Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính thúc đẩy phát triển dạy nghề ở việt nam đến năm 2020 - Pdf 24

Bộ giáo dục và đào tạo bộ tài chính
Học viện tài chính

-
TRƯƠNG ANH DũNG

HOàN THIệN CƠ CHế QUảN Lý TàI CHíNH

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
kết quả nêu trong Luận án là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng. Những kết
luận khoa học của Luận án chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình
nào khác.

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Trương Anh Dũng

ii
MỤC LỤC


Việt Nam 61
2.1.2. Thực trạng hệ thống cơ sở dạy nghề 66
2.1.3. Đánh giá chung về thực trạng hệ thống dạy nghề 70
iii

2.2. THỰC TRẠNG CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH DẠY NGHỀ Ở
VIỆT NAM 74
2.2.1. Thực trạng cơ chế quản lý huy động, tạo lập nguồn lực tài chính
dạy nghề 74
2.2.2. Thực trạng cơ chế quản lý phân bổ, sử dụng tài chính dạy nghề 92
2.2.3. Thực trạng cơ chế kiểm tra, giám sát tài chính dạy nghề 116
2.2.4. Đánh giá chung về thực trạng cơ chế quản lý tài chính dạy nghề 120
Kết luận Chương 2 123
Chương 3: 124GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH
THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN DẠY NGHỀ Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 124
3.1. QUAN ĐIỂM, PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN LÝ
TÀI CHÍNH DẠY NGHỀ Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 124
3.1.1. Bối cảnh kinh tế - xã hội nước ta đến năm 2020 124
3.1.2. Định hướng và mục tiêu phát triển dạy nghề Việt Nam đến năm 2020 125
3.1.3. Quan điểm và mục tiêu hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính dạy nghề 127
3.2. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH THÚC
ĐẨY PHÁT TRIỂN DẠY NGHỀ Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 130
3.2.1. Nhóm giải pháp về cơ chế quản lý huy động nguồn lực tài chính 130
3.2.2. Nhóm giải pháp về cơ chế quản lý phân bổ, sử dụng tài chính 141
3.2.3. Nhóm giải pháp tăng cường công tác kiểm tra, giám sát tài chính 158
3.2.4. Nhóm giải pháp cải thiện tính minh bạch và công khai tài chính 164
3.2.5. Nhóm giải pháp nâng cao năng lực bộ máy quản lý tài chính 166
3.3. LỘ TRÌNH VÀ ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP 168
3.3.1. Lộ trình thực hiện các giải pháp 168
3.3.2. Điều kiện thực hiện các giải pháp 170

v
DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 1.1. Đặc điểm của dạy nghề với các bậc giáo dục khác 11
Bảng 2.1. Chi NSNN cho dạy nghề giai đoạn 2007-2013 77
Bảng 2.2. Thu hoạt động dịch vụ sự nghiệp giai đoạn 2010-2012 của 40 trường
nghề được lựa chọn đầu tư thành trường nghề chất lượng cao 86
Bảng 2.3. Định mức phân bổ cho giáo dục đào tạo năm 2011 93
Bảng 2.4: So sánh kinh phí chi thường xuyên/học sinh giữa các trường 102
Bảng 2.5. So sánh bình quân chi thường xuyên/học sinh học nghề quy đổi
giai đoạn 2001-2013 103
Bảng 2.6. Tổng hợp kiểm tra, giám sát đề án 1956 giai đoạn 2010-2012 119
Bảng 2.7: Mã nghề cấp II theo các trình độ dạy nghề 146


Biểu 2.8: Chi XDCB cho dạy nghề giai đoạn 2007-2013 105
Biểu 2.9. Diện tích phòng học lý thuyết, xưởng thực hành so với tiêu chuẩn và qui
mô đào tạo tại các trường CĐN 106
Biểu 2.10. Diện tích phòng học lý thuyết, xưởng thực hành so với qui mô đào tạo tại
các trường TCN 106
Biểu 2.11. Diện tích ký túc xá so với tiêu chuẩn và qui mô đào tạo của các trường
CĐN và TCN 107
Biểu 2.12: Chi CTMTQG cho dạy nghề giai đoạn 2007-2013 109

1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Những năm gần đây, dạy nghề đã từng bước được đổi mới và phát triển cả về
quy mô và chất lượng đào tạo, bước đầu đáp ứng được yêu cầu nhân lực kỹ thuật trực
tiếp trong sản xuất, kinh doanh, dịch vụ cho nền kinh tế, góp phần nâng cao năng lực
cạnh tranh quốc gia, thực hiện chuyển dịch cơ cấu lao động, nâng cao thu nhập, giảm
nghèo và đảm bảo an sinh xã hội. Đóng góp vào những kết quả đó có vai trò quan
trọng, mang tính quyết định của các nguồn lực tài chính cho dạy nghề. Từ khi có Luật
Dạy nghề đến nay, chi NSNN cho dạy nghề tăng 3,2 lần, trong đó chi thường xuyên
tăng 2,6 lần, chi đầu tư tăng 3,6 lần và chi CTMTQG tăng hơn 4 lần.
Theo mục tiêu Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, đến năm 2020 nước ta
về cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Để đạt mục tiêu đó, Đảng
và Nhà nước đã xác định phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng
cao là một trong ba giải pháp đột phá chiến lược, trong đó dạy nghề có vai trò hết sức
quan trọng. Thủ tướng Chính phủ cũng đã phê duyệt Chiến lược phát triển dạy nghề
thời kỳ 2011-2020 với mục tiêu đến năm 2020 dạy nghề đáp ứng được nhu cầu của thị
trường lao động cả về số lượng, chất lượng, cơ cấu nghề và trình độ đào tạo; chất lượng
đào tạo của một số nghề đạt trình độ các nước phát triển trong khu vực ASEAN và
trên thế giới.

chế quản lý tài chính dạy nghề ở Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu của luận án:
- Về nội dung: Tài chính dạy nghề được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau.
Với mỗi nguồn tài chính lại có cơ chế quản lý riêng khó có thể gộp để nghiên cứu và
phản ánh trong phạm vi một luận án. Do đó, nội dung nghiên cứu của luận án chỉ giới
hạn về lý luận và thực tiễn của cơ chế huy động, cơ chế phân bổ, sử dụng và cơ chế
kiểm tra, giám sát tài chính từ nguồn NSNN và thu sự nghiệp của hệ thống dạy nghề
công lập (không bao gồm nguồn tài chính huy động từ nước ngoài), nhìn từ góc độ
của cơ quan tài chính tổng hợp.
3
- Về không gian và thời gian: Trên cơ sở vận dụng lý luận, kinh nghiệm quốc
tế để khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng cơ chế quản lý tài chính dạy nghề ở
Việt Nam từ năm 2007 (kể từ khi Luật Dạy nghề có hiệu lực thi hành) đến năm
2013; từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính dạy nghề
ở Việt Nam phù hợp với những thay đổi về hoàn cảnh KT-XH trong nước và quốc
tế đến năm 2020.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận án sử dụng tổng hợp các phương pháp
nghiên cứu; trong đó lấy phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử làm phương
pháp luận cơ bản, đồng thời kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như
tổng hợp, thống kê, đối chiếu, so sánh, qui nạp, diễn dịch để làm sáng tỏ vấn đề cần
nghiên cứu. Trong số các phương pháp nêu trên, thì phương pháp tổng hợp, thống kê,
đối chiếu, so sánh và phương pháp quy nạp, diễn dịch là các phương pháp chủ đạo để
giúp tác giả hoàn thành luận án.
Phương pháp tổng hợp, thống kê, được sử dụng để xử lý các số liệu thu thập
được từ nhiều nguồn khác nhau: Các tỉnh, thành phố; Vụ NSNN- Bộ Tài chính, Tổng
cục Dạy nghề. Ngoài ra, thông tin còn được thu thập trên các phương tiện thông tin đại
chúng như các tạp chí khoa học, sách chuyên khảo, internet
Phương pháp đối chiếu, so sánh: sau khi thu thập số liệu từ các nguồn khác
nhau, tác giả tiến hành đối chiếu, so sánh để chọn được các thông tin có độ tin cậy

dạy nghề ở Việt Nam đến năm 2020.

5
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Cùng với quá trình đổi mới cơ chế quản lý nền kinh tế, các chính sách, cơ chế
tài chính cho GD-ĐT và dạy nghề cũng đã và đang từng bước được đổi mới và hoàn
thiện nhằm huy động sự tham gia đóng góp của toàn xã hội và nâng cao hiệu quả đầu
tư để phát triển lĩnh vực này. Trong thực tế, đã có nhiều công trình nghiên cứu về đổi
mới cơ chế quản lý tài chính cho GD-ĐT nói chung và cho dạy nghề nói riêng theo
các quy mô và cấp độ khác nhau như:
- Về vai trò, vị trí của dạy nghề trong nền kinh tế thị trường, đã có một số
công trình nghiên cứu được tập hợp trong cuốn sách “Đổi mới căn bản, toàn diện
GD-ĐT Việt Nam” [2]. Trong phần II của cuốn sách - “Đổi mới và phát triển dạy
nghề ở Việt Nam”, các nhà khoa học, nhà quản lý đã nghiên cứu, phân tích những
quan điểm của Đảng, đánh giá những chính sách của Nhà nước về phát triển dạy
nghề ở nước ta và đưa ra các luận điểm về vai trò, vị trí của dạy nghề đối với phát
triển kinh tế xã hội, là vấn đề quan trọng hàng đầu trong đổi mới căn bản toàn diện
giáo dục Việt Nam. Trong đó, trọng tâm là đổi mới quản lý nhà nước và hoàn thiện
cơ chế, chính sách tạo động lực phát triển dạy nghề; đẩy mạnh xã hội hóa và mở
rộng hợp tác quốc tế; huy động mọi nguồn lực trong và ngoài nước cùng với việc
tăng đầu tư từ ngân sách nhà nước để thực hiện đổi mới và phát triển dạy nghề.
Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập sâu, hệ thống hóa
những vấn đề mang tính lý luận về dạy nghề, các hệ thống dạy nghề, các yếu tố tác
động tới phát triển dạy nghề; chưa có bài viết nào đánh giá tổng thể thực trạng dạy
nghề ở Việt Nam trong giai đoạn 2007-2013.
- Về cơ chế quản lý tài chính, ngân sách dạy nghề nói riêng và GD-ĐT nói
chung, có một số công trình nghiên cứu như:
+ Báo cáo của Tổ chức Hợp tác Kỹ thuật Đức (GTZ) về “Cấp tài chính cho
dạy nghề Việt Nam” (2007) [22] đã tiến hành thực hiện tìm hiểu thực tế nhằm đánh

của các doanh nghiệp và các học viên (từ cha mẹ) với vai trò là các bên tham gia và
những người hưởng lợi. Vấn đề cốt yếu thứ ba đó là quản lý và phân bổ nguồn vốn,
tập trung vào tính minh bạch, trách nhiệm giải trình cũng như hiệu suất và hiệu quả
của nguồn vốn thông qua cơ chế phân bổ dựa trên sự thực hiện.
7
Tuy nhiên, báo cáo nêu trên không đưa ra được những vấn đề mang tính lý
luận về các nguồn tài chính đầu tư cho dạy nghề, cơ chế quản lý tài chính dạy nghề,
các yếu tố ảnh hưởng đến cơ chế quản lý tài chính dạy nghề; chưa nêu được cụ thể
kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới về cơ chế quản lý tài chính dạy nghề
và bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam. Phần thực trạng trong báo cáo cũng
trình bày có tính tổng quát, chưa đi sâu phân tích đánh giá thực trạng cơ chế quản lý
tài chính dạy nghề ở Việt Nam thời gian qua. Chưa làm rõ những mặt được, mặt
chưa được và nguyên nhân của những hạn chế trong cơ chế quản lý tài chính dạy
nghề ở Việt Nam từ góc độ các văn bản pháp lý và quá trình tổ chức thực hiện các
văn bản này.
+ Luận án của tác giả Trần Thị Thu Hà (1993), Bộ Giáo dục và Đào tạo với đề tài
"Đổi mới và hoàn thiện cơ chế quản lý hệ thống ngân sách, hệ thống giáo dục quốc dân"
[8]. Luận án thực hiện trong bối cảnh nước ta đã và đang từng bước chuyển sang cơ chế
kinh tế thị trường có sự quản lý và điều tiết vĩ mô của Nhà nước, với sự xuất hiện của
những bất cập trong hệ thống giáo dục quốc dân. Những lập luận về mối quan hệ giữa
đổi mới cơ chế quản lý hệ thống NSNN với đổi mới hệ thống giáo dục quốc dân là khá
chặt chẽ và có sức thuyết phục. Tuy nhiên, Luận án chưa đi sâu phân tích được những
đặc thù của từng cấp bậc học trong hệ thống giáo dục để đề xuất cơ chế quản lý tài chính
cho phù hợp.
+ Luận án của tác giả Đặng Văn Du (2004), Học viện Tài chính với đề tài
"Các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư tài chính cho đào tạo đại học"[5]. Luận án
chọn vấn đề nghiên cứu nhằm giải quyết những bức xúc trong sử dụng tài chính như
là một trong những công cụ để thúc đẩy sự phát triển của hệ thống giáo dục đại học
công lập. Luận án ủng hộ cho việc triển khai "áp giá dịch vụ" đối với cấp giáo dục
đại học; bởi nó vừa là con đường tạo nguồn tài chính quan trọng cho các cơ sở giáo

cần thiết trong học phí; đổi mới cơ chế phân bổ nguồn lực từ NSNN; đổi mới cơ chế
tự chủ tự chịu trách nhiệm tài chính đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập; đổi
mới cơ chế hỗ trợ chi phí đào tạo đối với người học; có chính sách khuyến khích,
gắn kết giữa đào tạo với NCKH… Tuy nhiên, bài viết chưa đưa ra được những khái
9
niệm rõ ràng về cơ chế tài chính, nội hàm của cơ chế tài chính, cũng như chưa nêu
bật được những yếu tố tác động tới nó để là nền tảng lý luận khi phân tích, đánh giá
thực trạng cũng như đề xuất những giải pháp để đổi mới cơ chế này.
Ngoài các công trình nghiên cứu trên đây, còn có một số công trình nghiên
cứu về tài chính dạy nghề ở cấp độ Luận văn thạc sĩ và các nghiên cứu ở các địa
phương cụ thể. Tuy nhiên, chưa có một công trình nghiên cứu, hay một đề tài nào
được thực hiện một cách hệ thống và có bài bản về cơ chế quản lý tài chính dạy
nghề ở Việt Nam. Do vậy, nghiên cứu sinh đã chọn đề tài “Hoàn thiện cơ chế quản
lý tài chính thúc đẩy phát triển dạy nghề ở Việt Nam đến năm 2020” để nghiên
cứu và làm luận án tiến sĩ kinh tế. Trên cơ sở kế thừa những nghiên cứu có liên
quan về lý luận của cơ chế quản lý tài chính nói chung và cơ chế quản lý tài chính
trong các cơ sở đào tạo nói riêng, Luận án đã hệ thống hoá và làm rõ ràng hơn
những lý luận về quan niệm, nội dung, vai trò và các nhân tố ảnh hưởng tới cơ chế
quản lý tài chính dạy nghề; Luận án đã bổ sung những lý luận về các phương pháp,
hình thức và những công cụ được thiết lập ra để quản lý, giám sát các nguồn lực tài
chính trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng nhằm đạt mục tiêu quản lý;
Luận án đã nghiên cứu và tổng kết kinh nghiệm về cơ chế quản lý tài chính dạy
nghề của một số quốc gia trên thế giới và rút ra những bài học kinh nghiệm đối với
Việt Nam; chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của thực trạng cơ chế
quản lý tài chính dạy nghề ở Việt Nam, từ đó đề xuất được giải pháp có tính khoa
học và thực tiễn nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính để hỗ trợ dạy nghề phát
triển theo mục tiêu Chiến lược phát triển dạy nghề Việt Nam đến năm 2020.
Những kết quả nghiên cứu trên đây là những đóng góp của Luận án cho khoa học
chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng.
10

về khái niệm dạy nghề thì ta có thể định nghĩa: “Dạy nghề (hay đào tạo nghề) là
11
một quá trình sư phạm có mục đích, có nội dung và phương pháp nhất định nhằm
trang bị cho người học những kiến thức, kỹ năng cần thiết để họ có năng lực hành
nghề tương xứng với trình độ được đào tạo”.
Trong hệ thống giáo dục của mỗi quốc gia, dạy nghề có sự khác biệt nhất
định với các bậc giáo dục khác. Sự khác biệt đó được tóm tắt qua bảng dưới đây:

Bảng 1.1. Đặc điểm của dạy nghề với các bậc giáo dục khác
Tiêu chí
so sánh
Dạy nghề
Giáo dục
mầm non
Giáo dục
phổ thông
Giáo dục
đại học
Đối tượng
Học sinh tốt nghiệp
trung học hoặc người
lao động
Trẻ em, thường
dưới tuổi học
tiểu học
Học sinh từ tiểu học
đến trung học phổ
thông
Học sinh tốt
nghiệp trung học

ững vấn đề thuộc
chuyên ngành đư
ợc
đào tạo
Nội dung,
phương
pháp
Tập trung đào tạo
năng lực thực hành
nghề nghiệp, coi trọng
giáo dục đạo đức, rèn
luyện sức khoẻ, rèn
luyện kỹ năng theo
yêu cầu đào tạo của
từng nghề
Bảo đảm phù
hợp với sự phát
triển tâm sinh lý
của trẻ em, hài
hòa giữa nuôi
dưỡng, chăm
sóc và giáo dục
Bảo đảm tính phổ
thông, cơ bản, toàn
diện, hướng nghiệp
và có hệ thống; gắn
với thực tiễn cuộc
sống, phù hợp với
tâm sinh lý lứa tuổi
của Học sinh

những cơ quan khác nhau. Các hoạt động dạy nghề của quốc gia thường được phân
chia giữa nhà nước, chính quyền trung ương, địa phương và giữa một số bộ, ngành
theo những nhóm người học nghề nhất định; chúng được đầu tư tài chính từ những
tài khoản riêng rẽ và được quản lý riêng biệt. Hiểu rõ các hệ thống dạy nghề khác
nhau là cần thiết để có cơ chế quản lý nói chung và cơ chế quản lý tài chính nói
riêng đối với dạy nghề có hiệu quả.
- Theo tính chất tài chính đầu tư cho dạy nghề, dạy nghề được chia làm 02 hệ
thống sau đây:
+ Hệ thống dạy nghề công lập, do nhà nước đầu tư, đảm bảo hoạt động khi
Nhà nước nhận thấy những lợi ích xã hội đạt được đủ lớn để tác động đến số đông
dân chúng. Khi đó, những ưu tiên xã hội được thiết lập và thường định hướng cho
hoạt động tài chính dạy nghề; cải thiện năng suất lao động và thúc đẩy việc làm
thường được quan tâm và ưu tiên. Hệ thống này được duy trì khi những người lao
động được đào tạo có thể thu hút thêm việc làm hoặc tự tạo việc làm, và kết quả là
nâng cao được phúc lợi cho xã hội.
+ Hệ thống dạy nghề ngoài công lập, do các tổ chức, cá nhân đảm bảo hoạt
động khi họ nhận thấy đào tạo nghề giúp nâng cao kỹ năng, thu nhập cho bản thân
người lao động hay người sử dụng lao động thông qua việc kỹ năng tốt hơn tạo ra
năng suất lao động và lợi nhuận cao hơn. Mặc dù ngân sách Nhà nước là một nguồn
lực chính, tuy nhiên khi mà dạy nghề cũng tạo ra những lợi ích cá nhân cho phía
người học và doanh nghiệp, nhất là khi mà họ trực tiếp là người hưởng lợi thì họ
nên đầu tư tài chính cho dạy nghề.
Với đặc điểm là một hàng hóa công cộng có thể loại trừ nhưng với phí tổn
lớn, dịch vụ dạy nghề có thể do khu vực công hoặc khu vực tư nhân cung cấp, tùy
thuộc vào việc so sánh tổn thất phúc lợi xã hội và được lý giải bằng đồ thị dưới đây:
13

Hình 1.1. Minh họa về hàng hóa công cộng có chi phí giao dịch lớn
Giả sử hàng hóa công cộng có chi phí biên để sản xuất là c và do phát sinh
thêm chi phí giao dịch nên giá của nó bị đẩy lên tới p. Mức cung cấp hàng hóa cộng

đào tạo có gắn kết chặt chẽ với các cơ quan lao động địa phương.
+ Hệ thống đào tạo nghề tại doanh nghiệp bao gồm những hướng dẫn được
cung cấp hoặc đầu tư tài chính bởi các doanh nghiệp cho công nhân của họ, cũng có
thể được thực hiện tự nguyện thực hiện với những quy định nhất định. Các quốc gia
có sự khác nhau về vai trò của chính phủ trong việc tham gia quản lý việc đào tạo
nghề tại doanh nghiệp với 3 hình thức chủ yếu sau: chính phủ quy định cứng (luật
định), không quy định cứng, hoặc các doanh nghiệp tự quy định. Cụ thể:
Ở một số nước, chính phủ đưa ra quy định cụ thể một tỷ lệ tối thiểu bắt buộc
về chi phí đào tạo của doanh nghiệp hoặc một tỷ lệ tối thiểu lao động cần phải được
đào tạo hàng năm của doanh nghiệp. Theo đó, các hoạt động đào tạo của doanh
nghiệp được quy định và giám sát chặt chẽ bởi chính phủ. Ở một số nước (nhất là
các nước Mỹ la tinh), phần lớn các cơ sở đào tạo được giao kinh phí từ thuế đào tạo
do các doanh nghiệp đóng góp và tự quản lý bởi các thành viên. Tuy nhiên, các hoạt
động của họ được chính phủ pháp luật hóa và kiểm tra.
15
Ở một số nước khác, chính phủ hạn chế can thiệp và các doanh nghiệp được
tự do quyết định đào tạo lao động như thế nào và bao lâu. Các doanh nghiệp có thể
trực tiếp đào tạo hoặc thuê các cơ sở đào tạo cho lao động của họ. Người lao động
có thể tự tham gia các khóa học và nhận được sự hỗ trợ từ phía chủ sử dụng lao
động. Các ngành công nghiệp có thể tạo ra các tổ chức đào tạo trong ngành, điều
này sẽ đảm bảo sự hợp tác, phối hợp, cung cấp thông tin và tham gia vào việc phát
triển hệ thống văn bằng dạy nghề quốc gia. Tuy nhiên, ở đâu mà các doanh nghiệp
tư nhân nắm quyền chủ động về dạy nghề thì ở đó không có hệ thống đào tạo nghề
chính quy.
Ở một số nước khác, đặc biệt là các nước công nghiệp ở Châu Âu thì các
doanh nghiệp tự đặt ra quy định về dạy nghề. Ở những quốc gia này, đào tạo tại
doanh nghiệp liên quan chặt chẽ với các hiệp định về lao động của quốc gia hay của
ngành, nó quy định cụ thể về khung tổ chức đào tạo nghề. Các ngành công nghiệp
thiết lập cơ chế cùng phối hợp quản lý gồm các hội đồng kỹ thuật, hội đồng người
học và những tổ chức như vậy để giám sát các hiệp định, phối hợp với các hoạt động

1.1.2.1. Xu hướng toàn cầu hoá và hội nhập
Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế khách quan; xu thế
toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới đang ngày càng quy tụ các hoạt động xuyên quốc
gia làm gia tăng dòng giao lưu toàn cầu về vốn đầu tư, hàng hoá, lao động, dịch vụ
DẠY
NGHỀ
Cơ chế , chính
sách quản lý tài
chính
Chuyển dịch cơ
cấu kinh tế và cơ
cấu lđ

Khoa học
công nghệ
Kinh tế thị
trường
Xu hướng toàn
cầu hoá và hội
nhập

17
ngân hàng, thông tin; nhiều vấn đề kinh tế - xã hội mang tính toàn cầu đang được
các quốc gia quan tâm cùng hành động chung để giải quyết như vấn đề nghèo đói,
phát triển nguồn nhân lực, công ăn việc làm, bảo vệ môi trường, bình đẳng, tiến bộ
và công bằng xã hội, an sinh xã hội. Toàn cầu hoá tạo ra nhiều cơ hội phát triển cho
các quốc gia, nhưng cũng có không ít thách thức. Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế
quốc tế sẽ diễn ra sự cạnh tranh kinh tế giữa các quốc gia ngày càng quyết liệt hơn.
Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế tác động mạnh đến phát triển dạy
nghề từ hai hướng cơ bản, đó là yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm,

lao động có năng lực nghề nghiệp và phẩm chất vượt trội, phù hợp với yêu cầu công
việc mà thị trường lao động (người sử dụng lao động) đang cần sẽ là người có nhiều cơ
hội việc làm và thắng lợi trong cạnh tranh.
- Trong kinh tế thị trường, tiền công, tiền lương là giá cả của lao động, là sự
biểu hiện bằng tiền của giá trị lao động. Xu hướng tiền công, tiền lương trong cơ chế
thị trường là xoay quanh giá trị lao động và dần dần trả đúng giá trị lao động. Mà
chúng ta biết rằng, thước đo giá trị lao động là hao phí lao động hay chi phí lao động
trong giá trị gia tăng. Lao động có trình độ càng cao thì càng có khả năng nâng cao
năng suất lao động, giảm chi phí lao động trong giá trị sản phẩm, làm cho tỷ trọng
tiền lường trong giá trị gia tăng có xu hướng giảm và do đó càng được trả lương, trả
công cao hơn, nhất là khi mà sản phẩm có khả năng cạnh tranh hơn trên thị trường.
Trong nền kinh tế thị trường hiện đại dựa trên nền tảng kỹ thuật công nghệ cao, xu
hướng tiền lương tăng lên dẫn đến việc lựa chọn sử dụng nhiều tư bản hơn lao động,
tức là tăng cầu lao động kỹ thuật cao, giảm cầu lao động không có trình độ kỹ thuật.
Đây là yếu tố khách quan tăng cầu lao động kỹ thuật trong cơ chế thị trường, dẫn đến
tăng nhu cầu đào tạo lao động kỹ thuật theo nhịp độ tương ứng của áp dụng công
nghệ cao, nhất là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, các khu công nghiệp, khu chế
xuất, khu công nghệ cao
- Thị trường lao động trong nền kinh tế thị trường là một thể thống nhất, không
bị chia cắt về mặt hành chính dựa trên cơ sở tự do hoá trong lao động. Tuy nhiên có sự
phân lớp khá đa dạng, phong phú biểu hiện ở các cơ cấu lao động khác nhau. Trong đó

Trích đoạn Vai trũ của dạy nghề đối với phỏt triển kinh tế xó hội CƠ CHẾ QUẢN Lí TÀI CHÍNH DẠY NGHỀ Nhúm giải phỏp cải thiện tớnh minh bạch và cụng khai tài chớnh Nhúm giải phỏp nõng cao năng lực bộ mỏy quản lý tài chớnh LỘ TRèNH VÀ ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status