i
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sản phẩm Bao thanh toán Factoring cho phép người bán bán hàng trả
chậm cho người mua nhưng lại được thanh toán ngay sau khi giao hàng bởi
các tổ chức Bao thanh toán (Ngân hàng thương mại hoặc các công ty tài
chính). Đối với ngân hàng thương mại, Bao thanh toán giúp họ tăng doanh
thu, đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ và thu hút được khách hàng, nâng cao vị
thế cạnh tranh trong tiến trình hội nhập, đặc biệt là sau khi các ngân hàng
nước ngoài được phép thành lập các ngân hàng con 100% vốn nước ngoài
tại Việt Nam.
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc Tế Việt Nam (VIB) có trụ sở
chính tại Hà Nội, là một trong năm ngân hàng thương mại cổ phần hàng đầu
Việt Nam. Tuy hoạt động bao thanh toán đã được hình thành và ngày càng
mở rộng nhưng cho tới thời điểm này, hoạt động bao thanh toán ở NHTM
CP Quốc Tế VIB cũng như ở nhiều NHTM Việt Nam có tỷ trọng doanh số
thấp hơn so với hầu hết các nước trên thế giới. Vậy làm thế nào để mở rộng
hoạt động bao thanh toán ở VIB là gợi ý cho tôi lựa chọn đề tài luận văn tốt
nghiệp thạc sỹ là: “Mở rộng hoạt động bao thanh toán tại Ngân hàng thương
mại cổ phần Quốc Tế Việt Nam”.
2. Mục đích nghiên cứu:
Tổng hợp lý thuyết về hoạt động Bao thanh toán ; Đánh giá thực trạng
về hoạt động Bao thanh toán tại VIB ; Đưa ra một số giải pháp nhằm mở
rộng hoạt động Bao thanh toán của VIB.
3. Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu hoạt động Bao thanh toán Factoring của hệ thống NHTM
Việt Nam từ năm 2006 và của VIB từ năm 2007.
đến những năm 60 của thế kỷ 19, ở Châu Âu hình thức này mới được phát
triển rầm rộ và đến năm 1963, khi cơ quan kiểm soát tiền tệ công bố
Factoring là một hoạt động ngân hàng hợp pháp thì ngân hàng mới bắt đầu
đi vào lĩnh vực này. Bắt đầu từ năm 1974 thì nghiệp vụ này mới được công
nhận bởi hầu hết các nước trên thế giới.
1.1.2. Khái niệm Bao thanh toán
Theo Hiệp hội Bao thanh toán quốc tế (Factors Chain InternationalFCI), Bao thanh toán là một dịch vụ tài chính trọn gói, kết hợp việc tài trợ
vốn lưu động, phòng ngừa rủi ro tín dụng, theo dõi công nợ và thu hồi nợ.
Đó là sự thỏa thuận giữa đơn vị bao thanh toán và người bán hàng, trong đó
đơn vị bao thanh toán sẽ mua lại khoản phải thu của người bán, thường là
không truy đòi, đồng thời có trách nhiệm đảm bảo khả năng chi trả của
người mua. Nếu người mua phá sản hay mất khả năng chi trả vì những lý do
tín dụng thì đơn vị bao thanh toán sẽ thay người mua trả tiền cho người bán.
Khi người mua và người bán ở hai nước khác nhau thì dịch vụ này sẽ được
gọi là bao thanh toán quốc tế.
1.1.3. Phân loại bao thanh toán
Có nhiều cách phân loại bao thanh toán : Theo phạm vi hoạt động địa
iv
lý cú Factoring ni a v Factoring quc t ; Theo phm vi trỏch nhim i
vi ri ro cú Factoring cú truy ũi v Factoring min truy ũi ; Theo phm
vi ỏp dng nghip v Factoring i vi s lng cỏc húa n ca mt ngi
bỏn hng cú Factoring ton b v Factoring mt phn ; Theo phm vi giao
dch ca T chc Bao thanh toỏn vi ngi mua cú Factoring cụng khai v
Factoring kớn.
1.1.4. Quy trỡnh Bao thanh toỏn
1.1.5. Li ớch v hn ch ca Bao thanh toỏn
1.1.5.1. Li ớch ca Bao thanh toỏn
a) i vi ngi bỏn: Ngi bỏn sn sng bỏn chu cho ngi mua m
- Sự phổ biến trong cung cấp dịch vụ bao thanh toán của tất cả các
ngân hàng thương mại chứ không phải là chỉ do một số ngân hàng cung
cấp.
- Quy mô của dịch vụ này ngày càng tăng trong tổng dịch vụ mà các
ngân hàng thương mại cung cấp cho nền kinh tế.
1.2.2. Các chỉ tiêu phản ảnh mở rộng hoạt động bao thanh toán
Thứ nhất, tỷ trọng doanh số của hoạt động BTT trong tổng doanh thu.
Thứ hai, tỷ trọng nguồn vốn sử dụng cho hoạt động bao thanh toán.
Thứ ba là số lượng các khách hàng tham gia vào hoạt động bao thanh toán.
Thứ tư là thu nhập từ hoạt động bao thanh toán.
Thứ năm là sự rủi ro không trả được nợ của đơn vị được bao thanh toán.
1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới việc mở rộng hoạt động bao thanh
toán
Nhân tố khách quan: Sự phát triển của nền kinh tế; Chính sách vĩ mô
của Chính phủ; Niềm tin của dân chúng đối với việc cung cấp dịch vụ thanh
vi
toán của hệ thống các ngân hàng thương mại.
Nhân tố chủ quan: Con người là nhân tố chủ quan quan trọng nhất
trong việc cung cấp dịch vụ này; Cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ. Đây
cũng là nhân tố ảnh hưởng lớn tới việc mở rộng hoạt động bao thanh toán
của các ngân hàng thương mại hiện nay.
1.3. KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ HOẠT ĐỘNG BAO THANH TOÁN
Từ lâu, Bao thanh toán đã là một khái niệm quen thuộc trong giới tài
chính thế giới. Trên thế giới hiện có hơn 1.809 đơn vị bao thanh toán đang
hoạt động. Trong số đó có 247 tổ chức bao thanh toán từ 66 quốc gia là
thành viên của FCI. Theo số liệu thống kê của FCI, doanh thu bao thanh toán
thế giới năm 2008 là 1.325.111 triệu Euro, tăng 0.78% so với năm 2007.
mức hoàn thành kế hoạch trên 200% ở tất cả các chỉ tiêu.
2.1.2.1. Huy động vốn
Tính đến 31/12/2008, tổng nguồn vốn huy động từ nền kinh tế đạt
23.958 tỷ đồng, tăng 24,61% so với thời điểm cuối năm 2007, tăng 135,48%
so với cùng kỳ năm 2006.
viii
2.1.2.2. Sử dụng vốn
Tính đến 31/12/2008, tổng dư nợ tín dụng đạt 19.578 tỷ đồng, tăng
17,86% so với năm 2007, vượt 116,14% so với năm 2006.
Tổng dư nợ chiếm 82,54% tổng nguồn vốn huy động từ tổ chức
kinh tế và dân cư. Tỷ lệ nợ xấu được kiểm soát ở mức 1,84% so với mức
3,5% của toàn hệ thống ngân hàng. Các chính sách tín dụng luôn được
điều chỉnh kịp thời, phù hợp với diễn biến của thị trường và sự thay đổi
chính sách của Nhà nước.
2.1.2.3. Phát triển dịch vụ
Các sản phẩm mới dành cho khách hàng doanh nghiệp đang được phát
triển là Dịch vụ ngân hàng trực tuyến VIB4U; Tiền gửi thanh toán Overnight
100; Quản lý dòng tiền của các công ty chứng khoán ; Sản phẩm tài trợ xuất
khẩu bằng VNĐ với lãi suất siêu ưu đãi ; Chiết khấu hối phiếu ; Bao thanh
toán ; Cung cấp dịch vụ hải quan điện tử phục vụ việc nộp phí và lệ phí xuất
nhập khẩu qua POS cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu.; Phát triển sản phẩm
gói và các sản phẩm hàm lượng công nghệ cao như e-banking, e-savings.
2.2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BAO THANH TOÁN TẠI VIB
2.2.1. Cơ sở pháp lý của hoạt động Bao thanh toán tại VIB
Ngày 6/9/2004, Việt Nam đã có quyết định số 1096/2004/ QĐ-NHNN
do Thống đốc Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam ban hành “Quy chế hoạt
động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng”, có hiệu lực từ ngày
năm 2007 đạt 231 lần thì sang năm 2008, con số này tăng lên 325, vượt
140,69 % so với năm 2007.
Thứ hai, về doanh số bao thanh toán : Doanh số bao thanh toán của
VIB tăng nhanh qua 2 năm. Năm 2007, doanh số đã giải ngân đạt 82,843 tỷ.
Năm 2008, doanh số tăng 193,87%, đạt mức 160,609 tỷ đồng, đưa VIB lên
vị trí thứ 2 trong số các NHTM Việt Nam về doanh số bao thanh toán.
x
Thứ ba, về lãi và phí : Lãi và phí thu được từ dịch vụ bao thanh toán
cũng góp phần đáng kể làm tăng số dư về thu dịch vụ của Ngân hàng này.
Tổng lãi và phí thu được năm 2007 là 787 triệu đồng. Năm 2008 đạt 2,795 tỷ
đồng, vượt 355,14% so với năm 2007. Đây thực sự là con số ấn tượng trong
bối cảnh dịch vụ bao thanh toán còn khá mới mẻ tại Việt Nam.
2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân
2.3.2.1. Hạn chế
Bên cạnh những thành công đạt được, hoạt động bao thanh toán của
VIB cũng còn một số hạn chế. Đó là quy mô hoạt động bao thanh toán còn
rất nhỏ bé. Tỷ trọng doanh số bao thanh toán của VIB so với doanh số bao
thanh toán của Việt Nam còn thấp: 8,37% năm 2007,7,88% năm 2008. Tỷ
trọng thu từ dịch vụ bao thanh toán trên tổng thu dịch vụ năm 2007 là
0,857%, năm 2008 là 1,85% thực sự là rất thấp, chưa tương xứng với tiềm
năng của Ngân hàng.
2.3.2.2. Nguyên nhân
* Nguyên nhân chủ quan
Tại VIB, nghiệp vụ bao thanh toán chỉ được thực hiện ở Hội Sở của
Ngân hàng. Phần lớn các chi nhánh và Phòng giao dịch chưa quen thuộc và
cũng chưa quan tâm nhiều đến việc triển khai cũng như đẩy mạnh tiếp thị
dịch vụ này đến khách hàng. Bản thân Ngân hàng cũng chưa xây dựng chiến
lược riêng, phòng ban riêng cho phát triển dịch vụ bao thanh toán đầy tiềm
TẠI VIB
3.2.1. Thành lập phòng / bộ phận bao thanh toán
Tại hội sở của Ngân hàng, nhất thiết nên thành lập phòng bao thanh
toán độc lập với các nghiệp vụ khác. Tại các chi nhánh lớn có nhiều khách
hàng tiềm năng, Ngân hàng sẽ thành lập bộ phận phụ trách dịch vụ bao
thanh toán. Bộ phận này không chịu chung sự kiểm soát với bộ phận cho vay
và có những tiêu chuẩn thẩm định riêng.
3.2.2. Tăng cường hoạt động Marketing về Factoring
Kinh nghiệm của các nước thành công trong thực hiện bao thanh toán
-Factoring trên thế giới đã cho thấy marketing đóng vai trò hết sức quan
trọng. Hoạt động quảng cáo, giới thiệu về sản phẩm này phần lớn chỉ được
thực hiện qua website với nội dung còn khá khiêm tốn. Chính vì vậy, trong
thời gian tới hoạt động này cần được đẩy mạnh hơn nữa để có thể hấp dẫn và
xiii
thu hút khách hàng. Hoạt động marketing ở đây bao gồm nhiều bộ phận: phổ
biến, quảng bá dịch vụ tới đông đảo khách hàng, xây dựng danh mục các
loại hình dịch vụ có thể sẽ cung cấp... Do vậy Ngân hàng cần có những hoạt
động quy mô, có tổ chức nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận
và hiểu sâu sát hơn.
3.2.3. Xây dựng một mô hình tổ chức phù hợp
* Về mô hình tổ chức:
Nên tách bạch hoạt động cho vay với bao thanh toán
* Về cơ cấu tổ chức:
Hoạt động bao thanh toán là khá phức tạp. Vì vậy, để thực hiện tốt
cần có sự phối hợp và hỗ trợ lẫn nhau giữa các bộ phận.
3.2.4. Hoàn thiện qui trình bao thanh toán
Trong việc xây dựng qui trình cần chú ý đến vấn đề bảo hiểm khoản
chính sách sử dụng linh hoạt công cụ tỷ giá nhằm khuyến khích xuất khẩu.
3.3.2. Kiến nghị với Bộ công thương : Ổn định và hoàn thiện chính sách
thương mại nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu; Thành lập cơ quan chuyên
trách về quản lý thông tin tài chính doanh nghiệp.
xv
KẾT LUẬN
Lợi ích mà hoạt động bao thanh toán mang lại là rất lớn đối với các
NHTM, các doanh nghiệp, và cho cả nền kinh tế. Các NHTM có thêm dịch
vụ mới từ đó có thêm doanh thu và tăng hiệu quả sử dụng vốn; các doanh
nghiệp cung ứng hàng hóa có thể bán được hàng và thu hồi vốn nhanh; các
doanh nghiệp mua hàng có thể mua chịu được hàng hóa mà không cần phải
có ngay tiền mặt trong bối cảnh khó khăn về vốn. Chính thông qua hoạt
động này mà hàng hóa và tiền vốn trong nền kinh tế được lưu chuyển nhanh
trong nền kinh tế hơn. Việc triển khai thực hiện và phát triển bao thanh toán
tại Việt Nam là điều cần thiết, góp phần đưa nước ta bắt kịp với tốc độ phát
triển chung của nền kinh tế và tài chính quốc tế.
Luận văn với đề tài “Mở rộng hoạt động bao thanh toán tại Ngân hàng
thương mại cổ phần Quốc Tế Việt Nam” đã đạt được mục đích nghiên cứu
đặt ra. Luận văn đã tổng hợp được một cách tổng quan lý thuyết về hoạt
động bao thanh toán; đánh giá được thực tế hoạt động cung ứng dịch vụ bao
thanh toán tại VIB từ năm 2007 cũng như chỉ ra những hạn chế còn tồn tại
trong việc cung cấp dịch vụ này tại VIB. Luận văn dựa trên những phân tích
về lý thuyết và thực tiễn đã đưa ra một số giải pháp nhằm mở rộng hoạt động
này tại VIB. Trong đó, giải pháp về xây dựng sản phẩm phù hợp với thị
trường, thành lập phòng ban bao thanh toán và tăng cường hoạt động
Marketing về Factoring là những giải pháp chủ yếu để mở rộng hoạt động
bao thanh toán tại VIB trong thời gian tới. Bên cạnh đó, luận văn cũng đã đề