TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
---***---
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
MÔ HÌNH VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY
CHỨNG KHOÁN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
VIỆT NAM HIỆN NAY.
Họ và tên sinh viên
: Mai Thị Linh
Lớp
: Nhật 1
Khoá
: 42
Giáo viên hướng dẫn : Ths. Phan Trần Trung Dũng
Hà Nội, tháng 10/ 2007
Mụ hỡnh v hot ng ca cỏc CTCK trờn TTCK Vit Nam hin nay
MC LC
Khái niệm về công ty chứng khoán ....................................................... 12
2.
Các loại hình công ty chứng khoán ....................................................... 12
3.
Các nghiệp vụ của công ty chứng khoán ............................................... 19
4.
Vai trò của công ty chứng khoán đối với thị tr-ờng chứng khoán .......... 27
Ch-ơng hai : Thực trạng về mô hình và hoạt động của các
công ty chứng khoán trên thị tr-ờng chứng khoán Việt
Nam hiện nay................................................................................................. 30
I.
Cơ sở pháp lý cho hoạt động của các công ty chứng khoán tại Việt Nam
hiện nay. ...................................................................................................... 31
1.
Yêu cầu về loại hình kinh doanh và phạm vi hoạt động ......................... 31
2.
Yêu cầu về vốn và quy mô vốn ............................................................. 34
III. Một số tồn tại trong hoạt động của các công ty chứng khoán hiện nay .... 59
1.
Số l-ợng các công ty chứng khoán tăng nhanh chóng trong một thời gian
ngắn nh- một mối đe doạ đến quyền lợi nhà đầu t- ............................... 59
2.
Nhiều công ty ch-a đáp ứng đủ mức vốn pháp định theo yêu cầu .......... 63
3.
Cơ sở hạ tầng và các trang thiết bị kỹ thuật ch-a đáp ứng đ-ợc yêu cầu
của thị tr-ờng........................................................................................ 63
4.
Thiếu nhân lực về cả số l-ợng và chất l-ợng ......................................... 65
5.
Hoạt động t- vấn cho khách hàng ch-a đ-ợc quan tâm thích đáng ....... 65
6.
Nhiều công ty chứng khoán liên tục vi phạm các quy định về giao dịch 66
IV. Bài học kinh nghiệm từ việc tổ chức công ty chứng khoán của một số n-ớc
trên thế giới.................................................................................................. 67
Mụ hỡnh v hot ng ca cỏc CTCK trờn TTCK Vit Nam hin nay
II.
4.
Hoàn thiện hệ thống đào tạo, sát hạch cấp giấy phép hành nghề ............ 84
5.
Tạo môi tr-ờng thuận lợi cho các CTCK hoạt động ............................... 84
6.
Tăng c-ờng quản lý, giám sát hoạt động của các công ty chứng khoán
trên thị tr-ờng ....................................................................................... 85
Kiến nghị đối với các công ty chứng khoán ................................................ 86
1.
Tăng vốn điều lệ hơn nữa nhằm nâng cao quy mô và chất l-ợng hoạt
động ..................................................................................................... 86
2.
ứng dụng công nghệ hiện đại, tăng c-ờng cơ sở vật chất kỹ thuật trong
hoạt động kinh doanh để đạt hiệu quả cao về kinh tế cũng nh- kiểm soát
và quản trị rủi ro tốt .............................................................................. 87
3.
Mô hình và hoạt động của các CTCK trên TTCK Việt Nam hiện nay
MỞ ĐẦU
Theo kinh nghiệm của các nước phát triển, để tận dụng được nguồn
vốn nhàn rỗi trong dân chúng cũng như huy động được vốn đầu tư nước ngoài
cần có TTCK. Do vậy, việc thiết lập một TTCK hoạt động lành mạnh, hiệu
quả và thực sự trở thành một kênh huy động vốn hữu hiệu cho nền kinh tế là
một yếu tố quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội ở nước ta hiện nay.
Tuy nhiên, để một TTCK được thiết lập và hoạt động có hiệu quả đòi
hỏi phải hội đủ các yếu tố nhất định như: phải có một khối lượng lớn các công
ty niêm yết, các nhà đầu tư cá nhân, tổ chức cũng như các tổ chức trung gian
kinh doanh trên TTCK. Trong đó, CTCK là một tổ chức trung gian trên
TTCK, có vai trò chủ yếu là làm môi giới giao dịch mua, bán chứng khoán,
làm cầu nối giữa nhà phát hành và các nhà đầu tư. Do đó, vai trò của các
CTCK mang tính chất quyết định trong sự phát triển lớn mạnh của thị trường.
TTCK Việt Nam mới trong giai đoạn phát triển, cùng với quá trình đó
là sự hình thành và từng bước trưởng thành của các CTCK. Tuy nhiên trong
quá trình hoạt động của các CTCK hiện nay còn bộc lộ nhiều tồn tại, hạn chế.
Vì vậy, tôi xin chọn đề tài: “Mô hình và hoạt động của các công ty chứng
khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay” cho khoá luận tốt
nghiệp này.
Trong khoá luận, tôi xin trình bày những cơ sở lý luận chung nhất về
CTCK, các loại mô hình CTCK, cũng như thực trạng hoạt động của các
CTCK ở Việt Nam từ khi ra đời cho đến nay. Cùng với việc tìm hiểu mô hình,
hoạt động của CTCK tại một số nước trên thế giới, rút ra bài học kinh nghiệm
cho thực tế xây dựng và phát triển các CTCK ở Việt Nam. Từ đó, người viết
xin đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm thiết lập, hoàn thiện mô hình CTCK
Thương, Thư viện quốc gia, Ban quản lý kinh doanh – Uỷ ban Chứng khoán
Nhà nước…
Tuy nhiên do kiến thức cũng như kinh nghiệm thực tế còn thiếu, khoá
luận chắc chắn không tránh khỏi những khiếm khuyết, rất mong được sự góp
ý, chỉ bảo từ thầy cô và các bạn quan tâm.
Xin chân thành cảm ơn.
Hà Nội, ngày 2/10/2007
Mai Thị Linh
2
Mô hình và hoạt động của các CTCK trên TTCK Việt Nam hiện nay
CHƢƠNG MỘT: CƠ SỞ LÝ LUẬN
I.
TỔNG QUAN THỊ VỀ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN
1. Khái niệm về thị trƣờng chứng khoán
Như ta đã biết, thị trường tài chính là tổng hoà các mối quan hệ cung
cầu về vốn, diễn ra dưới hình thức vay mượn, mua bán về vốn, tiền tệ và các
chứng từ có giá khác. Nói cách khác, thị trường tài chính là nơi diễn ra các
hoạt động mua bán các tài sản tài chính. Thị trường tài chính bao gồm thị
trường tiền tệ là nơi mua bán các công cụ nợ ngắn hạn và thị trường vốn là
nơi mua bán các công cụ vốn, công cụ nợ trung và dài hạn. Thị trường vốn
được thực hiện thông qua ngân hàng và TTCK.
Như vậy, TTCK là một bộ phận cấu thành của thị trường tài chính mà
tại đó diễn ra việc mua bán các công cụ tài chính trung và dài hạn. Hàng hoá
trên TTCK bao gồm các loại chứng khoán, nó được hiểu là các giấy tờ có giá
Thị trường cổ phiếu: Là thị trường phát hành và giao dịch mua bán các
loại cổ phiếu.
Thị trường trái phiếu: Là thị trường phát hành và giao dịch, mua bán
các trái phiếu đã được phát hành. Các trái phiếu này bao gồm trái phiếu công
ty, trái phiếu đô thị và trái phiếu chính phủ.
Thị trường các công cụ phái sinh: Bên cạnh các giao dịch truyền thống
về cổ phiếu và trái phiếu, các giao dịch mua bán các chứng từ tài chính khác
như: quyền mua cổ phiếu, chứng quyền, hợp đồng quyền chọn đã xuất hiện.
Các chứng từ tài chính này được ra đời từ các giao dịch chứng khoán (cổ
4
Mô hình và hoạt động của các CTCK trên TTCK Việt Nam hiện nay
phiếu, trái phiếu). Do đó, người ta gọi chúng là các chứng từ có nguồn gốc
chứng khoán, hay các công cụ phái sinh.
Thị trường các công cụ phái sinh là thị trường phát hành và mua đi bán
lại các công cụ phái sinh đã được phát hành. Đây là loại thị trường chuyên
giao dịch những công cụ tài chính cao cấp, do đó thị trường này chỉ xuất hiện
ở những nước có TTCK phát triển mạnh.
3. Nguyên tắc hoạt động cơ bản của thị trƣờng chứng khoán
- Nguyên tắc công khai
Chứng khoán là các hàng hoá trừu tượng, người đầu tư không thể kiểm
tra trực tiếp được các chứng khoán như các hàng hoá thông thường mà phải
dựa trên cơ sở các thông tin có liên quan. Vì vậy, TTCK phải được xây dựng
trên cơ sở hệ thống công bố thông tin tốt. Theo luật định, các bên phát hành
chứng khoán có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ, trung thực và kịp thời những thông
tin có liên quan tới tổ chức phát hành, tới đợt phát hành. Công bố thông tin
được tiến hành khi phát hành lần đầu cũng như theo các chế độ thường xuyên
chứng khoán lần đầu từ những người phát hành, và ở thị trường thứ cấp khi
có sự mua đi bán lại các chứng khoán đã được phát hành ở thị trường sơ cấp.
Như vậy, xét về mặt hình thức, TTCK chỉ là nơi diễn ra các hoạt động trao
đổi, mua bán, chuyển nhượng các loại chứng khoán, qua đó thay đổi chủ thể
nắm giữ chứng khoán. TTCK có những chức năng cơ bản sau:
-
Huy động vốn đầu tƣ cho nền kinh tế
Khi các nhà đầu tư mua chứng khoán do các công ty phát hành, số tiền
nhàn rỗi của họ được đưa vào hoạt động sản xuất – kinh doanh và qua đó góp
phần mở rộng sản xuất xã hội. Bằng cách hỗ trợ các hoạt động đầu tư của
công ty, TTCK đã có những tác động quan trọng đối với sự phát triển của nền
kinh tế quốc dân. Thông qua TTCK, Chính phủ và chính quyền ở các địa
phương cũng huy động được các nguồn vốn cho mục đích đầu tư phát triển hạ
tầng kinh tế, phục vụ các nhu cầu chung của xã hội.
-
Cung cấp môi trƣờng đầu tƣ cho công chúng
TTCK cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tư lành mạnh với
các cơ hội lựa chọn phong phú. Các loại chứng khoán trên thị trường rất khác
6
Mô hình và hoạt động của các CTCK trên TTCK Việt Nam hiện nay
nhau về tính chất, thời hạn và độ rủi ro, cho phép các nhà đầu tư có thể lựa
chọn loại hàng hoá phù hợp với khả năng, mục tiêu và sở thích của mình.
và bán trái phiếu Chính phủ để tạo ra nguồn bù đắp thâm hụt ngân sách và
quản lý lạm phát. Ngoài ra, Chính phủ cũng có thể sử dụng một số chính sách,
7
Mô hình và hoạt động của các CTCK trên TTCK Việt Nam hiện nay
biện pháp tác động vào TTCK nhằm định hướng đầu tư đảm bảo cho sự phát
triển cân đối của nền kinh tế.
5. Các chủ thể tham gia thị trƣờng chứng khoán
Các tổ chức và cá nhân tham gia TTCK được chia thành 3 nhóm sau:
Nhà phát hành, nhà đầu tư và các tổ chức có liên quan đến TTCK.
-
Nhà phát hành
Nhà phát hành là các tổ chức thực hiện huy động vốn thông qua TTCK
và là người cung cấp các chứng khoán – hàng hoá cho TTCK.
Chính phủ và chính quyền địa phương là nhà phát hành các trái phiếu
Chính phủ và trái phiếu địa phương.
Công ty là nhà phát hành các cổ phiếu và trái phiếu công ty.
Các tổ chức tài chính là nhà phát hành các công cụ tài chính như các
trái phiếu, chứng chỉ thụ hưởng… phục vụ cho hoạt động của họ.
-
Nhà đầu tƣ
Nhà đầu tư là những người mua và bán chứng khoán trên TTCK. Nhà
đầu tư có thể được chia thành 2 loại: Nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tư có tổ
CTCK là những công ty hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán, có thể
đảm nhận một hoặc nhiều trong số các nghiệp vụ chính là bảo lãnh phát hành,
môi giới, tự doanh, tư vấn tài chính doanh nghiệp và tư vấn đầu tư chứng
khoán.
Để có thể thực hiện được mỗi nghiệp vụ, các CTCK phải đảm bảo
được một số vốn nhất định và phải được phép của cơ quan có thẩm quyền.
Các ngân hàng thương mại
Tại một số nước, các ngân hàng thương mại có thể sử dụng vốn tự có
để tăng và đa dạng hoá lợi nhuận thông qua đầu tư vào chứng khoán. Tuy
nhiên, các ngân hàng chỉ được đầu tư và chứng khoán trong những giới hạn
nhất định để bảo vệ ngân hàng trước những biến động của giá chứng khoán.
9
Mô hình và hoạt động của các CTCK trên TTCK Việt Nam hiện nay
Một số nước cho phép ngân hàng thương mại thành lập công ty con độc lập
để kinh doanh chứng khoán và thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát hành.
-
Các tổ chức có liên quan đến thị trƣờng chứng khoán
Cơ quan quản lý nhà nước
Ban đầu TTCK hình thành một cách tự phát khi có sự xuất hiện của cổ
phiếu và trái phiếu và hầu như chưa có sự quản lý. Nhưng nhận thấy cần có sự
bảo vệ lợi ích cho nhà đầu tư và đảm bảo sự hoạt động bình thường, ổn định
của TTCK, bản thân các nhà kinh doanh chứng khoán và các quốc gia có
TTCK hoạt động cho rằng cần phải có cơ quan quản lý và giám sát hoạt động
phát hành và kinh doanh chứng khoán. Chính vì vậy, cơ quan quản lý, giám
một số thành viên khác hoạt động trong ngành chứng khoán, được thành lập
với mục đích bảo vệ lợi ích cho các công ty thành viên nói riêng và cho toàn
ngành chứng khoán nói chung.
Tổ chức lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán
Là tổ chức nhận lưu giữ các chứng khoán và tiến hành các nghiệp vụ
thanh toán bù trừ cho các giao dịch chứng khoán .
Công ty định mức tín nhiệm
Công ty định mức tín nhiệm là công ty chuyên cung cấp dịch vụ đánh
giá năng lực thanh toán các khoản vốn gốc, lãi đúng thời hạn và theo những
điều khoản đã cam kết của công ty phát hành đối với một đợt phát hành cụ thể.
Các mức hệ số tín nhiệm vì thế thường được gắn cho một đợt phát hành chứ
không phải cho công ty. Do vậy một công ty phát hành có thể mang nhiều
mức hệ số tín nhiệm cho các phát hành nợ của nó.
11
Mô hình và hoạt động của các CTCK trên TTCK Việt Nam hiện nay
II.
CÔNG TY CHỨNG KHOÁN – CHỦ THỂ QUAN TRỌNG HÀNG
ĐẦU CỦA THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN
1. Khái niệm về công ty chứng khoán
Lịch sử hình thành và phát triển của TTCK trên thế giới đã cho thấy,
TTCK thời kỳ còn sơ khai, các nhà môi giới hoạt động độc lập với nhau. Sau
này, cùng với sự phát triển của TTCK chức năng và quy mô hoạt động giao
dịch của các nhà môi giới tăng lên, đòi hỏi sự ra đời của các CTCK – là sự tập
hợp có tổ chức của các nhà môi giới riêng rẽ. Sự ra đời của CTCK là do nhu
Mô hình công ty chứng khoán chuyên doanh
Theo mô hình này, hoạt động kinh doanh chứng khoán sẽ do các công
ty độc lập và chuyên môn hoá trong lĩnh vực chứng khoán đảm trách. Các
ngân hàng, tổ chức tài chính, công ty bảo hiểm không được tham gia kinh
doanh chứng khoán.
Mô hình này đã được áp dụng khá rộng rãi ở các thị trường Mỹ,
Nhật… và các thị trường mới nổi như Hàn Quốc, Thái Lan…
Sở dĩ người ta không cho phép các tổ chức tài chính khác kinh doanh
chứng khoán là vì người ta sợ rằng những hoạt động của CTCK khi được thực
hiện đồng thời với các hoạt động tín dụng sẽ làm cho hoạt động kinh doanh
chứng khoán và hoạt động tín dụng gặp nhiều rủi ro hơn. Ví dụ như CTCK là
tổ chức tín dụng sử dụng tiền gửi của khách hàng để kinh doanh chứng khoán
với khối lượng lớn làm cho cầu chứng khoán tăng nhanh, dẫn đến giá chứng
khoán không phản ánh trung thực giá trị của doanh nghiệp, và điều đó có thể
dẫn đến sự sụp đổ của TTCK.
Ưu điểm của mô hình này là:
+
Hạn chế rủi ro cho hệ thống ngân hàng và các tổ chức tài chính khác.
+ Tạo điều kiện cho TTCK phát triển mang tính chuyên môn hoá cao.
13
Mô hình và hoạt động của các CTCK trên TTCK Việt Nam hiện nay
Tuy nhiên mô hình này có nhược điểm là: nó không thích hợp với thị
Mô hình và hoạt động của các CTCK trên TTCK Việt Nam hiện nay
Ví dụ như khi thành lập một CTCK độc lập, người ta phải có hội đồng
quản trị, ban điều hành riêng, có trụ sở, phương tiện hoạt động riêng. Trong
khi nếu hoạt động đa năng hơn thì hội đồng quản trị, ban điều hành không
phải riêng biệt…nhờ đó chi phí quản trị sẽ giảm đi rất nhiều.
+ Khi nguồn vốn của ngân hàng, tổ chức tài chính là công ty mẹ chưa sử
dụng sẽ được đưa vào dự trữ chứng khoán, điều đó làm tăng khả năng sinh lợi
cho tài sản kinh doanh. Ví dụ như công ty bảo hiểm, khi thu được phí bảo
hiểm và chưa sử dụng đến sẽ có thể dự trữ vào các chứng khoán ngay, do đó
có khả năng sinh lợi rất cao.
Nhược điểm của mô hình này là :
+ Nếu hoạt động kinh doanh của CTCK bị rủi ro có thể dẫn đến rủi ro lớn
cho công ty mẹ. Điển hình như sự sụp đổ của chi nhành ngân hàng Barrings ở
Singapore. Đặc biệt là khi CTCK đi vào kinh doanh các chứng khoán phái
sinh như: Options, futures… có thể sẽ mang lại lợi ích lớn nhưng nó cũng
đem đến rủi ro rất cao.
+ Khuynh hướng kinh doanh của hội đồng quản trị sẽ ảnh hưởng lớn đến
chiến lược chung của cả tổ chức tài chính. Do đó, nếu hội đồng quản trị có
khuynh hướng xem cho vay là nghiệp vụ kinh doanh có tính chiến lược thì
hoạt động kinh doanh chứng khoán sẽ yếu đi. Ngược lại hội đồng quản trị có
khuynh hướng xem nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán là chiến lược thì kinh
doanh chứng khoán sẽ bành trướng mau lẹ và khả năng bị rủi ro sẽ rất cao.
+
Sự không tách bạch giữa các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán với
nghiệp vụ cho vay còn làm cho quá trình quản lý khá phức tạp, nhất là sự
quản lý của bộ phận quản lý cao nhất như hội đồng quản trị và Ban điều hành.
của các tổ chức trung gian trên TTCK còn thấp, rất khó khăn cho một tổ chức
mới ra đời hoạt động. Cho phép các ngân hàng đứng ra thành lập công ty con
tham gia kinh doanh chứng khoán sẽ tận dụng được thế mạnh về vốn, chuyên
môn và kinh nghiệm tổ chức hoạt động của công ty mẹ, do đó tính khả thi sẽ
cao hơn nhiều. Ví dụ như ở Việt Nam, ban đầu các CTCK hầu hết là công ty
con của các ngân hàng thương mại. Những công ty này nhờ vào sự hoạt động
lâu năm của công ty mẹ trên thị trường tài chính nên có thị trường, có sự am
hiểu sâu sắc các công ty phát hành và niêm yết chứng khoán trên TTCK. Mặt
16