TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHUYÊN NGÀNH LUẬT KINH DOANH QUỐC TẾ
-------***-------
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI :
DỊCH VỤ PHÂN PHỐI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
TRONG VIỆC THỰC HIỆN CAM KẾT CỦA VIỆT NAM
KHI GIA NHẬP WTO
Sinh viên thực hiện
Lớp
Khóa
Giáo viên hướng dẫn
: Bùi Thị Thanh Nhàn
: Anh 2 – Luật KDQT
: 44
: GS.TS. Nguyễn Thị Mơ
Hà Nội, tháng 5 – 2009
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ............................................................................................... 1
CHƢƠNG 1: DỊCH VỤ PHÂN PHỐI VÀ QUY ĐỊNH CỦA WTO VỀ
NGHĨA VỤ CỦA CÁC NƢỚC THÀNH VIÊN .......................................... 4
I. Tổng quan về dịch vụ phân phối........................................................... 4
1. Khái niệm ............................................................................................ 4
THỰC THI CAM KẾT .............................................................................. 29
I. Cam kết của Việt Nam trong WTO về dịch vụ phân phối ................ 29
1. Cam kết về mở cửa dịch vụ phân phối nói chung ............................ 29
2. Cam kết về mở cửa từng lĩnh vực dịch vụ phân phối cụ thể ............ 31
2.1. Cam kết về mở cửa dịch vụ đại lý hoa hồng, dịch vụ bán buôn, dịch
vụ bán lẻ. ............................................................................................ 31
2.2. Cam kết về mở cửa dịch vụ nhượng quyền thương mại ................ 33
II. Thực trạng dịch vụ phân phối ở Việt Nam ....................................... 34
1. Thực trạng đại lý hoa hồng, bán buôn, bán lẻ ................................. 34
1.1. Những kết quả đạt được .............................................................. 34
1.2. Những tồn tại............................................................................... 37
2. Thực trạng nhượng quyền thương mại ............................................ 39
III. Thực trạng về mở cửa dịch vụ phân phối ở nƣớc ta trong thời gian
qua và những tác động cụ thể. ................................................................ 42
1. Nhận xét chung về tình hình thực hiện cam kết mở cửa dịch vụ phân
phối. ...................................................................................................... 42
2. Thực trạng mở cửa dịch vụ phân phối kể từ khi gia nhập WTO ..... 46
2.1. Đã tích cực phổ biến về các cam kết của Việt Nam trong WTO. .. 46
2.2. Đã từng bước mở cửa 4 phân ngành dịch vụ phân phối............... 47
3. Đánh giá những tác động do việc mở cửa dịch vụ phân phối .......... 50
3.1. Những tác động tích cực ............................................................. 50
3.2. Những tác động tiêu cực .............................................................. 53
IV. Những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam trong quá trình thực hiện
các cam kết trong WTO về mở cửa thị trƣờng dịch vụ phân phối ....... 57
1. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong lĩnh vực dịch vụ phân
phối còn yếu. .......................................................................................... 57
1.1. Khả năng về vốn và huy động vốn còn gặp khó khăn. .................. 57
1.2. Nguồn nhân lực còn nhiều hạn chế .............................................. 59
1.3. Khả năng liên kết giữa các nhà phân phối trong nước còn yếu.... 60
iii
DANH M ỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DVPP
Dịch vụ phân phối
GATS
Hiệp định chung về thương mại và dịch vụ
GATT
Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại
WTO
Tổ chức thương mại Thế giới
S&D
Những quy định đối xử đặc biệt và khác biệt
CPC
Danh mục sản phẩm trung tâm tạm thời của Liên Hợp Quốc
BTA
Dịch vụ phân phối là một ngành kinh tế đóng vai trò quan trọng trong nền
kinh tế quốc dân. Lĩnh vực phân phối là cầu nối mang tính sống còn giữa những nhà
sản xuất và người tiêu dùng. Một khi vai trò này thực hiện thất bại thì nó có thể dẫn
tới những sai lệch lớn trong việc phân bổ nguồn lực kinh tế và thiệt hại kinh tế đáng
kể. Đối với Việt Nam, quy mô nền kinh tế còn nhỏ, dịch vụ phân phối hàng năm
đóng góp tới 15% GDP1 thì bất cứ một sự xuất hiện các yếu tố nào có thể ảnh
hưởng tới dịch vụ phân phối thì đều đáng quan tâm. Nhất là đối với những cam kết
về mở cửa thị trường dịch vụ phân phối trong tổ chức thương mại thế giới WTO thì
lại càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở tìm hiểu về dịch vụ phân phối và nghiên cứu các cam kết về mở
cửa thị trường dịch vụ phân phối trong WTO, đề tài sẽ phân tích những vấn đề mà
Việt Nam gặp phải khi thực thi các cam kết đó đồng thời sẽ đề xuất một số giải
pháp nhằm thực thi tốt các cam kết gia nhập WTO và phát triển dịch vụ phân phối
của Việt Nam.
1
Dịch vụ phân phối và bán lẻ chiếm 15% GDP hàng năm-Lao Động số 236 Ngày 13/10/2008 Cập
nhật: 7:43 AM, 13/10/2008.
1
Nhiệm vụ nghiên cứu
-
Làm rõ những vấn đề cơ bản về dịch vụ phân phối: khái niệm, đặc điểm,
nghiên cứu như: thống kê, tổng hợp, hệ thống hoá, phân tích, so sánh.
5. Bố cục của khoá luận
Ngoài lời nói đầu, danh mục các từ viết tắt, kết luận, danh mục tài liệu tham
khảo, nội dung của khoá luận gồm 3 chương:
Chƣơng 1: Tổng quan về dịch vụ phân phối
Chƣơng 2: Cam kết mở cửa thị trƣờng dịch vụ phân phối của Việt Nam
trong WTO và những vấn đề đặt ra trong quá trình thực thi cam kết.
Chƣơng 3: Giải pháp để Việt Nam thực hiện tốt các cam kết trong WTO
về mở cửa dịch vụ phân phối
2
Cuối cùng em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới GS.TS. Nguyễn Thị Mơ,
người đã nhiệt tình hướng dẫn em viết khoá luận, đồng thời em cũng xin cảm ơn
các thầy cô giáo trong khoa Quản trị kinh doanh đã tạo điều kiện cho em hoàn thành
tốt khoá luận này.
3
CHƢƠNG 1: DỊCH VỤ PHÂN PHỐI VÀ QUY ĐỊNH CỦA
WTO VỀ NGHĨA VỤ CỦA CÁC NƢỚC THÀNH VIÊN
I. Tổng quan về dịch vụ phân phối
Lĩnh vực phân phối chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế thị trường
hiện đại ngày nay. Nó là sự liên kết mang tính sống còn giữa nhà sản xuất với người
tiêu dùng và đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành giá cả. Hoạt động
của lĩnh vực này sẽ có những tác động mạnh mẽ tới lợi ích của người tiêu dùng.
Đồng thời nó cũng cung cấp cho nhà sản xuất nhiều thông tin cần thiết để họ có thể
điều chỉnh các quyết định của mình theo nhu cầu của người tiêu dùng nhằm giảm
xác định được chất lượng và cũng khó và thường là không dự trữ được sản phẩm
dịch vụ…Đặc điểm thứ hai đó là quá trình sản xuất hay cung ứng dịch vụ và tiêu
dùng dịch vụ xảy ra đồng thời. Bởi cung cấp dịch vụ chính là “quá trình sản xuất tạo
ra sản phẩm dịch vụ thông qua hoạt động tiếp xúc giữa bên cung cấp và bên sử dụng
dịch vụ đó”2. Chính vì việc sản xuất và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời và
không thể tách rời như vậy nên dịch vụ rất khó dự trữ được. Chỉ khi có khách hàng
yêu cầu dịch vụ thì người cung cấp dịch vụ mới tiến hành sản xuất. Trọng tâm của
quá trình cung ứng dịch vụ là hoạt động, trong khi trọng tâm của quá trình sản xuất
vật chất là sự biến đổi của vật chất.
Dựa vào các tiêu chí khác nhau hoặc theo những quan điểm khác nhau về
dịch vụ thì chúng ta cũng có những sự phân loại dịch vụ khác nhau:
- Dựa vào mục đích là kinh doanh, thu lợi nhuận thì dịch vụ có thể phân loại
thành dịch vụ mang tính thương mại và dịch vụ không mang tính thương mại. Dịch
vụ mang tính chất thương mại là những dịch vụ được thực hiện, được cung ứng
nhằm mục đích kinh doanh để thu lợi nhuận (như dịch vụ quảng cáo để bán hàng,
dịch vụ môi giới…) còn dịch vụ không mang tính chất thương mại (hay dịch vụ phi
thương mại) là những dịch vụ được cung ứng không nhằm mục đích kinh doanh,
không vì mục đích thu lợi nhuận (như dịch vụ công cộng thường do các đoàn thể,
1
Nguyễn Thị Mơ (2005), Lựa chọn bước đi và giải pháp để Việt Nam mở cửa về dịch vụ thương mại, NXB
Lý luận Chính trị.
2
Bài giảng môn quản trị sản xuất và dịch vụ - Bộ môn quản trị doanh nghiệp, Khoa quản trị kinh doanh -
trường ĐH Ngoại Thương
5
Nguyễn Thị Mơ (2005), Lựa chọn bước đi và giải pháp để Việt Nam mở cửa về dịch vụ thương mại, NXB Lý
luận Chính trị.
2
Uỷ ban quốc gia về Hợp tác kinh tế quốc tế, Giải thích về biểu cam kết cụ thể trong thương mại dịch vụ
của Việt Nam, http://www.nciec.gov.vn/index.nciec?1562.
6
1.2. Khái niệm về dịch vụ phân phối
Khi hàng hoá được sản xuất ra để đến được với những người tiêu dùng thì
phải trải qua một chuỗi các hoạt động mua và bán. Dịch vụ phân phối là thuật ngữ
mô tả toàn bộ quá trình lưu thông tiêu thụ hàng hoá đó trên thị trường. Chúng là
những dòng chuyển quyền sở hữu các hàng hoá qua các doanh nghiệp và tổ chức
khác nhau để tới người mua cuối cùng. Quan niệm về DVPP có thể được xem xét
dưới nhiều góc độ khác nhau.
Đối với người sản xuất thì DVPP là những cách thức và sự tổ chức hệ thống
bên ngoài doanh nghiệp để quản lý các hoạt động phân phối phối giúp họ thực hiện
được mục tiêu kinh doanh. Người sản xuất (hay người nhập khẩu) phải tìm ra các
trung gian thương mại nào thích hợp để đưa sản phẩm của họ đến các khách hàng
cuối cùng nếu như họ không muốn tự mình trực tiếp bán hàng hoá cho người tiêu
dùng nhỏ lẻ. Nhà sản xuất có thể thông qua các trung gian như những người bán
buôn rồi từ đó tới những người bán lẻ đưa sản phẩm tới tay người tiêu dùng tiêu
dùng cuối cùng. Vì vậy, có thể nói DVPP là các hình thức lưu thông sản phẩm qua
các trung gian khác nhau. Khi một doanh nghiệp soạn thảo một chính sách phân
phối sản phẩm sản xuất ra cũng có nghĩa là doanh nghiệp đó đang lựa chọn những
phân phối của nhà nước.
Theo Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), trong danh mục phân loại ngành
dịch vụ CPC (Provisional Central Product Classification) thì dịch vụ phân phối
được phân thành bốn nhóm dịch vụ chính. Đó là: dịch vụ đại lý hoa hồng
(Commission Agent’s Services), dịch vụ bán buôn (Wholesale Trade Services), dịch
vụ bán lẻ (Retailing Services) và nhượng quyền thương mại (Franchising).
2. Vai trò của dịch vụ phân phối trong nền kinh tế quốc dân
Là một trong những loại hình dịch vụ, làm cầu nối giữa nhà sản xuất và tiêu dùng,
bên cạnh đó còn là cách thức để quá trình lưu thông hàng hoá diễn ra hiệu quả, do vậy
DVPP ngày càng đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.
2.1. Dịch vụ phân phối một chiếm tý trọng đáng kể trong thu nhập quốc dân.
Có thể thấy, vai trò đầu tiên của dịch vụ phân phối là việc đóng góp một
phần quan trọng trong tổng thu nhập GDP của nền kinh tế. Dịch vụ phân phối chịu
trách nhiệm về lưu thông hàng hoá trong nền kinh tế, từ đó có tác dụng thúc đẩy sản
xuất và tiêu dùng phát triển, đồng thời là một yếu tố có tác động lớn tới định hướng
phát triển của sản xuất. Sự tăng trưởng của ngành DVPP góp phần tạo nên động lực
8
phát triển mạnh mẽ cho nền kinh tế. Trong tất cả các quốc gia có đầy đủ dữ liệu,
lĩnh vực phân phối (bán buôn và bán lẻ cộng lại) chiếm một phần đáng kể trong các
hoạt động kinh tế. Phần đóng góp của lĩnh vực phân phối trong tổng GDP nằm
trong khoảng từ 8% ở Đức, Ailen đến trên 20% ở Hồng Kông, Trung Quốc và
Panama1. Tại nhiều nền kinh tế, lĩnh vực này chỉ đứng thứ hai sau lĩnh vực chế tạo
về mức đóng góp GDP và vượt trên các lĩnh vực khác như nông nghiệp, khai
khoáng, vận tải, viễn thông và dịch vụ tài chính. Ở Việt Nam, lĩnh vực DVPP cũng
đang ngày càng có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển chung của nền kinh
tế trong những năm gần đây. Từ năm 2000 trở lại đây, DVPP đã chiếm tỷ trọng lớn
thứ 3 trong tổng mức GDP, khoảng 13-15%, chỉ đứng sau ngành công nghiệp chế
những người lao động có tay nghề thấp. Điều này tạo ra một ý nghĩa rất lớn về mặt
xã hội khi nó làm giảm sức ép của nghèo đói, góp phần ổn định xã hội.
2.3. Ngành dịch vụ phân phối góp phần tạo nên động lực phát triển mạnh mẽ cho
nền kinh tế.
Đúng như định nghĩa đã nêu, vai trò của dịch vụ phân phối là sự kết nối sống
còn của nhà sản xuất với người tiêu dùng đặc biệt đặt trong nền kinh tế thị trường
hiện đại, khi phân công lao động phát triển ở trình độ cao. Một nền kinh tế có hệ
thống phân phối hiệu quả sẽ làm tăng lợi ích cho cả người sản xuất và tiêu dùng.
Trong nền kinh tế vốn tồn tại nhiều mâu thuẫn cơ bản như là mâu thuẫn giữa sản
xuất khối lượng lớn, chuyên môn hoá của các doanh nghiệp để đạt được hiệu quả
kinh tế theo quy mô, chi phí sản xuất đơn vị sản phẩm thấp với nhu cầu tiêu dùng
theo khối lượng nhỏ và ngày càng đặc biệt và đa dạng theo sự phát triển của xã hội,
thu nhập của dân cư càng tăng lên. Hay là sự khác biệt về không gian giữa sản xuất
và tiêu dùng do sản xuất tập trung tại một điểm còn tiêu dùng rộng khắp hoặc ngược
lại. Hoặc cũng có thể là sự khác biệt về thời gian do sản xuất và thời gian tiêu dùng
không trùng khớp, có thể sản xuất có tính thời vụ còn tiêu dùng quanh năm hoặc
ngược lại, do đó người sản xuất phải dự trữ hàng hoá. Quá trình phân phối hàng hoá
sẽ giải quyết được những mâu thuẫn này. Trong quá trình lưu thông hàng hoá gắn
liền với nhu cầu thực tế của thị trường cả về sản phẩm, thời gian và không gian nên
có thể chuyển tải những thông tin cần thiết về nhu cầu thị trường cho những người
sản xuất và cung ứng hàng hoá để điều chỉnh theo những điều kiện của thị trường,
tạo ra sự ăn khớp về không gian, thời gian giữa sản xuất và tiêu dùng. Vì thế tạo lập
những cầu nối để dẫn dắt người sản xuất định hướng vào nhu cầu thị trường, thúc
đẩy phương thức kinh doanh theo nhu cầu của nền kinh tế thị trường, trên cơ sở đó
mà tăng cường thương mại hoá và phát triển thị trường cho các ngành kinh tế sản
10
phẩm có lợi thế, cũng như mở rộng thị trường tiêu thụ, nâng cao hiệu quả và sức
2
Đặng Lê Anh, Thị trường bán lẻ Việt Nam: Nguy cơ thua ngay trên sân nhà, Tạp chí Kinh tế đối ngoại số
23/2007.
11
3. Đặc điểm của dịch vụ phân phối
Là một loại dịch vụ nên DVPP cũng mang đầy đủ những đặc điểm của dịch
vụ nói chung. Bên cạnh đó với vai trò của mình, DVPP cũng có một số đặc điểm
khác của một lĩnh vực dịch vụ chuyên ngành. Đó là:
- DVPP mang tính chuyên môn hoá và phân công lao động cao.
Để đảm bảo cho hàng hoá đến được tay người tiêu dùng thì trong quá trình
lưu thông hàng hoá phải diễn ra các hoạt động như: chuyển quyền sở hữu, đàm
phán, vận động vật chất của hàng hoá, thanh toán, xúc tiến đặt hàng, chia sẻ rủi ro,
tài chính, thu hồi, tái sử dụng lại bao gói…Các hoạt động này diễn ra không ngừng,
liên tục như những dòng chảy riêng biệt. Các dòng chảy này kết nối các thành viên
của DVPP với nhau. Mỗi dòng chảy là một tập hợp các chức năng phân phối được
thực hiện bởi các thành viên tham gia vào hệ thống phân phối. Tất cả các chức năng
phân phối trong mỗi DVPP đều cần được thực hiện bởi một doanh nghiệp hoặc cá
nhân nào đó. Tuy nhiên mọi doanh nghiệp không nhất thiết là phải tham gia vào tất
cả các dòng chảy. Các tổ chức kinh doanh nhất định chuyên môn hóa vào một hoặc
một số công việc phân phối nhất định. Với sự đòi hỏi phát triển mạnh mẽ trong điều
kiện hội nhập kinh tế thế giới diễn ra rộng rãi thì từng dòng chảy này được đầu tư
tập trung thực hiện dẫn tới các hoạt động này ngày một chuyên môn hoá cao và sự
phân công lao động cũng vì thế mà tăng cao. Vì thế doanh nghiệp sản xuất và nhập
khẩu sử dụng những trung gian thương mại hoặc tổ chức bổ trợ khác để thực hiện
công việc phân phối là vì họ thực hiện các chức năng phân phối hiệu quả hơn.
- DVPP vận hành theo mô hình chuỗi gồm nhiều cấp, tạo thành kênh phân phối.
để đưa tới tay người tiêu dùng sản phẩm của mình.
- Cơ cấu ngành của dịch vụ phân phối
Cơ cấu ngành phân phối thay đổi tuỳ theo mức độ phát triển, sự khác biệt đặc
trưng về cấu trúc và các chính sách của mỗi quốc gia. Song chúng ta vẫn có thể khái
quát hoá một số vấn đề chung về lĩnh vực phân phối. Thứ nhất, tại hầu hết các nước,
phần lớn các doanh nghiệp bán lẻ chỉ có một cửa hàng và có quyền sở hữu duy nhất.
Thứ hai, một phần lớn lĩnh vực này, cả về số doanh nghiệp lẫn doanh số bán lẻ, liên
quan đến bán lẻ thực phẩm. Các mặt hàng quan trọng khác là vải sợi, quần áo và
giày dép, các thiết bị gia dụng và phụ tùng ô tô. Thứ ba, đặc trưng của lĩnh vực này
là các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm một số lượng lớn, lương thấp và sử dụng
nhiều lao động có trình độ thấp. Tuy nhiên, với sự thay đổi về thị hiếu của người
tiêu dùng và thay đổi công nghệ thể hiện ở các sản phẩm ngày càng phức tạp, tinh
13
vi hơn đã tạo nên sự chuyển biến trong lĩnh vực phân phối theo hướng nâng cao
chất lượng dịch vụ, và do vậy, cũng làm tăng nhu cầu đối với lao động có trình độ
cao trong ngành này.
Hiện nay đang có những thay đổi quan trọng diễn ra trong lĩnh vực phân
phối, đặc biệt là tại các nước phát triển. Sự thay đổi này tác động đến cơ cấu của
từng phân ngành trong lĩnh vực phân phối cũng như tầm quan trọng tương đối của
mỗi phân ngành này. Trước hết, lĩnh vực phân phối ngày càng trở nên tập trung
hơn. Điều này thể hiện cả ở việc xuất hiện một số doanh nghiệp lớn trong lĩnh vực
này và việc mối quan hệ giữa các nhà sản xuất, những người bán buôn và những
người bán lẻ ngày càng gần gũi hơn, đặc biệt thông qua việc tạo ra các mạng lưới
phân phối hàng hoá. Cụ thể như trong lĩnh vực bán lẻ, những cửa hàng nhỏ truyền
thống bán những sản phẩm thiết yếu đã được thay thế bằng hệ thống các cửa hàng
bách hoá lớn hơn. Thêm vào đó, quy mô trung bình của các cửa hàng cũng đã tăng
nhiều cả về mặt doanh thu và số nhân công bán hàng, và mật độ các cửa hàng bán lẻ
II. Dịch vụ phân phối trong WTO và nghĩa vụ của các nƣớc thành viên.
1. Dịch vụ phân phối trong WTO
Theo WTO, trong Danh mục Phân loại ngành dịch vụ, tài liệu mã số
MTN.GNS/W/120 (hay W/120) được xây dựng trong Vòng Uruguay và phần lớn
dựa trên Phân loại Danh mục sản phẩm trung tâm tạm thời của Liên Hợp Quốc
(CPC), thì DVPP được phân thành bốn nhóm dịch vụ chính: dịch vụ đại lý hoa
hồng, dịch vụ bán buôn, dịch vụ bán lẻ và nhượng quyền thương mại (franchising)
(Xem phụ lục 1).
1.1. Dịch vụ đại lý hoa hồng
Dịch vụ đại lý hoa hồng là hoạt động thương mại, theo đó bên giao đại lý và
bên đại lý thoả thuận việc bên đại lý nhân danh mình mua, bán hàng hoá cho bên
giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho khách hàng để hưởng thù
lao (hoa hồng)1.
- Bên giao đại lý, bên đại lý:
o Bên giao đại lý là thương nhân giao hàng hoá cho đại lý bán hoặc giao tiền
mua hàng cho đại lý mua hoặc là thương nhân uỷ quyền thực hiện dịch vụ cho đại
lý cung ứng dịch vụ.
1
Điều 166-Luật Thương Mại Việt Nam năm 2005
15