1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hệ thống kế toán là một bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống công cụ
quản lý kinh tế - tài chính, có vai trò tích cực phục vụ cho việc quản lý, điều hành và
kiểm soát các hoạt động kinh tế. Với xu hướng hội nhập kinh tế thế giới và khu vực,
đòi hỏi hệ thống kế toán doanh nghiệp cần thiết phải được hoàn thiện một cách đồng
bộ và phù hợp trong việc cung cấp thông tin nhằm đáp ứng những yêu cầu quản lý
mới. Hệ thống kế toán doanh nghiệp có nhiều nội dung, trong đó hệ thống TKKT là
nội dung quan trọng, có liên quan và có ảnh hưởng quyết định đến tất cả các nội dung
còn lại của hệ thống kế toán doanh nghiệp đó.
Thông qua hệ thống tài khoản kế toán (TKKT) doanh nghiệp, kế toán tiến hành
phân loại, phản ánh, ghi chép và xử lý các nghiệp vụ kinh tế phát sinh rõ ràng, kịp
thời và đầy đủ. Từ đó giúp cho việc cung cấp, kiểm tra và phân tích đầy đủ các thông
tin về các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo yêu cầu quản trị doanh nghiệp, nhằm giúp
ban lãnh đạo doanh nghiệp đưa ra các quyết định kinh tế và điều hành quản lý kịp
thời. Đồng thời, thông qua hệ thống TKKT doanh nghiệp, kế toán tiến hành thu thập
các thông tin cần thiết làm cơ sở cho việc lập và trình bày báo cáo tài chính (BCTC),
sẽ là căn cứ đáng tin cậy để các nhà quản lý đánh giá đúng tình trạng tình hình tài
chính, dự báo được nhu cầu tài chính trong tương lai của doanh nghiệp. Vì vậy, hệ
thống TKKT đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định chất lượng, thông tin kế
toán cũng như chất lượng công tác kế toán. Do vậy, trong quá trình hoàn thiện hệ
thống kế toán doanh nghiệp thì yêu cầu tiếp tục hoàn thiện hệ thống TKKT doanh
nghiệp được đặt lên hàng đầu.
Thực tế cho thấy, bên cạnh hệ thống TKKT quy định trong CĐKT doanh
nghiệp ban hành theo Quyết định số 15/2006/QĐ - BTC ngày 20/3/2006 (sau đây gọi
tắt là Quyết định số 15) của Bộ trưởng Bộ Tài chính, còn có hệ thống TKKT áp dụng
cho doanh nghiệp nhỏ và vừa ban hành theo Quyết định số 48/2006/QĐ - BTC ngày
14/9/2006. Ngoài ra, trên cơ sở Quyết định 15, các ngành và doanh nghiệp kinh
doanh đặc thù còn được phép xây dựng và ban hành hệ thống tài khoản kế toán riêng
toán hiện hành trong các doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh.
4. Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đề ra, luận án tập trung giải đáp câu hỏi tổng
quát: Hệ thống tài khoản kế toán hiện hành áp dụng trong các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh ở Việt Nam có ảnh hưởng như thế nào đến kết quả và hiệu quả hoạt động
kế toán nói chung và chất lượng thông tin kế toán nói riêng của doanh nghiệp?
Từ đó, luận án phải giải đáp được các câu hỏi cụ thể sau:
- Những đặc trưng của tài khoản và hệ thống tài khoản kế toán áp dụng trong
các doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh?
- Những nhân tố nào ảnh hưởng đến hệ thống tài khoản kế toán áp dụng trong
các doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh?
- Những giải pháp và đề xuất nào thích hợp để hoàn thiện và xây dựng hệ
thống tài khoản kế toán áp dụng trong các doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh?
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Công trình nghiên cứu sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng
4
với phương pháp định tính. Phương pháp nghiên cứu định lượng được được luận án
vận dụng từ cách thức tiếp cận diễn giải, còn phương pháp nghiên cứu định tính được
vận dụng từ cách thức tiếp cận qui nạp.
6. Những đóng góp mới của đề tài
Luận án có các đóng góp chủ yếu sau:
- Hệ thống hóa và làm rõ hơn những vấn đề lý luận cơ bản về tài khoản và hệ
thống tài khoản kế toán áp dụng trong các doanh nghiệp.
- Phân tích và đánh giá một cách khách quan những tồn tại của hệ thống tài
khoản kế toán hiện hành áp dụng trong các doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh ở
Việt Nam.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố chủ quan và khách quan tác động tới
hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh.
doanh nghiệp. Các nghiên cứu được thực hiện trong quá trình nghiên cứu, đào tạo và
trong thực tế tổ chức công tác kế toán của doanh nghiệp.
- Về phạm vi và đối tượng nghiên cứu: Các nghiên cứu hệ thống TKKT bao
gồm cả những nghiên cứu về mặt lý luận cũng như những công trình đã khảo sát ở
các doanh nghiệp SXKD.
- Về tính chất và ý nghĩa của các công trình nghiên cứu: Do đối tượng nghiên
cứu đa dạng nên nên tính chất và ý nghĩa của các công trình nghiên cứu này cũng rất
khác nhau như các nghiên cứu mang tính khoa học được đăng trên các tạp chí chuyên
ngành hay các công trình nghiên cứu của các Bộ, ngành.
- Về các quan điểm và giải pháp đề cập:
Các công trình đã công bố có thể phân ra 2 nhóm: Nhóm các giải pháp và quan
điểm cụ thể và nhóm các quan điểm và giải pháp tổng thể.
Bên cạnh các nghiên cứu mang tính cụ thể, ở Việt Nam cũng đã có một vài
công trình nghiên cứu về tài khoản và hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp sản
xuất - kinh doanh mang tính tổng thể, hướng tới việc xây dựng và hoàn thiện hệ
thống tài khoản kế toán doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh ở Việt Nam. Trước tiên,
có thể kể đến đề tài nghiên cứu cấp bộ (Bộ Tài chính) “Đổi mới hệ thống TKKT thống
nhất”56 do PGS.TS Võ Đình Hảo chủ nhiệm nghiệm thu năm 1989. Do công trình
này được nghiên cứu từ những năm cuối thập niên 80 của thế kỷ trước nên chỉ đề cập
đến hệ thống TKKT thống nhất trong giai đoạn nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung,
bao cấp.
PGS.TS Nguyễn Văn Công và các cộng sự trong đề tài cấp bộ (Bộ Giáo dục &
Đào tạo) “Hoàn thiện hệ thống TKKT thống nhất áp dụng trong các doanh nghiệp
SXKD ở Việt Nam”40 lại đề cập đến hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp sản
xuất - kinh doanh trong giai đoạn kinh tế thị trường với mục đích hoàn thiện hệ thống
TKKT doanh nghiệp theo Quyết định số 1141 - TC/QĐ/CĐKT 01/11/1995 của Bộ
trưởng Bộ Tài chính về ban hành chế độ kế toán doanh nghiệp. Nhiều giải pháp hoàn
thiện của tác giả đã được tiếp thu, chỉnh sửa trong Quyết định số 15/2006 (thay thế
cho Quyết định số 1141/1995) như tên của loại TK, nhóm TK, bổ sung các TK và nội
sở hữu, do vậy hạch toán tăng hay giảm tài sản là khi nhận hay chuyển tài sản hoặc
phát sinh quyền và trách nhiệm đối với tài sản đó; (iii) Nguồn vốn được ghi nhận theo
số vốn đã nhận chứ không ghi nhận theo số vốn đăng ký; (iv) Khấu hao TSCĐ được
tính một cách có hệ thống trên giá phí (nguyên giá TSCĐ) căn cứ vào cách thức thu
hồi lợi ích kinh tế của từng TSCĐ và bỏ qua sự khấu hao tĩnh; (v) Các BCTC chính
được lập định kỳ; (vi) Doanh thu và chi phí không ghi nhận theo nguyên tắc tiền mà
được ghi nhận theo nguyên tắc dồn tích theo từng thời kỳ, phù hợp với khả năng sinh
lời thực tế từ việc sử dụng tài sản; (vii) Về phương pháp kế toán là phương pháp ghi
kép theo phương pháp kê khai thường xuyên hoặc kiểm kê định kỳ.
Với đặc điểm cơ bản của kế toán Việt Nam, khi nghiên cứu hệ thống TKKT
doanh nghiệp để đưa ra các giải pháp hoàn thiện phải đảm bảo tuân thủ Luật Kế toán,
CĐKT và hệ thống CMKT Việt Nam. Đồng thời, để đáp ứng được yêu cầu hội nhập
kinh tế quốc tế thì hệ thống TKKT doanh nghiệp Việt Nam cũng phải phù hợp với
thông lệ chung của các nước.
2.1.2. Khuôn khổ pháp luật và các quy định về kế toán doanh nghiệp
Kế toán không phải là lĩnh vực khoa học thuần túy mà thuộc khoa học xã hội
về quản lý kinh tế. Là công cụ của hệ quản luật, kế toán chịu sự chi phối của rất nhiều
các yếu tố như: hoàn cảnh kinh tế, văn hóa xã hội, chính trị và luật pháp của mỗi
9
quốc gia qua các thời kỳ. Ngoài việc phải chịu sự chi phối của hệ thống pháp luật nói
chung, kế toán còn đòi hỏi phải có những quy định cho riêng mình. Để tổ chức và
quản luật kế toán ở các doanh nghiệp, các quốc gia đều có những văn bản pháp quy
và hình thành nên khuôn khổ pháp luật và các quy định về kế toán mà các doanh
nghiệp phải tuân thủ. Khuôn khổ pháp luật và các quy định về kế toán là hệ thống
đồng bộ các văn bản về kế toán, chi phối đến công tác tổ chức và thực hiện các công
việc kế toán của doanh nghiệp trong đó có các quy định do Nhà nước ban hành mang
tính pháp luật và có các quy định không phải do Nhà nước ban hành (có thể do tổ
tượng hạch toán kế toán cụ thể.
2.2.2. Hệ thống tài khoản kế toán trong doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh
Hệ thống TKKT doanh nghiệp là danh mục các TKKT mà doanh nghiệp sử
dụng trong hạch toán kế toán để phản ánh được toàn bộ tài sản, nguồn hình thành tài
sản và sự vận động của chúng trong quá trình hoạt động SXKD của doanh nghiệp để
làm cơ sở lập và trình bày BCTC đáp ứng yêu cầu của mọi đối tượng sử dụng thông
tin do kế toán cung cấp47.
Hệ thống TKKT là nội dung quan trọng trong quá trình triển khai công tác kế
toán của doanh nghiệp SXKD. Do vậy, TKKT và hệ thống TKKT doanh nghiệp có ý
nghĩa lớn trong công tác quản lý kinh tế tài chính nói chung cũng như trong công tác
kế toán của từng doanh nghiệp nói riêng. Cụ thể là:
- TKKT và hệ thống TKKT giúp cho người làm kế toán tại doanh nghiệp có
thể phân loại và hệ thống hoá được thông tin về tài sản, nguồn hình thành tài sản và
các hoạt động kinh tế tài chính ở doanh nghiệp phục vụ cho công tác quản lý của Nhà
nước, của các ngành và của từng doanh nghiệp. Thông qua các TKKT và phương
pháp ghi chép, phản ánh các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh vào các TKKT mà
các nhà quản lý có thể nắm bắt được các thông tin kinh tế tài chính, là cơ sở để đưa ra
các quyết định kinh tế và điều hành quản lý có hiệu quả.
- TKKT và hệ thống TKKT giúp cho việc hệ thống hoá các thông tin cụ thể,
chi tiết về tình hình tài sản và sự vận động của tài sản tại doanh nghiệp phục vụ cho
yêu cầu quản trị kinh doanh, yêu cầu phân cấp quản lý kinh tế trong doanh nghiệp,
cũng như yêu cầu quản lý tài sản trong doanh nghiệp.
- TKKT và hệ thống TKKT giúp cho việc hệ thống hoá các số liệu theo các
chỉ tiêu kinh tế, tài chính để lập được các báo cáo định kỳ theo yêu cầu của kế toán tài
chính và kế toán quản trị.
2.2.3. Nguyên tắc, yêu cầu và nội dung phản ánh của hệ thống tài khoản kế toán
trong doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh
Việc nghiên cứu hoàn thiện hệ thống TKKT áp dụng trong các doanh nghiệp
SXKD ở Việt Nam là hết sức cần thiết. Trên cơ sở nghiên cứu tác động của hệ thống
TKKT tới nhu cầu của đối tượng sử dụng thông tin, nhu cầu của các đối tượng quản
(3) Nguyên tắc phù hợp và linh hoạt
Hệ thống TKKT doanh nghiệp phải phù hợp với từng loại hình doanh nghiệp,
tập đoàn kinh tế, phù hợp với từng ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh đặc thù; phù
hợp với trình độ phát triển kinh tế của từng quốc gia và phù hợp với từng giai đoạn
phát triển kinh tế và quản lý trong từng quốc gia.
(4) Nguyên tắc hội nhập và phát triển
Kế toán là một trong những công cụ quan trọng của Nhà nước để quản lý nền
kinh tế. Các thông tin kinh tế, tài chính của các doanh nghiệp SXKD cung cấp không
chỉ sử dụng trong nước mà còn được sử dụng cho các đối tượng bên ngoài lãnh thổ
12
trong xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế, cùng với các hoạt động kinh doanh ngày
càng phát triển đa dạng, đan xen mang tính khu vực và toàn cầu. Vì vậy, hệ thống
TKKT doanh nghiệp phải phục vụ tốt cho công cuộc đổi mới kinh tế của từng quốc
gia.
Nguyên tắc này đòi hỏi việc nghiên cứu hoàn thiện hệ thống TKKT doanh
nghiệp SXKD phải dựa trên sự nghiên cứu, học tập, tiếp thu, vận dụng có chọn lọc
thông lệ quốc tế và kinh nghiệm của các nước cho phù hợp với điều kiện của Việt
Nam.
2.2.3.2. Yêu cầu xây dựng hệ thống tài khoản kế toán trong doanh nghiệp sản xuất
- kinh doanh
Để tuân thủ các nguyên tắc nghiên cứu xây dựng và hoàn thiện hệ thống TKKT
doanh nghiệp SXKD như đã nêu trên, đặt ra các yêu cầu phải thực hiện trong quá
trình nghiên cứu hoàn thiện hệ thống TKKT doanh nghiệp SXKD như sau:
(1) Bảo đảm tính thống nhất
Theo yêu cầu này cần có sự nghiên cứu để Nhà nước xây dựng và ban hành một
hệ thống TKKT để áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp trong phạm vi từng quốc gia.
Việc ban hành một hệ thống TKKT doanh nghiệp thống nhất sẽ tạo thuận lợi hơn cho
và mối quan hệ với BCTC và báo cáo quản trị.
(iii) Các quy định với loại TK và nhóm TK cần có quy định của Nhà nước để làm cơ
sở pháp lý thực hiện thống nhất cho các doanh nghiệp. Việc mở TKKT các cấp và nội
dung của từng TKKT nên để doanh nghiệp chủ động, linh hoạt xây dựng cho phù hợp
với đặc điểm kinh doanh và yêu cầu quản lý.
Với mục tiêu nghiên cứu để góp phần xây dựng và hoàn thiện hệ thống TKKT
áp dụng trong doanh nghiệp SXKD ở Việt Nam theo định hướng xác định rõ tính
thống nhất và tăng cường tính chủ động, linh hoạt cho doanh nghiệp, đồng thời đưa ra
các giải pháp hoàn thiện để khắc phục các hạn chế của hệ thống TKKT doanh nghiệp
theo quy định hiện hành cần nghiên cứu, khảo sát, thông lệ quốc tế nhằm rút ra bài
học kinh nghiệm cho Việt Nam.
2.3. Kinh nghiệm xây dựng và hoàn thiện hệ thống tài khoản kế toán doanh
nghiệp sản xuất - kinh doanh của các nƣớc trên thế giới và bài học kinh nghiệm
áp dụng cho Việt Nam
2.3.1. Kinh nghiệm của các nƣớc trên thế giới
Khuôn khổ pháp luật và các quy định về kế toán trong đó có hệ thống TKKT
doanh nghiệp của quốc gia chịu ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế, văn hóa, xã hội.
Trong đó, các nhân tố ảnh hưởng rõ nét nhất là mô hình thiết kế hệ thống luật pháp,
hệ thống thuế và thị trường chứng khoán. Các nhân tố này có mức độ ảnh hưởng khác
nhau, tạo nên tính đa dạng của khuôn khổ pháp luật và các quy định về kế toán của
doanh nghiệp.
Hệ thống luật pháp các quốc gia hiện nay được xây dựng theo hai trường phái:
Trường phái Luật La Mã (Roman Law) và trường phái Luật Chung (Common Law).
14
Ở các nước Anglo – Saxon, gồm Mỹ, Anh, … hệ thống luật pháp được thiết lập theo
mô hình Luật Chung. Theo đó, hệ thống thuế có ảnh hưởng không nhiều đến kế toán.
Thị trường chứng khoán có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến pháp luật và các quy định
15
doanh nghiệp, thường gắn liền với một hệ thống kinh tế nhất định và chịu sự chi phối
của thể chế kinh tế, chính trị của từng quốc gia. Vì vậy, quá trình nghiên cứu và hoàn
thiện hệ thống TKKT doanh nghiệp vừa phải đảm bảo tính hội nhập, vừa phải phù
hợp với đặc điểm hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và phù hợp với đặc điểm,
trình độ phát triển kinh tế của từng quốc gia. Đồng thời phải nghiên cứu hoàn thiện
hệ thống TKKT đồng bộ với khuôn khổ pháp luật và các quy định về kế toán.
Thứ ba, hệ thống TKKT cần hoàn thiện theo hướng xây dựng một hệ thống
TKKT thống nhất, đảm bảo tính “đóng” và tính “mở” hay còn gọi là đảm bảo tính
thống nhất và phát huy tính chủ động, tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp. Về tính
“đóng”, cần xác định rõ phạm vi Nhà nước quy định thống nhất về loại TK, nhóm TK
và nguyên tắc, phương pháp kế toán các nghiệp vụ kinh tế chủ yếu để thuận lợi cho
việc hướng dẫn, đào tạo; cho công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán và quản lý Nhà
nước về kế toán. Đồng thời có cơ sở pháp lý để tất cả các doanh nghiệp thống nhất
thực hiện. Điều này phù hợp với điều kiện và trình độ kế toán và quản lý của Việt
Nam hiện nay. Về tính “mở”, do thực tiễn kinh doanh rất đa dạng, liên tục phát triển,
CMKT luôn được cập nhật hoàn thiện ở tất cả các quốc gia, vì vậy để giảm các công
việc hướng dẫn chi tiết, cụ thể, thường xuyên phải làm của Nhà nước, tránh tình trạng
có nhiều hệ thống TKKT trong một quốc gia cho từng lĩnh vực kinh doanh, hệ thống
TKKT doanh nghiệp cần hoàn thiện theo hướng cho phép doanh nghiệp chủ động
thiết kế và thực hiện cho phù hợp với đặc thù của doanh nghiệp. Cần xác định rõ các
nội dung liên quan đến hệ thống TKKT mà doanh nghiệp được chủ động trên cơ sở
CMKT và các quy định có liên quan. Muốn vậy, cần nghiên cứu lý luận, thông lệ
quốc tế và khảo sát, đánh giá thực tiễn hệ thống TKKT áp dụng trong các doanh
nghiệp SXKD ở Việt nam để đề xuất các quan điểm và giải pháp hoàn thiện cho phù
hợp.
chung đã có những bước phát triển đáng kể. Quá trình hình thành và phát triển hệ
thống TKKT doanh nghiệp SXKD ở Việt Nam có thể khái quát qua ba giai đoạn:
Giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1995; Giai đoạn từ năm 1995 đến tháng 3/2006, và
giai đoạn từ tháng 3/2006 đến nay.
3.2. Thực trạng hệ thống tài khoản kế toán hiện hành áp dụng trong các doanh
nghiệp sản xuất - kinh doanh ở Việt Nam
Theo qui định của chế độ kế toán Việt Nam hiện hành, các doanh nghiệp sản
xuất-kinh doanh tùy theo qui mô, đặc điểm sở hữu có thể vận dụng hệ thống tài
khoản kế toán theo Quyết định 15/2006/QĐ - BTC ngày 20/03/2006 ban hành “Chế
độ Kế toán doanh nghiệp” (đã sửa đổi, bổ sung theo Thông tư số 244/2009/TT - BTC
ngày 31/12/2009) và Quyết định số 48/2006/QĐ - BTC ngày 14/9/2006 ban hành
“Chế độ Kế toán Doanh nghiệp nhỏ và vừa” (đã sửa đổi, bổ sung theo Thông tư số
138/2011/TT - BTC ngày 4/10/2011) của Bộ trưởng Bộ Tài chính. Kết quả nghiên
cứu chế độ TKKT hiện hành (ban hành theo các Quyết định số 15/2006/QĐ - BTC và
Quyết định số 48/2006/QĐ - BTC và các thông tư hướng dẫn, bổ sung liên quan)
17
cùng với kết quả khảo sát tại 105 doanh nghiệp về tình hình vận dụng hệ thống tài
khoản kế toán doanh nghiệp hiện hành ở Việt Nam đã cho thấy khá nhiều bất cập, đòi
hỏi các cơ quan chức năng phải sớm nghiên cứu để hoàn thiện và xây dựng một hệ
thống tài khoản kế toán áp dụng cho các doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh, đáp ứng
yêu cầu phát triển của nền kinh tế, tăng cường tính tự chủ, sáng tạo của doanh nghiệp.
Có thể khái quát kết quả khảo sát trên các mặt sau: Về đối tượng vận dụng; Về số
lượng, mã hiệu và tên gọi tài khoản; Về khả năng cung cấp thông tin; Về nội dung
phản ánh; Về khả năng vận dụng; Về độ linh hoạt của hệ thống tài khoản
Nguyên nhân của những hạn chế
Thứ nhất, mỗi doanh nghiệp SXKD thuộc các thành phần kinh tế khác nhau có
những đặc điểm riêng về hệ thống quản lý, về yêu cầu cung cấp thông tin trên thương
trạng vận dụng hệ thống TKKT trong các doanh nghiệp SXKD trên 2 giác độ là quy
định của Nhà nước và thực tế vận dụng tại các doanh nghiệp, để từ đó, tác giả đưa ra
những đánh giá về tính khả thi việc ban hành hệ thống văn bản pháp luật về kế toán
của Nhà nước và đánh giá hiệu quả thực tế triển khai các chính sách đó tại doanh
nghiệp. Trên cơ sở lý luận ở chương 2 và thực trạng của chương 3, luận án đưa ra
một số những giải pháp cơ bản nhằm xây dựng hệ thống TKKT thống nhất áp dụng
trong các doanh nghiệp SXKD ở Việt Nam.
CHƢƠNG 4
THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
HOÀN THIỆN HỆ THỐNG TÀI KHOẢN KẾ TOÁN HIỆN HÀNH
ÁP DỤNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT –KINH
DOANH Ở VIỆT NAM
4.1. Thảo luận kết quả nghiên cứu về hệ thống tài khoản kế toán hiện hành áp
dụng trong các doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh ở Việt Nam
4.1.1. Về quy định của chế độ kế toán
Hệ thống TKKT doanh nghiệp hiện hành theo Quyết định số 15/2006 về cơ
bản đã đảm bảo sự phù hợp với yêu cầu và và đặc điểm nền kinh tế nước ta hiện nay,
phù hợp với cơ chế tài chính, đảm bảo mối quan hệ hợp lý giữa cơ chế tài chính với
công cụ quản lý trong nền kinh tế quốc dân. Từ đó, đã tạo thuận lợi cho công tác đào
tạo, hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán và triển khai trong thực tế công tác kế
toán của các cơ quan Nhà nước và các doanh nghiệp.
Với hệ thống TKKT doanh nghiệp Việt Nam hiện hành, trình độ kế toán ở
nước ta đã được nâng lên một bước, tiếp cận dần với kế toán quốc tế, các thông lệ,
nguyên tắc kế toán phổ biến của kinh tế thị trường đã được nghiên cứu và từng bước
được vận dụng.
Mặc dù hệ thống TKKT doanh nghiệp hiện hành đã đáp ứng được nhu cầu
19
4.1.3. Về quan điểm hoàn thiện và xây dựng hệ thống tài khoản kế toán doanh
nghiệp sản xuất - kinh doanh mới
Để kế toán thật sự là "ngôn ngữ" chung của mọi hoạt động kinh doanh và phát
huy tốt vai trò của mình trong điều kiện hiện nay, góp phần đẩy mạnh tiến trình hội
20
nhập quốc tế về kế toán của Việt Nam thì việc xác định đúng đắn quan điểm hoàn
thiện là một vấn đề không kém phần quan trọng. Việc hoàn hệ thống TKKT hiện
hành áp dụng trong các doanh nghiệp SXKD sẽ được thực hiện theo các hướng sau
đây: Quan điểm kế thừa; Quan điểm quy định bắt buộc áp dụng và linh hoạt vận
dụng; Quan điểm hội nhập và phát triển; Quan điểm cung cấp thông tin.
4.2. Giải pháp xây dựng và hoàn thiện hệ thống tài khoản kế toán hiện hành áp
dụng trong các doanh nghiệp sản xuất – kinh doanh ở Việt Nam
Trong chương ba, tác giả đã đánh giá những ưu điểm và những tồn tại của hệ
thống TKKT doanh nghiệp hiện hành ở Việt Nam. Từ thực trạng này, hệ thống
TKKT doanh nghiệp hiện hành sẽ được nghiên cứu và hoàn thiện theo giải pháp cụ
thể như sau, nhưng chỉ giới hạn trong phạm vi hệ thống TKKT hiện hành áp dụng
trong các doanh nghiệp SXKD ở Việt Nam.
Cơ sở để xây dựng và hoàn thiện hệ thống TKKT hiện hành áp dụng cho các
doanh nghiệp SXKD là Luật Kế toán (năm 2003), CMKT Việt Nam (VAS), CMKT
quốc tế (IAS), CĐKT doanh nghiệp, vào tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và thế
giới, vào sự phát triển của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện tại và tương lai, ...
Trên thực tế, toàn bộ 26 CMKT Việt Nam đã ban hành theo 5 đợt từ năm 1999 đến
2001 được xây dựng dựa theo CMKT quốc tế. Cho đến nay, các CMKT quốc tế đã
được bổ sung, sửa đổi đồng thời có các CMKT mới ban hành. Những năm qua có rất
nhiều thay đổi quan trọng trong công tác kế toán và BCTC, các tổ chức ban hành
CMKT quốc tế đang cố gắng hài hoà các nguyên tắc kế toán được thừa nhận của Mỹ
(USGAAP) và các Chuẩn mực lập và trình bày BCTC quốc tế (IFRS). Liên minh
chính sách đã được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện thì vấn đề còn lại để tổ chức tốt công
tác kế toán trong các doanh nghiệp SXKD thuộc về bản thân từng doanh nghiệp.
KẾT LUẬN CHƢƠNG 4
Để đáp ứng được yêu cầu quản lý mới của nền kinh tế thị trường theo định
hướng XHCN và yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế, cần phải thiết lập và đưa vào
vận hành trong nền kinh tế quốc dân một hệ thống TKKT doanh nghiệp SXKD thích
hợp với các chính sách kinh tế - xã hội mới, phù hợp với trình độ phát triển kinh tế
nước ta hiện nay và phù hợp với các nguyên tắc, chuẩn mực và thông lệ phổ biến của
quốc tế về kế toán. Trong đó, việc nghiên cứu lý luận và thực tế để đưa ra các giải
pháp hoàn thiện hệ thống TKKT áp dụng trong doanh nghiệp SXKD ở Việt Nam là
yêu cầu cần thiết và khách quan hiện nay.
Với các lý do nêu trên, ở chương 4 này, trên cơ sở lý luận và đánh giá thực
tiễn về hệ thống TKKT doanh nghiệp SXKD hiện nay, tác giả đã đưa ra các quan
điểm và giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện hệ thống TKKT hiện hành áp dụng cho
các doanh nghiệp SXKD ở Việt Nam. Đồng thời phân tích rõ điều kiện để thực hiện
các giải pháp hoàn thiện hệ thống TKKT hiện hành áp dụng trong các doanh nghiệp
SXKD ở Việt Nam. Các giải pháp hoàn thiện theo hướng đề xuất Bộ Tài chính quy
định hệ thống TKKT thống nhất về loại TK, nhóm TK và phương pháp kế toán các
22
nghiệp vụ kinh tế chủ yếu trong nhóm TK để áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp
SXKD; Mở rộng quyền tự chủ cho doanh nghiệp trong việc xây dựng và mở chi tiết
TK các cấp, đặt mã hiệu và tên gọi các TK chi tiết trong danh mục TKKT đã được
ban hành.
KẾT LUẬN CHUNG
Việt Nam đang trong quá trình xây dựng cơ chế thị trường theo định hướng
cứu, chủ yếu tập trung vào việc hoàn thiện một số TKKT, nội dung phản ánh trong
một số TKKT hiện hành trên giác độ ứng dụng kế toán ở các doanh nghiệp cụ thể.
Các công trình nghiên cứu này đã đề xuất được khá nhiều kiến nghị có giá trị lý luận
cũng như thực tiễn cao, nhưng chưa đứng trên giác độ vĩ mô cũng như vi mô để tạo ra
được sự chuyển biến mang tính đột phá trong việc nghiên cứu hoàn thiện hệ thống
TKKT áp dụng trong các doanh nghiệp SXKD ở Việt Nam cho phù hợp với thông lệ
của các nước phát triển. Từ đó cần phải tiếp tục nghiên cứu để đưa ra các giải pháp
căn bản và toàn diện hơn để cơ quan Nhà nước, các nhà khoan học và chuyên gia kế
toán, đặc biệt là các doanh nghiệp cùng phải xem xét để từng bước triển khai góp
phần hoàn thiện hệ thống TKKT hiện hành áp dụng trong các doanh nghiệp SXKD.
Thứ hai, luận án đã hệ thống hóa những lý luận cơ bản về TKKT và hệ thống
TKKT doanh nghiệp SXKD. Trên cơ sở phân tích, làm rõ được tác động của hệ thống
TKKT tới nhu cầu của đối tượng sử dụng thông tin, nhu cầu của các đối tượng quản lý
với hệ thống TKKT, các nhân tố tác động tới quá trình nghiên cứu hoàn thiện hệ
thống TKKT áp dụng trong các doanh nghiệp SXKD. Luận án đã phân tích những
nguyên tắc, yêu cầu, nội dung khi hoàn thiện hệ thống TKKT doanh nghiệp. Đây là là
định hướng cơ bản cho việc nghiên cứu thực trạng áp dụng hệ thống TKKT doanh
nghiệp hiện hành nhằm đưa ra các quan điểm và giải pháp hoàn thiện hệ thống TKKT
doanh nghiệp SXKD áp dụng trong các doanh nghiệp SXKD ở Việt Nam.
Thứ ba, từ việc khảo sát và phân tích thực trạng hệ thống TKKT doanh
nghiệp áp dụng cho các doanh nghiệp SXKD trên hai giác độ: khuôn khổ pháp luật
và thực tế thực hiện của các doanh nghiệp SXKD, luận án đã phân tích, đánh giá
thực trạng hệ thống TKKT doanh nghiệp hiện hành, chỉ rõ ưu điểm, hạn chế và
nguyên nhân của các hạn chế. Đây là cơ sở thực tế để luận án đưa ra một số những
giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện hệ thống TKKT áp dụng trong các doanh nghiệp
SXKD ở Việt Nam.
Thứ tư, trên cơ sở nghiên cứu lý luận, đánh giá thực tiễn, để đáp ứng yêu cầu
quản lý mới của nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN và hội nhập kinh tế
quốc tế, thu hẹp những khác biệt về kế toán giữa các nước, các khu vực khác nhau,
tạo ra tiếng nói chung về kế toán, luận án đã đưa ra các quan điểm và giải pháp cơ