i
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính tất yếu
Việc Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO với hàng loạt các
cam kết giảm thuế, cắt giảm hàng rào phi thuế quan, mở cửa thị trường dịch vụ sẽ
khiến môi trường kinh doanh ngày càng có tính cạnh tranh cao hơn. Hàng hóa và
doanh nghiệp Việt Nam đặt trước sức ép phải vươn lên để tồn tại và thích nghi với
những tiêu chuẩn mới và phải không ngừng nâng cao khả năng cạnh tranh trong
nền kinh tế ngày càng toàn cầu hóa.
Theo Nghị định 29/2004/NĐ-CP ngày 16/1/2004 của Chính phủ, Bộ Thương
mại (nay là Bộ Công Thương) là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản
lý nhà nước về thương mại, cung ứng các dịch vụ công và thực hiện vai trò của đại
diện chủ sở hữu phần vốn Nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước 1 thuộc phạm vi
quản lý theo quy định pháp luật. Với hàng trăm doanh nghiệp thương mại nhà nước
trực thuộc, hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực xuất nhập khẩu nhằm thúc đẩy và đảm
bảo cân bằng cán cân xuất nhập khẩu và ổn định thị trường trong nước.
Trước đây, các doanh nghiệp nhà nước này được hưởng nhiều những ưu đãi
và bảo hộ của Nhà nước, trước hết là được cấp vốn ban đầu từ ngân sách nhà nước,
được cấp đất xây dựng cơ sở sản xuất kinh doanh, hỗ trợ hoạt động tìm kiếm thị
trường, trợ cấp xuất khẩu. Hiện nay, việc Nhà nước giảm thiểu các hàng rào bảo hộ
phù hợp với cam kết gia nhập WTO, các ưu đãi và hỗ trợ của Nhà nước hầu như
không còn nữa, các doanh nghiệp phải tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh,
tự chủ trong lĩnh vực tài chính và phải trực tiếp đối mặt với áp lực cạnh tranh ngày
càng gay gắt cả trên thị trường trong và ngoài nước. Trước sức ép đó, không còn
cách nào khác các doanh nghiệp này buộc phải tự điều chỉnh, thích nghi và phải
nâng cao năng lực cạnh tranh khi tham gia vào các hoạt động kinh doanh trong môi
trường cạnh tranh toàn cầu ngày càng đa dạng và phức tạp.
Xuất phát từ yêu cầu cấp bách nêu trên, đề tài: Nâng cao năng lực cạnh
tranh của các doanh nghiệp thương mại nhà nước trong điều kiện Việt Nam hội
nhập WTO (Trường hợp Công ty VILEXIM) được lựa chọn để nghiên cứu.
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp thương mại
nhà nước về bộ máy quản lý, thương hiệu, nguồn nhân lực và hiệu quả kinh doanh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu: Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp thương mại
nhà nước thuộc Bộ Công Thương Việt Nam (Trường hợp Công ty VILEXIM).
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử để giải
quyết vấn đề và kết hợp với các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích,
tổng hợp, so sánh, thống kê…
Nguồn dữ liệu được thu thập từ Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư,
Bộ Tài chính, Viện Kinh tế và Chính trị thế giới, Tổng cục Thống kê và từ mạng
Internet.
6. Những đóng góp của luận văn
- Hệ thống hoá những vấn đề lý thuyết về năng lực cạnh tranh của các
doanh nghiệp.
- Đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp thương
mại nhà nước thuộc Bộ Công Thương Việt Nam (Trường hợp Công ty
VILEXIM).
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh
nghiệp thương mại nhà nước thuộc Bộ Công Thương nói chung và cho
Công ty VILEXIM nói riêng trong điều kiện Việt Nam hội nhập WTO.
7. Kết cấu
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn
được trình bày trong ba chương:
- Chương 1: Những vấn đề chung về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
- Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp thương
mại nhà nước thuộc Bộ Công Thương (Trường hợp Công ty VILEXIM)
- Chương 3: Định hướng và giải pháp tăng năng lực cạnh tranh của các
hoặc thay thế lẫn nhau.
- Năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp cũng được định nghĩa là khả
năng bù đắp chi phí, duy trì lợi nhuận và được đo bằng thị phần của sản phẩm hoặc
dịch vụ của doanh nghiệp đó trên thị trường.
- Năng lực cạnh tranh của sản phẩm là “sức mạnh” hoặc “tính vượt trội” của
hàng hóa đó trên thị trường, nó có thể thay thế hàng hóa cùng loại do doanh nghiệp
khác cung cấp để chiếm lấy vị trí thống lĩnh thị trường tại cùng một thời điểm.
Đồng thời nó thỏa mãn yêu cầu của khách hàng về giá cả, chất lượng, số lượng,
tính tiện dụng, độc đáo hay kiểu dáng, bao bì, thương hiệu, các dịch vụ chăm sóc
khách hàng trước và sau bán hàng... nhờ đó thị phần mà nó chiếm lĩnh cao hơn so
với thị phần của hàng hóa cùng loại trên cùng một thị trường.
iv
- Lợi thế cạnh tranh trong môi trường kinh doanh quốc tế
Lợi thế cạnh tranh được xem như là những ưu thế vượt trội riêng có nhằm
giúp cho quốc gia và các công ty vượt qua các đối thủ cạnh tranh và đạt được mục
tiêu nhất định của mình. Để có được lợi thế này, một số quốc gia có thể dựa vào
nguồn tai nguyên thiên phú nhờ khai thác điều kiện tự nhiên, khí hậu, địa hình, vị
trí địa lý… và phát triển những ngành công nghiệp tương thích với chúng, tạo ra
các sản phẩm mang đậm nét đặc trưng riêng có mà những nơi khác, những công ty
khác khó có thể theo kịp. Những điều kiện này tạo ra lợi thế tuyệt đối cho quốc gia
và công ty. Một nguyên tắc cơ bản là để tồn tại và không ngừng tăng trưởng trong
môi trường cạnh tranh, mỗi doanh nghiệp cần phải nhận diện và khai thác những cơ
hội, né tránh sức ép của các đối thủ cạnh tranh lớn, tận dụng lợi thế cạnh tranh
riêng có, tạo dựng hình ảnh của công ty và sản phẩm trong tâm trí người tiêu dùng,
có giải pháp hợp lý kích thích tích cực đến hành vi mua sắm của khách hàng, đặc
biệt trong phân đoạn thị trường trọng điểm, với các nhóm khách hàng mục tiêu.
- Lý thuyết cạnh tranh của M. Porter
chính của doanh nghiệp.
Giá cả
Giá cả được sử dụng như một công cụ cạnh tranh thông qua chính sách định
giá bán mà doanh nghiệp áp dụng đối với từng loại thị trường và có sự kết hợp của
một số điều kiện khác. Định giá là việc ấn định một cách có hệ thống giá cả cho
đúng với hàng hoá hay dịch vụ bán cho khách hàng. Việc ấn định giá căn cứ vào:
lượng cầu đối với sản phẩm và chi phí sản xuất, giá thành đơn vị sản phẩm
Tổ chức hệ thống phân phối có hiệu quả
Công tác tổ chức hoạt động tiêu thụ sản phẩm là tập hợp nhiều biện pháp
khác nhau nhằm tăng khả năng tiêu thụ, mở rộng thị trường, tăng khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp. Công tác tổ chức hệ thống phân phối bao gồm một số nội
dung cơ bản sau: lựa chọn các kênh phân phối hợp lý; đẩy mạnh các hoạt động tiếp
thị, quảng cáo, yểm trợ bán hàng …
Các công cụ khác như dịch vụ sau bán hàng, phương thức thanh toán, vận
dụng yếu tố thời gian
Ngoài các yếu tố trên, quy mô doanh nghiệp hay uy tín của doanh nghiệp
cũng là một công cụ cạnh tranh có ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh.
1.1.4. Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh
Thị phần: Là chỉ tiêu mà các doanh nghiệp thường dùng để đánh giá mức độ
chiếm lĩnh thị trường của mình so với đối thủ cạnh tranh.
Tỷ suất lợi nhuận: Nếu chỉ tiêu này thấp chứng tỏ cạnh tranh trên thị trường
rất gay gắt, ngược lại nếu chỉ tiêu này cao có nghĩa là doanh nghiệp kinh
doanh rất thuận lợi.
Doanh số bán ra: Doanh số bán lớn đảm bảo có doanh thu để trang trải các
chi phí bỏ ra, mặt khác thu được một phần lợi nhuận và có tích luỹ để tái mở
rộng sản xuất. Như vậy số bán ra càng lớn thì khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp càng cao.
Tỷ lệ chi phí marketing/ tổng doanh thu: Tỷ lệ chi phí marketing/ tổng doanh
thu cho phép doanh nghiệp đánh giá được liệu một đồng chi phí marketing
được WTO chấp nhận cho hưởng một thời gian chuyển đổi để thực hiện một số
cam kết có liên quan đến thuế tiêu thụ đặc biệt, trợ cấp phi nông nghiệp và quyền
kinh doanh.
Đối với doanh nghiệp thương mại nhà nước, cam kết trong lĩnh vực này là
nhà nước sẽ không can thiệp trực tiếp hay gián tiếp vào hoạt động DNNN. Tuy
nhiên, nhà nước với tư cách là một cổ đông được can thiệp bình đẳng vào hoạt
động của DN như các cổ đông khác. Việt Nam cũng đồng ý cách hiểu mua sắm của
DNNN không phải là mua sắm Chính phủ.
Cam kết về thuế nhập khẩu
Mức cam kết chung của Việt Nam là đồng ý ràng buộc mức trần cho toàn bộ
biểu thuế (10.600 dòng). Mức thuế bình quân toàn biểu được giảm từ mức hiện
hành 17,4% xuống còn 13,4% thực hiện dần trung bình 5 - 7 năm. Mức thuế bình
quân đối với hàng nông sản giảm từ mức hiện hành 23,5% xuống còn 20,9% thực
hiện trong khoảng 5 năm. Với hàng công nghiệp từ 16,8% xuống còn 12,6% thực
hiện chủ yếu trong vòng 5 - 7 năm.
Cam kết về mở của thị trƣờng dịch vụ
Về diện cam kết, trong Hiệp định thương mại song phương (BTA) với Hoa
Kỳ Việt Nam đã cam kết 8 ngành dịch vụ (khoảng 65 phân ngành). Trong thỏa
thuận WTO, Việt Nam cam kết đủ 11 ngành dịch vụ, tính theo phân ngành khoảng
110 ngành.
1.3. Kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp thƣơng
mại Trung Quốc
1.3.1. Kinh nghiệm của Trung Quốc
* Đối với cấp Chính phủ
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến thông tin về hội nhập quốc tế của
Việt Nam nói chung và các cam kết WTO nói riêng. Trung Quốc đã phải xem xét,
sửa đổi hơn 3 nghìn điều luật và các qui định, hơn 800 qui định hạn chế đã bị bãi
bỏ. Hệ thống luật pháp của Trung Quốc đã có nhiều cố gắng để tôn trọng quyền sở
hữu trí tuệ, cải thiện môi trường đầu tư và xã hội. Đồng thời, Trung Quốc đã áp
dụng phương pháp mà thu hút vốn thông qua FDI bằng hàng rào kỹ thuật. Mở cửa
hoá công nghệ, không ngừng nâng cao năng suất. giảm thiểu chi phí, nghiên cứu,
sáng chế công nghệ mới, học hỏi trình độ khoa học kỹ thuật tiên tiến trên thế giới.
Chú trọng việc đào tạo đội ngũ chuyên gia am tường luật của WTO, phát
triển nguồn nhân lực và hoàn thiện tổ chức, bộ máy quản lý. Coi trọng công tác
marketing, lập kế hoạch và chiến lược kinh doanh, chiến lược cạnh tranh phù hợp
với điều kiện mới. Liên kết để hỗ trợ nhau trong từng khâu của quá trình kinh
doanh, trong tiêu thụ sản phẩm hàng hóa. Cơ cấu lại hệ thống doanh nghiệp, giải
thiể các doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả.
Ơ
CHƢƠNG 2:
THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA CÁC DOANH NGHIỆP THƢƠNG MẠI NHÀ NƢỚC THUỘC BỘ
CÔNG THƢƠNG (TRƢỜNG HỢP CÔNG TY VILEXIM)
2.1. Tình hình hoạt động của các doanh nghiệp thƣơng mại nhà nƣớc thuộc Bộ
Công Thƣơng
2.1.1. Lĩnh vực hoạt động
- Công ty phải tiến hành kinh doanh theo đúng luật pháp, chịu trách nhiệm về
kinh tế và dân sự đối với các hoạt động kinh doanh và tài sản của mình.
- Phát huy ưu thế, uy tín của hàng Việt Nam trên thị trường quốc tế, củng cố
và mở rộng các quan hệ kinh tế, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng sản xuất trong và ngoài
nước.
viii
- Công ty có nhiệm vụ bảo toàn và phát triển tổng số vốn Nhà nước giao cho,
thực hiện chế độ hạch toán độc lập, tự chủ về tài chính.
- Công ty có nhiệm vụ hoàn thành các chỉ tiêu do nhà nước giao cho, có trách
nhiệm nộp ngân sách cho nhà nước.
tục hành chính (7,2%), giá dịch vụ (6,3%). Nhiều doanh nghiệp thường xem nhẹ
vai trò của thương hiệu sản phẩm hoặc thương hiệu doanh nghiệp nên không đăng
ký thương hiệu tại nước nhập khẩu.
2.1.2.3. Nguồn nhân lực
Lao động là một lợi thế cạnh tranh của Việt Nam bởi chi phí lao động rẻ,
trình độ dân trí của lao động Việt Nam cao, có truyền thống lao động cần cù, ham
học hỏi, khéo tay, nhanh trí,.. Nhưng cần phải nhìn nhận chi phí lao động tuy rẻ
nhưng năng suất lao động chỉ ở mức trung bình và thấp (trên 60%), chủ yếu lại là
lao động thủ công, tác phong lao động công nghiệp còn kém. Do đó nếu so sánh lao
ix
động Việt Nam với lao động các nước trong khu vực thì có thể nói đây là điểm yếu
của Việt Nam.
2.1.2.4. Tài chính
Nhiều doanh nghiệp đang hoạt động trong tình trạng không đủ vốn cần thiết,
đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả kinh doanh cũng như năng lực cạnh tranh
của các doanh nghiệp trên thị trường trong nước và quốc tế. Đây là điều đáng lo khi
các chính sách - bảo hộ của Nhà nước đến năm 2006 hầu như không còn nữa, khi
đó các doanh nghiệp thương mại Việt Nam dễ bị các tập đoàn lớn của các nước
trong khu vực đánh bại.
Những khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn vốn của các doanh nghiệp là
rất lớn, trong khi vốn tồn đọng còn nhiều trong các nguồn và việc huy động vốn
trong dân vào đầu tư sản xuất, kinh doanh chưa được cải thiện. Các doanh nghiệp
Nhà nước được ưu đãi hơn về vốn trước hết là được cấp vốn ban đầu từ ngân sách,
cấp đất xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh... Còn các doanh nghiệp ngoài Nhà
nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chủ yếu dựa vào vốn tự có của cá
nhân. Với khả năng tiếp cận nguồn vốn hạn chế, các doanh nghiệp có tình trạng
phổ biến là chiếm đụng vốn lẫn nhau, làm lây nhiễm rủi ro giữa các doanh nghiệp.
tuổi và uy tín của công ty, cùng với bề dày kinh nghiệm trong lĩnh vực xuất nhập
khẩu công ty đã đang và sẽ là một đối tác uy tín và được các đơn vị nhập khẩu
trong nước tín nhiệm. Tuy nhiên, việc phát triển thương hiệu không được công ty
thực sự đặt ra trong chiến lược kinh doanh một cách bài bản, , chưa xây dựng được
cho mình chương trình quảng bá, phát triển hình ảnh công ty khoa học, hợp lý.
Công ty vẫn chỉ làm theo kiểu đến đâu phát triển đến đó, chưa thực sự làm cho
khách hàng nhận thấy thương hiệu VILEXIM gắn với sản phẩm hàng hoá và dịch
vụ của mình.
2.2.1.3. Nguồn nhân lực
Do vẫn còn ảnh hưởng của cơ chế nhà nước, nên còn một số cán bộ làm việc
từ thời bao cấp chưa thích ứng với cơ chế làm ăn mới, chưa có sự chủ động cao
trong công việc, trình độ của đội ngũ nhân viên còn chưa đồng đều, Công ty đang
phải trải qua giai đoạn trẻ hoá đội ngũ lao động nên sự kết hợp để trở thành những
ê kíp làm việc tốt còn rất khó khăn.
2.2.1.4.Tài chính
Công ty VILEXIM luôn phát huy vai trò lòng cốt cho ngành dịch vụ và
thương mại bằng nguồn vốn khá lớn của mình. Tổng nguồn vốn của Công ty là 450
tỷ đồng do nhiều nguồn hình thành như: vốn cấp, vốn vay, vốn tự có, vốn huy động
từ các cổ đông...
Công ty thực hiện giao vốn kinh doanh cho các bộ phận và thực hiện quản lý
vốn theo các phương án kinh doanh đã được duyệt đảm bảo sử dụng vốn an toàn.
Ngoài ra Công ty còn tích cực chào bán hàng chậm bán kém, mất phẩm chất và có
kế hoạch bù lỗ bán hàng tồn kho.
Việc gia nhập WTO, với hàng loạt các “đại gia” có tiềm lực mạnh về tài
chính, sự cạnh tranh về giá sẽ làm ảnh hưởng đến tình hình kinh doanh và năng lực
cạnh tranh của công ty nếu như không có sự chuẩn bị kỹ về phát triển, mở rộng
nguồn vốn.
2.2.2. Các công cụ cạnh tranh
2.2.2.1. Giá cả
Công ty sử dụng chính sách giá linh hoạt, giá cả có thể thay đổi trong điều
Công ty có thể cung ứng cho khách hàng bằng nhiều hình thức, có thể thoả
mãn nhu cầu của khách hàng từ việc cung ứng lượng sản phẩm ít nhất đến việc
cung trở thành nhà cung ứng chủ yếu, và điều đó tạo ra sức cạnh tranh của Công ty,
sản phẩm của công ty được đa số khách hàng biết đến.
2.2.2.4. Dịch vụ sau bán hàng
Ngoài việc luôn luôn cung cấp hàng hoá cho các đơn vị bạn sản xuất kịp thời
công ty còn cố gắng cung cấp những thông tin về giá cả của các nguyên vật liệu sản
xuất, việc ổn định giá cả cung cấp đóng vai trò mấu chốt trong việc kinh doanh
những mặt hàng đặc thù này. Công ty luôn đưa ra những biện pháp tư vấn cho đơn
vị bạn để tìm mọi cách giảm thiểu những chi phí như: chi phí vận chuyển, chi phí
về kho bãi… và xây dựng lòng tin với khách hàng.
2.2.2.5. Phương thức thanh toán
Công ty có nhiều phương thức thanh toán tiết kiệm thời gian và đảm bảo an
toàn cho khách hàng, thông qua hệ thống liên ngân hàng đă được ký kết và thoả
thuận. Khách hàng có thể thanh toán tiền thông qua số tài khoản của Công ty hoặc
có thể thanh toán trực tiếp.
Khách hàng có thể trả chậm tiền sau một thời gian nếu đáp ứng đủ những yêu
cầu của Công ty đưa ra, với những khách hàng là khách quen và thường xuyên, đã
có uy tín với Công ty thì việc thanh toán có thể linh động trong điều kiện hoàn cảnh
kinh doanh của Công ty, đây là quyền quyết định duy nhất của giám đốc Công ty
nếu khách hàng có yêu cầu.
2.2.2.6. Công tác xúc tiến thương mại
Nhận thức được tầm quan trọng đặc biệt của thị trường, Công ty đã tiến hành
nhiều hoạt động xúc tiến thương mại mở rộng thị trường và bạn hàng, tham gia các
triển lãm, hội chợ, đa dạng hoá sản phẩm kinh doanh. Phải nói rằng đây là một bộ
phận quan trọng trong hoạt động giao tiếp của Công ty, Công ty sử dụng công cụ
này để thúc đẩy việc tiêu thụ sản phẩm của Công ty, là một cách quảng cáo và thu
xii
Doanh thu tăng lên qua các năm cũng chứng tỏ khả năng cạnh tranh của công ty.
2.2.3.1. Hạn chế
- Giá thành xuất khẩu nhiều khi còn khá cao, việc định giá chưa thực sự phù
hợp. Các chi phí đầu vào cho quá trình kinh doanh là nguyên nhân dẫn đến giá
thành sản phẩm cao hơn so với đối thủ cạnh tranh và điều này làm giảm khả năng
cạnh tranh của công ty. Mặc dù mức giá xuất khẩu của công ty không phải là lớn
hơn nhiều so với các công ty cạnh tranh khác ở trong nước nhưng vấn đề là ở chỗ
thị trường của công ty là thị trường nước ngoài, khách hàng là khách hàng nước
ngoài và công ty VILEXIM phải đối mặt với sự cạnh tranh quốc tế. so với giá cả
trên thị trường thế giới khả năng cạnh tranh của công ty đã bị ảnh hưởng rất nhiều
nhất là so với các đối thủ đến từ Trung Quốc, Thái Lan, Hàn Quốc, Inđônêxia.
- Về mặt nghiên cứu thị trường: Công ty đã tiến hành công tác xác định nghiên
cứu thị trường, nghiên cứu chính sách kinh tế nhưng chưa sâu sát và đồng bộ, chưa
được đầu tư thích đáng, khả năng nghiên cứu và giới thiệu hàng ở thị trường xa còn
xiii
hạn chế. Một mặt chi phí cho việc nghiên cứu thị trường là tương đối lớn, mỗi thị
trường lại có đặc điểm tiêu dùng khác nhau nên chỉ riêng việc lựa chọn phương
pháp nghiên cứu thôi cũng đã rất vất vả chưa nói gì đến các vấn đề khác. VILEXIM
chưa đánh giá đúng vai trò của công tác nghiên cứu thị trường và việc xây dựng
chiến lược thị trường.
- Việc huy động vốn và sử dụng vốn còn chưa tốt. Nguồn vốn kinh doanh chủ
yếu của công ty là do Nhà nước nước cấp và vốn tăng lên trong quá trình sản xuất
kinh doanh, một phần là vay của ngân hàng. Còn một nguồn nữa mà công ty huy
động là nguồn vốn từ chính đội ngũ cán bộ của công ty mà công ty có thể thực hiện
được thông qua cổ phần hoá.
- Chưa thực sự chú trọng vào việc nghiên cứu đối thủ cạnh tranh.
- Đôi khi còn thiếu sự mạnh dạn trong kinh doanh. Kinh doanh bao giờ cũng
xiv
các địa phương phải xây dựng các quy hoạch, kế hoạch đầu tư phát triển sản xuất
nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng phát triển chuyên canh. Sản xuất
nông sản hàng hoá gắn với công nghiệp chế biến nhằm đáp ứng nhu cầu trong nước
và hướng mạnh tới xuất khẩu.
3.1.2. Sử dụng chính sách thương mại can thiệp tạo cơ hội kinh doanh cho
các doanh nghiệp thương mại tư nhân
3.1.3. Chú trọng phát triển công nghiệp nói chung và phát triển công
nghiệp chế biến nông sản nói riêng gắn với từng vùng nguyên liệu, tạo điều kiện
thuận lợi cho thương mại trong nước và hướng tới xuất khẩu.
Thị trường hoạt động thương mại phụ thuộc vào sản xuất công nghiệp rất
nhiều. Nông sản phẩm cần được chế biến để có thể xuất ra nước ngoài. Và cạnh
tranh với thị trường trong nước, tạo điều kiện liên kết giữa các nhà kinh doanh thương mại và các nhà sản xuất hình thành những kênh lưu thông đặc thù cho từng sản
phẩm. Xuất khẩu sản phẩm thô bao giờ cũng bất lợi vì bị nhiều đối thủ cạnh tranh.
Thật vậy nền công nghiệp chế biến đống vai trò quan trọng để năng cao chất lượng
hàng hoá, nâng cao khả năng cạnh tranh trên thương trường quốc tế cho sản phảm
xuất khẩu. Do vậy về lâu dài để có thể cạnh tranh được trong nước cần phải phát
triể công nghiệp chế biến
3.1.4. Tiến hành xây dựng hệ thống thông tin vững mạnh để tiến tới xây
dựng một nền thương mại hiện đại bắt kịp với các vùng trong khu vực.
Kinh doanh thương mại dịch vụ ngày càng phát triển, cùng với sự phát triển
của công nghệ thông tin. Ngày nay thương mại điện tử hơn lúc nào hết đang chứng
tỏ được sức mạnh và sự tiêu lợi trong buôn bán trên thương trường quốc tế. Ngày
nay chúng ta không lo lạc hậu mà sợ tụt hậu. Đặc biệt là về thông tin. Do vậy trong
những năm tới cần tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa việc hoàn thiện hệ thống internet ở
các khu đô thị và trung tâm thương mại.
Những định hướng trên đây chỉ mang tính chất xu hướng tạo điều kiện thuận
lợi hơn cho hoạt động thương mại trong nước phát triển. Còn phát triển nó bằng
cách gì là câu trả lời của những nhà nghiên cứu khoa học về kinh tế.
thành đơn vị sản phẩm và có thể giảm giá bán, áp dụng các công nghệ sản xuất hiện
đại, tiên tiến, sử dụng các yếu tố đầu vào có chất lượng và áp dụng các biện pháp
quản lý để nâng cao chất lượng sản phẩm và hoàn thiện mạng lới tiêu thụ sản phẩm.
Ngoài ra, doanh nghiệp còn phải áp dụng một số biện pháp khác thông qua các
công cụ cạnh tranh khác. Vì vậy, có thể nói tăng năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp là làm thay đổi mối tương quan về thế và lực của doanh nghiệp trên thị trường về mọi mặt của quá trình sản xuất kinh doanh.
3.2.3. Định hướng chiến lược phát triển nhằm nâng cao năng lực cạnh trạnh
Với sự ban hành và có hiệu lực của Luật thương mại, Luật doanh nghiệp, Luật
đầu tư và hệ thống các văn bản chính sách dưới luật về đổi mới công tác xuất nhập
khẩu trong bối cảnh Việt Nam đã là thành viên chính thức của WTO và có vai trò
ngày càng cao của ASEAN, cùng với yêu cầu, nhiệm vụ và mục tiêu phát triển
công tác xuất nhập khẩu, công ty đã đề ra định hướng chiến lược phát triển nhăm
nâng cao năng lực cạnh tranh cụ thể như sau:
Về thị trường
- Tiếp tục duy trì và tăng cường quan hệ buôn bán với các thị trường truyền
thống của công ty. Tìm hiểu và tiến tới ký kết hợp đồng với chủ hàng mới. Ngoài
việc kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp, công ty còn đẩy mạnh các hình thức xuất
nhập khẩu khác như: uỷ thác, tạm nhập, tái xuất, gia công… nhằm mở rộng thị
trường hàng hoá xuất nhập khẩu tạo ưu thế cạnh tranh, tăng nhanh tốc độ lưu
chuyển hàng hoá và nâng cao thu nhập.
- Đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng có thế mạnh và các mặt hàng khác theo sự
khuyến khích của nhà nước. Gắn sản xuất với xuất nhập khẩu, chủ động tham gia quản
lý chất lượng, giá cả hàng hoá xuất khẩu sang các nước với sức cạnh tranh mới.
- Tận dụng các chỉ tiêu tham gia trả nợ của nhà nước, tiếp tục tìm cách mở
rộng thị trường, củng cố thị trường đã có, phát triển một số khu vực thị trường mới
như: Bắc Mỹ, Trung Cận Đông…
Về quản lý
- Công ty sàng lọc và tinh giảm bộ máy, tăng cường phát huy tính chủ động,
sáng tạo của cá nhân và tập thể trong công ty. Nâng cao trình độ, chuyên môn cho
và tăng cường quan hệ thêm với nhiều đối tác mới, công ty lựa chọn các khách
hàng có tiềm lực có thể phát triển được tên tuổi. Khi đã xác định được mối quan hệ
chiến lược thì việc ưu tiên và huy động các nguồn lực đáp ứng tốt nhất nhu cầu của
khách hàng là điều kiện tiên quyết. thông qua sự hợp tác và tin tưởng của các khách
hàng lớn, tên tuổi là biện pháp xây dựng hình ảnh tốt đẹp và nâng cao vị thế của
doanh nghiệp một cách tiết kiệm và có hiệu quả kinh tế cao.
3.3.1.3. Xây dựng văn hóa doanh nghiệp tạo bản sắc riêng nâng cao vị thế và hình
ảnh công ty
Công ty cần xây dựng mối quan hệ ứng xử tốt đẹp giữa các thành viên trong
cộng đồng là yếu tố nền tảng để hướng tới sự thống nhất sức mạnh trong kinh
doanh, chẳng hạn như: tổ chức các phong trào chung, thăm hỏi giúp đỡ lẫn nhau
khi khó khăn… và quan trọng là cùng quan tâm đến lợi ích chung. Đồng thời xây
dựng mối giao lưu cởi mở, rộng rãi, tin cậy đối với các đối tác bên ngoài doanh
nghiệp. Ngay từ khẩu tuyển dụng, công ty cần đặt ra yêu cầu cao đối với nhân sự,
buộc các thành viên mới tham giá phát huy tính chủ động, sáng tạo. Tạo không khi
thi đua, phấn đấu toàn đơn vị, tổ chức các hoạt động tham quan, vui chơi giải trí,
xvii
thể thao… tạo ra không khí vui vẻ thoải mái. Tất cả các hoạt động đó dần dần sẽ
tạo ra một bản sắc riêng cho công ty.
3.3.2. Giải pháp về tổ chức và nguồn nhân lực
3.3.2.1. Tăng cường công tác quản lý
Hạch toán chính xác, quyết toán kịp thời để đảm bảo quyền lợi chính đáng của
người lao động và đánh giá đúng hiệu quả kinh doanh. Tổ chức kiểm tra theo dõi
sát sao việc thực hiện hợp đồng. Thường xuyên nghiên cứu để nắm bắt được những
thay đổi của môi trường kinh doanh, tránh lúng túng bị động dẫn đến tình trạng trở
tay không kịp.
3.3.2.2. Hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy
triển chiến lược cạnh tranh bao gồm các bước cơ bản sau: Xác lập sứ mạng cho
công ty và những mục tiêu phát triển dài hạn; phân tích các nhân tố bên trong và
xviii
bên ngoài ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của công ty; hoạch định các phương
án chiến lược có thể; phân tích lựa chọn chiến lược tối ưu; chuẩn bị các điều kiện
triển khai- thực thi và đánh giá chiến lược
3.3.5. Một số giải pháp khác cho công ty Vilexim
Để tăng khả năng cạnh tranh, vượt qua các rào cản phi thuế như tiêu chuẩn chất
lượng, kỹ thuật… và phù hợp với các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam, công ty
Vilexim cần quan tâm sản xuất, kinh doanh các mặt hàng phụ như các phụ kiện, chi
tiết cho các mặt hàng và xâm nhập các thị trường „ngách‟ mà ít được quan tâm như thị
trường Tây Phi, Bắc Phi… để giảm đối thủ cạnh tranh trong gian đoạn này, khi mà bản
thân công ty chưa đủ vững mạnh về tiềm lực tài chính lẫn công nghệ ...
3.4. Các kiến nghị đối với Nhà nƣớc và các Bộ
Việc Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO với hàng loạt các
cam kết giảm thuế, cắt giảm hàng rào phi thuế quan, mở cửa thị trường dịch vụ,
Nhà nước cần chú trọng hỗ trợ có hiệu quả cho các doanh nghiệp. Trước tiên Nhà
nước phải công khai, minh bạch các cam kết gia nhập WTO và các lộ trình cắt
giảm thuế để các doanh nghiệp nắm chắc trong hoạt động kinh doanh của mình.
Nhà nước cần hoàn thiện các chính sách như chính sách xuất nhập khẩu, chính sách
đầu tư, chính sách tín dụng, chính sách tỷ giá… để tạo hành lang pháp lý bình đẳng
cho các doanh nghiệp hoạt động đồng thời giảm bớt các thủ tục hành chính rườm
rà. Cụ thể là:
3.4.1. Chính sách về xuất nhập khẩu
Những quy định về xuất nhập khẩu là một trong những yếu tố ảnh hưởng lớn
đến kết qủa hoạt động xuất nhập khẩu của công ty VILEXIM nói riêng và của
doanh nghiệp xuất nhập khẩu nói chung của nước ta, hệ thống các chính sách quy
tế của đồng Việt Nam với ngoại tệ, phù hợp với cung cầu trên thị trường, đảm bảo
sự ổn định kinh tế đối nội và tăng trưởng kinh tế đối ngoại là hết sức cần thiết.
3.4.4. Chính sách tín dụng
Phát triển hoàn thiện hệ thống tài chính Nhà nước đặc biệt là hệ thống Ngân
hàng thương mại, thúc đẩy thị trường vốn phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn
cho các doanh nghiệp.
Chính phủ cần hướng vào một số khó khăn bức xúc ở hầu hết các doanh
nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp Nhà nước như vấn đề thiếu vốn. Cần đưa ra mức
lãi suất tiền vay thấp, thời hạn vay dài, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp giảm chi
phí, hạ giá thành sản xuất để nâng cao khả năng cạnh tranh của mình, bảo đảm thủ
tục vay vốn phải đơn giản nhanh chóng và thuận lợi cho các doanh nghiệp.
3.4.5 Đẩy mạnh hoạt động liên doanh, liên kết để tăng năng lực cạnh tranh
Phần lớn doanh nghiệp Việt Nam có quy mô nhỏ và vừa, thì việc liên kết, liên
doanh để bổ sung năng lực, khắc phục yếu kém để tăng năng lực cạnh tranh lại càng
cấp bách trong điều kiện Việt Nam gia nhập WTO. Việc liên kết không chỉ giúp doanh
nghiệp giảm giá thành, tăng chất lượng hàng hóa, còn có thể giúp cho doanh nghiệp
nhận những đơn hàng lớn mà mỗi doanh nghiệp không thể đáp ứng, từ đó mở rộng thị
trường tiêu thụ, tạo điều kiện phát triển doanh nghiệp trong tương lai.
* Một khía cạnh nữa cũng rất quan trọng là đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương
mại và cung cấp thông tin về thị trường thế giới cho các doanh nghiệp xuất nhập
khẩu. Điều này được thể hiện qua môi trường kinh doanh quốc tế thuận lợi với
những mối quan hệ buôn bán trao đổi vơi các nước trên thị trường thế giới.
KẾT LUẬN
Với sự phát triển mạnh mẽ của thị trường và của nền kinh tế Việt Nam như
hiện nay thì các doanh nghiệp không thể không đánh giá lại chính mình trước sự
phát triển đó. Và “năng lực cạnh tranh” phải thực sự được nhắc tới, điều này hoàn
toàn phù hợp với giai đoạn hiện nay. Việc gia nhập tổ chức thương mại thế giới
WTO mở ra nhiều cơ hội mới để cả nền kinh tế nước ta cũng như mỗi doanh
nghiệp thu hút thêm sức mạnh để tăng năng lực cạnh tranh, phát triển nhanh và bền
vững. Mỗi doanh nghiệp cần nhận rõ các cơ hội, tận dụng mọi khả năng từ nhiều
mới; liên kết để hỗ trợ nhau trong từng khâu của quá trình kinh doanh, trong tiêu
thụ sản phẩm hàng hóa; cơ cấu lại hệ thống doanh nghiệp, giải thể các doanh
nghiệp làm ăn kém hiệu quả.
- Đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp thương mại
nhà nước thuộc Bộ Công Thương Việt Nam nói chung và của công ty Vilexim nói
riêng về các khía cạnh: năng lực quản lý, thương hiệu, nguồn nhân lực, tài chính…
Những khó khăn, hạn chế tồn tại ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp từ những nguyên nhân khách quan như sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trên
thị trường thế giới ; sự cạnh tranh ngày càng tăng của các doanh nghiệp trong nước;
thể chế luật pháp chưa thực sự hoàn thiện và đồng bộ hay nguyên nhân chủ quan về
phía các doanh nghiệp thương mại nhà nước đó là: sự thiếu năng động trong kinh
doanh và chưa thấy được vai trò quan trọng của chiến lược cạnh tranh trong mục
tiêu chiến lược kinh doanh của công ty nên công tác xây dựng và tổ chức thực hiện
còn yếu kém…
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh
nghiệp thương mại nhà nước thuộc Bộ Công Thương nói chung và cho công ty
Vilexim nói riêng trong điều kiện hội nhập WTO từ cấp độ Chính phủ như hoàn
thiện hệ thống luật pháp, chính sách thống nhất, đồng bộ, đẩy mạnh công tác xúc
tiến thương mại, thông tin thị trường thế giới … và các giải pháp đối với doanh
nghiệp như nâng cao hình ảnh và vị thế thương mại của công ty, phát triển nguồn
nhân lực, huy động và sử dụng vốn kinh doanh có hiệu quả, xây dựng chiến lược
cạnh tranh…