 2 năm một lần.
8
2.3.1.3. Kinh nghiệm của Thái Lan
Năm 1996, thành lập quỹ cho sinh viên nghèo vốn vay. Từ
năm 1997 đã tăng quyền tự trị cho các trường. Năm 2006 thay đổi
chính sách vay vốn; SV tốt nghiệp chỉ trả nợ khi có mức thu nhập
nhất định, thất nghiệp có thể hoãn trả nợ; lãi suất vay 1% năm, không
phải trả lãi trong 7 năm nhưng phải hoàn trả khoản vay trong 15 năm
theo tỷ lệ tăng dần (năm đầu 1,5%, năm thứ 15 là 13%).
mức độ cao hơn, đi kèm với giao quyền tự chủ ĐH. Phân bổ NS theo
kết quả đầu ra với tiêu chí định lượng rõ ràng. NS cấp theo cơ chế
khoán với chế độ hậu kiểm. Tăng cường chia sẻ học phí với người
học theo chất lượng đào tạo được cung cấp; thành lập cơ quan kiểm
định độc lập để đánh giá chất lượng các trường được giao TCTC…
Kết luận chƣơng 2
Việc phân tích làm rõ các khái niệm về tự chủ, TCTC, cơ chế,
nội dung cơ chế TCTC… cũng như việc nghiên cứu kinh nghiệm của
một số nước có thể khẳng định việc giao quyền TCTC cho các
trường ĐHCL là đúng hướng, hợp quy luật.
Chƣơng 3: THỰC TRẠNG CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH
CỦA CÁC TRƢỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP VIỆT NAM
3.1. Giới thiệu chung về các trƣờng Đại học công lập
3.1.1. Danh tiếng, đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất
Các trường ĐHCL vẫn là địa chỉ được người học lựa chọn.
Chất lượng đội ngũ GV luôn được nâng lên. CSVC, trang thiết bị
phục vụ đào tạo được cải thiện ngày càng khang trang, hiện đại hơn.
3.1.2. Đặc điểm thị trường và thị phần đào tạo, NCKH
So với thế giới và các nước trong khu vực như Inđônêxia, Thái
Lan thì chỉ số HDI, số năm đi học, số SV/1 vạn dân, tỷ lệ học sinh
10
vào học ĐH của Việt Nam đều ở mức thấp. Như vậy, về dài hạn cho
thấy thị trường GDĐH, NCKH của nước ta có tiềm năng rất lớn.
3.2. Cơ chế tự chủ tài chính các trƣờng Đại học công lập
3.2.1. Cơ sở pháp lý của nhà nước
Năm 2002, Chính phủ ban hành Nghị định 10/CP giao quyền TCTC
3.3.2. Tính hiệu quả của cơ chế tự chủ tài chính
3.3.2.1. Qui mô nguồn thu, các khoản chi
Kết quả khảo sát tại 50 trường cho thấy qui mô nguồn thu năm
sau cao hơn năm trước. Ví dụ, năm 2011 tăng 9,81% so với năm 2010.
Có sự chênh lệch lớn về nguồn thu giữa các trường và khối trường. So
với các trường trên thế giới thì qui mô nguồn thu của các trường ĐHCL
nước ta thuộc loại thấp (bình quân năm 2011 là 127,7 tỷ đồng/trường).
Xét về các khoản chi cũng cho thấy hàng năm liên tục tăng.
Tại 50 trường, năm 2011 tăng 16,46% so với năm 2010. Các trường
của Bộ GD&ĐT, 2 ĐHQG, 4 trường Bộ Công Thương năm 2010
tăng so với năm 2009 lần lượt là 47,83%; 18,98% và 29,53%. Hàng
năm, các trường sử dụng trên 80% nguồn thu để chi hoạt động.
3.3.2.2. Phân tích các tỷ số (hệ số) tài chính
a. Cơ cấu nguồn thu
Nguồn thu của các trường chưa đa dạng. Nguồn thu học phí
chiếm tỷ lệ lớn (chiếm 83,86÷87,80% nguồn thu sự nghiệp, chiếm
41,90%÷47,13% so với tổng nguồn thu). Nguồn thu NCKH rất nhỏ
(chỉ chiếm 0,07%÷0,13% nguồn thu sự nghiệp). Hoạt động của các
trường dựa vào 2 nguồn là thu học phí và NS cấp. Vai trò của nguồn
thu học phí ngày càng trở nên rất quan trọng với các trường.
b. Cơ cấu nguồn chi
Hàng năm, các trường sử dụng thu chủ yếu cho chi thường
xuyên. Tại 50 trường thì tỷ lệ này chiếm 77,23%÷80,31%; trường Bộ
GD&ĐT là 87,54%÷95,83%; tại 2 ĐHQG là 79,31%÷93,16% và ở 4
trường của Bộ Công thương là 72,45%÷88,78%. Tỷ lệ chi cho đầu tư
12
phát triển như XDCB, mua sắm thiết bị thấp, có xu hướng giảm dần.
e. Thu nhập tăng thêm của CBVC
CBVC được trả thu nhập tăng thêm 1,0÷1,5 lần lương cơ bản,
có trường ở mức trên 2 lần, không có trường nào bị giảm thu nhập.
g. Suất đầu tư trên 1 SV
Hàng năm, suất đầu tư cho một SV có xu hướng tăng lên. Năm
2009: 5,84 triệu đồng; năm 2011: 6,95 triệu đồng tương đương
280÷330 USD. Đây là mức chi rất thấp so với các nước trong khu
vực và thế giới (các nước tiên tiến thường chi 10.000÷15.000 USD).
h. Chênh lệch thu chi trên tổng nguồn thu (RCL)
Chênh lệch thu chi trong năm của các trường thấp, không ổn
định. Trong đó, khối sư phạm thấp nhất (8,83%), tiếp đến khối nông,
lâm nghiệp (13,56%) và khối nghệ thuật (15,32%).
3.3.2.3. Cơ cấu giảng viên, tỷ lệ GV/SV
Về số lượng, cơ cấu trình độ đội ngũ GV của các trường ngày
càng được bổ sung thêm. Tuy nhiên, một bất cập là tỷ lệ GV có trình
độ tiến sĩ, chức danh PGS, GS rất thấp. Năm 2010, trong 43.835 GV
chỉ có 320 GS (chiếm 0,73%) và 1.966 PGS (chiếm 4,5%). Hơn nữa,
chỉ khoảng 25÷30% là trực tiếp tham gia giảng dạy. Tỷ lệ GV/SV rất
thấp so với qui định từ 1/20÷1/25. Kết quả điều tra tại 50 trường cho
thấy những trường khối Y dược, nghệ thuật có tỷ lệ GV/SV chưa
vượt mức cho phép. Những trường khối kỹ thuật công nghệ vượt
1,17÷1,32 lần; khối sư phạm vượt 1,45÷1,55 lần; đặc biệt là khối
trường kinh tế, QTKD vượt 1,83÷2,00 lần và đây là một trong những
nguyên nhân làm giảm sút chất lượng đào tạo của các trường.
3.3.2.4. Số lượng, chất lượng bài báo, công trình NCKH
Các trường ĐHCL đã tham gia nhiều đề tài NCKH, góp phần
rất lớn vào phát triển ngành GDĐT, phát triển KT-XH. Ví dụ, tại 50
trường giai đoạn 2009÷2011 đã thực hiện 10.522 đề tài với 414 đề tài
các trường chịu sự quản lý, kiểm soát của nhiều cơ quan chức năng,
15
đặc biệt là trong thanh toán các khoản chi hoạt động. Khoản thu học
phí, lệ phí phải gửi vào Kho bạc nhưng không được hưởng lãi suất.
3.3.4. Tính công bằng của cơ chế tự chủ tài chính
Cơ chế TCTC tạo cho người học có quyền chọn lựa chương
trình, chất lượng, thời gian ĐT theo khả năng tài chính của mình.
Các trường phải tích cực đưa ra những cơ hội mới cho người học,
người thụ hưởng kết quả ĐT, nghiên cứu của nhà trường. Thúc đẩy
công khai hóa điều kiện CSVC, đội ngũ GV, chương trình đào tạo.
Tuy nhiên, cơ chế cũng tạo ra bất cập như khuyến khích các
trường mở rộng qui mô, tăng nguồn thu nhưng chưa gắn với nâng cao
chất lượng, mức học phí thấp có sự trợ cấp ngược cho người giàu, nhiều
trường không muốn chuyển sang mô hình tự đảm bảo chi phí hoạt động.
3.3.5. Tính ràng buộc về mặt tổ chức của cơ chế TCTC
Cơ chế TCTC đã tạo động lực cho các trường phấn đấu vươn
lên bằng cách tiết kiệm, sử dụng các nguồn lực một cách hiệu quả,
đúng mục tiêu, mục đích đã xác định. Tạo ra sự đoàn kết, nhất trí của
CBVC để cùng nhau xây dựng thương hiệu của nhà trường.
3.3.6. Sự thừa nhận của cộng đồng đối với cơ chế TCTC
Cơ chế TCTC đã được các trường và cả xã hội thừa nhận như
một xu thế tất yếu khách quan. Nó được minh chứng qua kết quả
điều tra tại 60 trường thì 100% các trường đều đồng thuận việc thực
hiện cơ chế TCTC, trong đó 8,33% số trường đề nghị tiếp tục thực
hiện Nghị định 43/CP và 91,67% số trường đề nghị tiếp tục thực hiện
nhưng cần điều chỉnh, bổ sung hoàn thiện Nghị định 43/CP.
Kết luận chƣơng 3
4.1.3. Nhận thức lại vai trò Nhà nước trong việc tạo nguồn
lực tài chính cho trường ĐHCL. Trong môi trường kinh tế tri thức
và toàn cầu hóa, có 3 nhân tố tạo ra sự thành công của trường đẳng cấp
17
quốc tế, đó là: “nguồn lực dồi dào, tập trung tài năng, cơ chế quản trị
thuận lợi”. Chúng ta cần loại bỏ quan điểm “chi phí thấp, chất lượng
cao”. Nhà nước giao quyền TCTC để các trường được bình đẳng, chủ
động tham gia hoạt động cung cấp dịch vụ GDĐH cho XH.
4.1.4. Hoàn thiện cơ chế TCTC theo hướng tạo lập môi
trường, thúc đẩy đào tạo theo nhu cầu XH và hội nhập quốc tế.
Chúng ta đang sống trong một thế giới phẳng, nguồn nhân lực là tài
sản chung, quốc tế hoá GDĐH là một tất yếu khách quan không loại
trừ bất cứ một nước nào. Vì vậy, việc hoàn thiện cơ chế TCTC
trường ĐHCL cần tiếp cận với các tiêu chuẩn của thế giới.
4.1.5. Đẩy mạnh tuyên truyền để đổi mới nhận thức, tạo sự
đồng thuận xã hội, xác định chi cho GDĐH là chi đầu tư phát
triển. Cuộc cách mạng KHCN diễn ra hàng ngày đã làm đảo lộn vai
trò của các yếu tố truyền thống trong sản xuất và cạnh tranh. KHCN
trở thành "lực lượng sản xuất trực tiếp", trí tuệ là nguồn lực nội sinh
của một quốc gia. Nước ta cần nâng cao chất lượng các trường ĐH.
Trong điều kiện còn khó khăn về NS thì XHH là một yêu cầu khách
quan. Nhà nước cần tăng cường tuyên truyền để thay đổi nhận thức
đầu tư GDĐH là đầu tư phát triển, cần sự chia sẻ từ cộng đồng XH.
4.1.6. Đổi mới cơ chế TCTC phải gắn với thúc đẩy tạo ra
nhiều cơ hội cho người học. Có nghĩa, đổi mới cơ chế TCTC theo
hướng có nhiều con đường để người học lựa chọn. Những qui định
trong cơ chế phải đảm bảo tính mềm dẻo, linh hoạt trong cách thu,
các cấp quản lý phải tự giác tham gia vào quá trình đổi mới nhà
trường theo hướng hiệu quả, xây dựng thương hiệu trước người học
và XH. Công cụ hỗ trợ là các trường nên sử dụng ISO, đặc biệt là
đưa công nghệ thông tin vào công tác quản lý, quản lý tài chính.
4.2.2. Nhóm giải pháp nâng cao tính hiệu quả của cơ chế TCTC
4.2.2.1. Nhà nước cần ban hành văn bản quy định bắt buộc các
trường phải phân tích tài chính, phân tích các hoạt động. Bởi vì, nó
19
cung cấp cho chúng ta một cái nhìn toàn diện về chi phí, năng suất, hiệu
quả chứa đựng trong các hoạt động quá khứ, hiện tại của nhà trường.
Làm rõ trách nhiệm giải trình, tính hiệu quả của giao quyền TCTC.
4.2.2.2. Các trường cần chủ động sử dụng cơ chế TCTC trong
khai thác, mở rộng nguồn thu; tăng cường hiệu quả phân bổ, sử dụng
nguồn tài chính. Gắn đào tạo với nghiên cứu, chuyển giao KHCN,
gắn kết với DN. Bởi vì, sự hợp tác với DN mang lại hậu thuẫn tốt về
CSVC tới vấn đề tài chính, SV tốt nghiệp dễ nhận được việc làm.
Các trường cần tiết kiệm, chống lãng phí, chủ động nghiên cứu thị
trường; đổi mới cơ chế tuyển chọn, quản lý GV; trả thu nhập theo
phương thức cạnh tranh. Ứng dụng mô hình Balanced Scorecard vào
quản lý tài chính. Tăng cường khai thác nguồn đóng góp từ thiện.
Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ tài chính kế toán theo
hướng giỏi chuyên môn, có phẩm chất đạo đức tốt.
4.2.3. Nhóm giải pháp nâng cao tính linh hoạt của cơ chế TCTC
Cho phép các trường được chi những khoản chi cao hơn định
mức qui định. Giảm bớt sự kiểm soát chi thanh toán. Các khoản thu
học phí, lệ phí và các nguồn thu hợp pháp khác được chuyển sang
mở tài khoản tiền gửi tại ngân hàng thương mại để hưởng lãi. NS cấp
Các trường được thiết lập học phí, được hợp tác theo khuôn
khổ pháp luật với bất kỳ ai để tạo nguồn lực, môi trường cho việc
theo đuổi sứ mạng riêng của mình. Thành lập Hội đồng trường có đủ
thành viên độc lập bên ngoài. Xây dựng qui chế chi tiêu nội bộ với
các tiêu chí rõ ràng về quyền lợi, nghĩa vụ.
4.2.6. Nhóm giải pháp nâng cao sự đồng thuận của cộng đồng XH
4.2.6.1. Bộ GD&ĐT cần hoàn thiện và tổ chức thực hiện kiểm
định chất lượng, xếp hạng để mỗi trường phải tự giác nâng cao chất
lượng, hiệu quả đào tạo; đáp ứng yêu cầu của SV và toàn XH. Cho
nên việc quản lý chất lượng, hiệu quả đang là yêu cầu cấp thiết đặt ra
21
đối với trường ĐHCL. Bộ GD&ĐT cần đẩy nhanh việc đưa hệ thống
kiểm định, xếp hạng vào áp dụng đối với các trường ĐH.
4.2.6.2. Nhà nước cần tái cơ cấu lại hệ thống các trường
ĐHCL, thống nhất một đầu mối quản lý. Ở nước ta đang xảy ra nguy
cơ mất cân đối về qui mô ĐT (hệ ĐH quá lớn, chiếm 72,3%; hệ CĐ
chiếm 27,7%); đầu tư cho GDĐH bị dàn trải; chất lượng đào tạo bị
giảm sút. Vì vậy, các trường cần được tái cơ cấu lại theo hướng phân
tầng để tự hoàn thiện tổ chức bộ máy; vươn lên đảm bảo các tiêu chí
về đội ngũ, CSVC… Về mô hình quản lý, Bộ GD&ĐT chỉ quản lý
chuyên môn đã tạo nên sự khép kín, không có mặt bằng chung chuẩn
kiến thức giữa các Bộ ngành. Nảy sinh vấn đề chỉ đạo chồng chéo
cho nên GDĐH cần được quản lý theo hướng một đầu mối.
4.2.6.3. Các trường ĐHCL cần tăng cường trách nhiệm giải
trình trước nhà nước, người học và cộng đồng xã hội. Ở nước ta, việc
thực hiện trách nhiệm giải trình của các trường còn yếu. Nó cần được
tăng cường theo chủ trương “ba công khai” của Bộ GD&ĐT, các
4.3.4. Các trường cần làm rõ mục tiêu phát triển trong ngắn hạn,
dài hạn, tăng cường kiểm soát nội bộ, đổi mới hoạt động của nhà trường.
Mỗi trường cần xây dựng được chiến lược tài chính cho trước mắt và lâu
dài, nó được công khai cho người học, cho cộng đồng XH và CBVC nhà
trường giám sát thực hiện. Trong hoạt động các trường cần chú trọng công
tác kiểm soát nội bộ để phát hiện và giảm thiểu phát sinh chi phí không cần
thiết; kịp thời khen thưởng cá nhân, đơn vị làm tăng thu, giảm chi phí.
KẾT LUẬN CHƢƠNG 4
Các giải pháp hoàn thiện cơ chế TCTC theo hướng giao quyền
TCTC ở mức độ cao cho các trường nhằm tạo ra hành lang pháp lý,
môi trường cạnh tranh bình đẳng để buộc các trường tự nhìn nhận lại
chính mình, từ đó thay đổi phương thức quản trị theo hướng tiệm cận
với quản trị DN, gắn chất lượng đào tạo với thu hút SV và tăng
nguồn thu cho nhà trường.
23
KẾT LUẬN
Trong tiến trình đổi mới của Nhà nước thì việc hoàn thiện cơ
chế TCTC các trường ĐHCL đang là yêu cầu cần thiết được đặt ra
nhằm nâng cao chất lượng GDĐH. Trên cơ sở xác định mục tiêu, đối
tượng, phạm vi nghiên cứu, luận án đã giải quyết những nội dung:
1. Bổ sung và hệ thống hóa cơ sở lý luận, làm rõ bản chất, các
nhân tố tác động tới TCTC, cơ chế TCTC; tổng kết bài học kinh
nghiệm của 5 nước về TCTC; đưa ra 06 tiêu chí đánh giá mức độ
hoàn thiện cơ chế TCTC trường ĐHCL.
2. Phân tích thực trạng Nghị định 43/CP, nó có tác động thúc
đẩy đa dạng hóa hoạt động, đa dạng hóa nguồn thu, các trường nâng