nghiên cứu đặc điểm hình thành trữ lượng nước dưới đất lưu vực sông ven biển tỉnh bình thuận và tỉnh ninh thuận - Pdf 39

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ ĐỊA CHẤT

NGUYỄN MINH KHUYẾN

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÀNH TRỮ
LƯỢNG NƯỚC DƯỚI ĐẤT LƯU VỰC SÔNG VEN
BIỂN TỈNH BÌNH THUẬN VÀ NINH THUẬN

Ngành: Kỹ thuật địa chất
Mã số: 62.52.05.01

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐỊA CHẤT

Hà Nội - 2015


Công trình được hoàn thành tại: bộ môn Địa chất thủy văn,
Trường Đại học Mỏ- Địa chất Hà Nội

Người hướng dẫn khoa học:

1. PGS.TS. Nguyễn Văn Lâm
2. TS. Hoàng Văn Hưng

Phản biện 1:

PGS.TS. Phạm Quý Nhân

Phản biện 2:


yếu trong tầng chứa nước trầm tích Đệ tứ không phân chia, Holocen,
Pleistocen. Mặc dù, có nguồn sinh thủy và có các tầng chứa nước,
nhưng vùng nghiên cứu thường xuyên thiếu nước vào mùa khô. Do
đó, việc tìm lời giải cho các vấn đề nêu trên là cần thiết.
2. Mục đích nghiên cứu của luận án
Đánh giá được trữ lượng và đặc điểm hình thành trữ lượng
nước dưới đất tại các lưu vực sông ven biển tỉnh Ninh Thuận và Bình
Thuận, từ đó đề xuất các giải pháp khai thác sử dụng và bảo vệ hợp
lý nguồn tài nguyên nước phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã
hội của lưu vực.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Trữ lượng NDĐ trong các thành tạo đất
đá bở rời có khả năng chứa nước.
Phạm vi nghiên cứu: 4 vùng LVS chính ven biển thuộc địa bàn
tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, gồm: LVS Cái Phan Rang và phụ cận,
Lũy và phụ cận, Cái Phan Thiết- sông Cà Ty, Phan-sông Dinh.
4. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng, gồm:
Phương pháp thu thập xử lý và tổng hợp tài liệu; Phương pháp


2
nghiên cứu thực địa; Phương pháp phân tích thống kê; Phương pháp
tương tự ĐCTV; Phương pháp GIS; Phương pháp mô hình; Các
phương pháp đánh giá trữ lượng NDĐ; Phương pháp chuyên gia.
5. Cơ sở tài liệu của luận án
Ngoài các số liệu thu thập từ các kết quả nghiên cứu trước đây,
các tài liệu tác giả đã tiến hành thí nghiệm hiện trường để phục vụ
nghiên cứu, các kết quả hiện trường như: kết quả đo sâu đối xứng ở
520 điểm trong vùng đất đá bở rời thuộc LVS Cái Phan Rang; kết

hướng quản lý khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên NDĐ phục vụ
phát triển kinh tế - xã hội cho các địa phương trong trong vùng
nghiên cứu.
8. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Ý nghĩa khoa học:
Bằng phương pháp phân tích, thống kê đã xác định được địa
hình bề mặt đá gốc vùng nghiên cứu có ảnh hưởng đến khả năng trữ
thoát nước trong tầng chứa nước bở rời nằm trên đá gốc. Dùng lý
thuyết cân bằng nước kết quả quan trắc và khảo sát thực nghiệm đã
tính toán lượng bổ cập của nước mưa cho nước dưới đất ở LVS ven
biển Ninh Thuận và Bình Thuận. Sử dụng mô hình số để xác định
chính xác các nguồn hình thành trữ lượng nước dưới đất trên cơ sở số
liệu đầu vào là kết quả khảo sát tính toán thực tế. Kết quả đã xác định
được các nguồn hình thành nước dưới đất làm cơ sở khoa học cho
những nghiên cứu về NDĐ vùng ven biển Ninh Thuận – Bình Thuận.
Ý nghĩa thực tiễn:
Từ việc xác định các nguồn hình thành trữ lượng NDĐ làm cơ
sở định hướng các phương án khai thác sử dụng hợp lý tài nguyên
nước dưới đất ở vùng ven biển.
Các giải pháp đề ra có thể ứng dụng vào thực tiễn nhằm khai


4
thác sử dụng hợp lý NDĐ, giảm thiếu sự thất thoát cũng như nguy cơ
cạn kiệt, ô nhiễm, xâm nhập mặn vùng nghiên cứu.
9. Cấu trúc luận án
Cấu trúc luận án gồm 5 chương không kể phần mở đầu và kết
luận.
Chương 1::
Tổng quan nghiên cứu về sự hình thành trữ lượng nước dưới đất

thành trữ lượng ở Việt Nam tiêu biểu như sau: Trần Hồng Phú
(1982), Nguyễn Trường Giang (1992), Vũ Ngọc Kỷ (1994), Trần
Minh (1994), Nguyễn Văn Lâm, nnk (1995), Phạm Quí Nhân (1997),
Phạm Văn Năm (1998), Đoàn Văn Cánh (2005)...
Tình hình nghiên cứu vùng ven biển Ninh Thuận, Bình
Thuận: hiện nay có một số công trình nghiên cứu khoa học, cũng
như các đề án, dự án nghiên cứu, đánh giá nguồn nước nói chung,
nguồn nước dưới đất nói riêng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội cho
các vùng. Nhìn chung các đề tài, dự án đã phần nào làm sáng tỏ điều
kiện địa chất, ĐCTV trong vùng và đã đánh giá được trữ lượng NDĐ
trong mỗi vùng cụ thể. Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu trước đây
mới chỉ đánh giá mang tính chất cục bộ trong các vùng nhỏ, chưa có
đánh giá tổng thể toàn vùng. Ngoài ra, các kết quả nghiên cứu trước
đây chưa đánh giá được trữ lượng khai thác tiềm năng NDĐ, trữ lượng
khai thác NDĐ dự báo cho toàn vùng cũng như các nguồn hình thành
trữ lượng NDĐ trong vùng nghiên cứu.
Chương 2::
Những nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành trữ lượng nước
dưới đất vùng nghiên cứu
2.1. Vị trí vùng nghiên cứu
Vùng nghiên cứu có diện tích khoảng 4.200 km2 thuộc 4 vùng
LVS chính ven biển tỉnh Bình Thuận và Ninh Thuận, gồm: LVS Cái
Phan Rang và phụ cận (gồm LVS nhỏ, sông Trâu, Bà Râu, Vũng Sơn
Hải và sông Bung); LVS Lũy và phụ cận (gồm LVS nhỏ, sông Bung
và sông Nước Mặn); LVS Cái Phan Thiết-sông Cà Ty; LVS Phansông Dinh.
2.2. Các nhân tố hình thành và ảnh hưởng đến trữ lượng NDĐ


6
Các nhân tố hình thành và ảnh hưởng đến trữ lượng nước dưới

7

Hình 3.2. Sơ đồ bố trí sân cân bằng
2. Thời gian và phương pháp quan trắc: từ tháng 11/2012 10/2013, bằng thiết bị đo MN tự động.
3. Chỉnh lý số liệu mực nước: Do điều kiện thực tế đã không
bố trí được vị trí giếng như lý thuyết, nên tác giả đã tiến hành chỉnh
lý số liệu để đạt được điều kiện theo lý thuyết
4. Phân chia bước thời gian (t) để tính toán: sân cân bằng
Phước Thuận chia làm 8 bước thời gian; sân cân bằng Tấn Tài chia
làm 6 bước thời gian.
5. Kết quả tính toán lượng cung cấp thấm: lượng cung cấp
thấm tại sân cân bằng Phước Thuận, Tấn Tài cho thấy lượng cung
cấp của nước mưa trong thời gian từ tháng 11/2012 - 10/2013 biến
đổi từ 228,68 - 235,74mm/năm, trung bình 232,21mm/năm.
3.2. Trữ lượng nước dưới đất
3.2.1. Phân vùng đánh giá trữ lượng NDĐ và cơ sở tài liệu đánh giá
Tác giả đã phân chia vùng nghiên cứu ra 04 vùng để đánh giá
sự hình thành trữ lượng NDĐ, gồm: Vùng LVS Cái Phan Rang và
phụ cận; Vùng LVS Cái Phan Rang và phụ cận; Vùng LVS Cái Phan
Thiết - Cà Ty; Vùng LVS Phan - sông Dinh.


8
3.2.2. Trữ lượng NDĐ trong trầm tích bở rời LVS Cái Phan
Rang và phụ cận
Để đánh giá trữ lượng nước dưới đất tác giả đã tiến hành:
- Xác định giới hạn vùng mô hình và phân lớp mô hình.
- Nhập các thông số đầu vào cho mô hình gồm: giá trị bổ cập;
giá trị bốc hơi; hệ số thấm, hệ số nhả nước của các lớp đất đá; số liệu
giếng khai thác; xây dựng các biên cho mô hình.

- Biên vùng ven sườn: trong luận án này, với mục đích xác
định lượng cung cấp của dòng ven sườn, vì vậy trong mô hình vùng
LVS Cái Phan Rang và phụ cận tác giả không đặt biên cho vùng ven
sườn mà coi vùng ven sườn là 1 Zone theo hình vành khăn xung
quanh vùng phân bố trầm tích bở rời LVS Cái Phan Rang và phụ
cận, nơi phân bố các đất đá phong hóa có thấm nước, bề rộng của
hình vành khăn rộng 250m đến 500m tùy thuộc diện phân bố đất đá
phong hóa
- Kết quả chỉnh lý mô hình: để chỉnh lý mô hình, tác giả đã
tiến hành chỉnh lý ổn định và không ổn định. Số liệu để chỉnh lý
không ổn định là số liệu quan trắc tại các sân cân bằng, tuyến quan
trắc từ tháng 11/2012 đến 10/2013. Kết quả chạy mô hình tương đối
phù hợp với các giá trị thực tế, Nghiên cứu sinh sẽ sử dụng làm cơ sở
để đánh giá trữ lượng khai thác cho vùng.
3.2.2.2. Trữ lượng tiềm năng và trữ lượng khai thác
Trữ lượng tiềm năng trung bình cả năm 134.374m3/ngày, mùa
khô 114.792m3/ngày, mùa mưa 153.957m3/ngày. Trữ lượng khai thác
dự báo 27.699m3/ngày.
3.2.3. Trữ lượng NDĐ trong trầm tích bở rời LVS Lũy và phụ cận
- Phân lớp mô hình: Lớp 1 ứng với tầng chứa nước trong trầm
tích Holocen; Lớp 2 ứng với tầng chứa nước trầm tích Pleistocen.
Bước lưới được phân chia với khoảng cách ô lưới 250m x 250m;
- Giá trị bổ cập của nước mưa cho NDĐ, phân chia thành 3


10
vùng: vùng 1 (ven biển, ở khu vực phía Bắc) có giá trị bổ cập biến đổi
từ 0,8 - 1197,8mm/năm; vùng 2 (giữa đồng bằng sông Lũy) từ 0,6 791,6mm/năm; vùng 3 (giáp núi) từ 0,9 - 1348,4mm/năm.
- Giá trị bốc hơi, phân chia thành 3 vùng: vùng 1 (ven biển, ở
khu vực phía Bắc) có giá trị bốc hơi biến đổi từ 441,8 - 674,2mm/năm;

Sy biến đổi từ 0,15 - 0,2; lớp 2 có hệ số thấm biến đổi từ 0,5 - 15,0
m/ngày, hệ số nhả nước Ss biến đổi từ 0,0015 - 0,005, hệ số Sy biến
đổi từ 0,15 - 0,2;
- Giếng khai thác: lưu lượng hiện tại 11.970m3/ngày;
- Biên GHB: đặt cho sông đặt cho sông Cái Phan Thiết- sông
Cà Ty. biên ven sườn cho vùng mô hình.
Kết quả đánh giá trữ lượng tiềm năng trung bình năm
279.835m3/ngày, mùa khô 237.862m3/ngày, mùa mưa 309.817m3/ngày.
Trữ lượng khai thác dự báo 71.691m3/ngày.
3.2.5. Trữ lượng NDĐ trong trầm tích bở rời LVS Phan - sông Dinh
- Phân lớp mô hình: lớp 1 ứng với tầng chứa nước trong trầm
tích Holocen; lớp 2 ứng với tầng chứa nước trong trầm tích Pleistocen.
Bước lưới được phân chia với khoảng cách ô lưới 250m x 250m;
- Giá trị bổ cập của nước mưa cho NDĐ: vùng 1 (ven biển) có giá
trị bổ cập biến đổi từ 2,3 - 1302,9mm/năm; vùng 2 (vùng phía Nam) từ
1,1 - 631,2mm/năm; vùng 3 (giáp núi) từ 1,9 - 1085,3mm/năm.
- Giá trị bốc hơi: vùng 1 (giáp núi phía Tây) có giá trị bốc hơi
biến đổi từ 235,5 - 401,7mm/năm; vùng 2 (vùng giữa sông Phan, sông
Dinh) từ 256,2 - 437,6mm/năm; vùng 3 (ven biển phía Bắc, Đông
Bắc) từ 214,9 - 366,5mm/năm.
- Hệ số thấm, hệ số nhả nước: lớp 1 có hệ số thấm biến đổi từ 6,0
- 30,0 m/ngày, hệ số nhả nước Ss biến đổi từ 0,011 - 0,015, hệ số Sy
biến đổi từ 0,15 - 0,25; lớp 2 có hệ số thấm biến đổi từ 10,0 - 22,0
m/ngày, hệ số nhả nước Ss biến đổi từ 0,01 - 0,09, hệ số Sy biến đổi
0,11 - 0,15;
- Giếng khai thác: lưu lượng khai thác hiện tại 1000m3/ngày;
- Biên GHB: đặt cho sông đặt cho sông Phan, sông Dinh. biên


12



13
hình, độ dốc bề mặt đá gốc, thành phần thạch học của đất đá chứa
nước cho thấy ở những vùng bề mặt địa hình trũng, những nơi tồn tại
cồn cát, thì nước dưới đất được hình thành và lưu giữ lớn như khu
vực An Hải, Phước Dân, Phước Dinh, Phước Hậu, Phước Sơn và
Phước Thuận thuộc huyện Ninh Phước, khu vực Phan Rang - Tháp
Chàm. Ngược lại, đối với những vùng bề mặt địa hình dốc thì khả
năng giữ nước kém hơn như ở khu vực Nhơn Hải, Tri Hải thuộc
huyện Ninh Hải, khu vực Phước Hà, Phước Hữu huyện Ninh Phước.
- Nguồn nước dưới đất được hình thành: hàng năm lượng mưa
cung cấp cho nước dưới đất 63.364m3/ngày (chiếm 47,2% lượng
cung cấp cho nguồn nước dưới đất), nguồn cấp cho nước dưới đất từ
nước sông, suối 44.571m3/ngày (chiếm 33,2%), nguồn cấp cho nước
dưới đất từ bên sườn 3.885m3/ngày (chiếm 2,6%), lượng nước điều
tiết từ bản thân tầng chứa nước 22.554m3/ngày (chiếm 16,8%).
- Kết quả tính toán Mô dun dòng ngầm tại 5 vùng thuộc LVS
Cái Phan Rang và phụ cận cho thấy, mô đun dòng ngầm biến đổi từ
64m3/ngày/km2 ở vùng rìa đồng bằng, đến 625m3/ngày/km2 ở vùng
cồn cát, trung bình khoảng 362m3/ngày/km2. Theo kết quả thí
nghiệm ở vùng 4 xác định được lượng cung cấp thấm là
232,21mm/năm tương đương với 636m3/ngày/km2. Như vậy kết quả
tính toán từ thí nghiệm tương đương với tính toán từ mô hình.
4.3. Đặc điểm hình thành TLNDĐ vùng LVS Lũy và phụ cận
- Trữ lượng tiềm năng trung bình năm 286.872m3/ngày. Trữ
lượng khai thác dự báo 81.349m3/ngày.
- Do đặc điểm cấu trúc địa chất, địa hình, độ dốc bề mặt đá
gốc, thành phần thạch học của đất đá chứa nước cho thấy NDĐ được
hình thành và lưu giữ lớn và chủ yếu phân bố ở các dải cồn cát ven

Cái Phan Thiết - Cà Ty 279.835m3/ngày, trong đó được hình thành từ
nước mưa là 51,6%; từ nước sông, suối là 21.9%; từ bên sườn 1,2%
và từ điều tiết bản thân tầng chứa nước 12,3%.
- Kết quả tính toán Mô dun dòng ngầm tại 5 vùng thuộc LVS
Cái Phan Thiết và phụ cận cho thấy, mô đun dòng ngầm biến đổi từ
109m3/ngày/km2 ở vùng rìa đồng bằng, đến 276m3/ngày/km2 ở vùng


15
cồn cát, trung bình khoảng 202m3/ngày/km2.
4.5. Đặc điểm hình thành TLNDĐ vùng LVS Dinh - sông Phan
- Trữ lượng tiềm năng trung bình cả năm 143.111m3/ngày. Trữ
lượng khai thác dự báo 49.074m3/ngày.
- NDĐ tại các lưu vực ven biển chủ yếu được hình thành và
lưu giữ trong các thành tạo Đệ tứ. Do đặc điểm cấu trúc địa chất, địa
hình, độ dốc bề mặt đá gốc, thành phần thạch học của đất đá chứa
nước cho thấy NDĐ trong vùng LVS Phan – Dinh tồn tại ở những
vùng có địa hình thấp dọc ven biển các cửa sông từ Tân Thắng đến
Tân Thành Hàm Thuận Nam, có diện tích 267,4km2.
- NDĐ ở LVS Dinh - Phan được hình thành bởi các nguồn từ
nước mưa, dòng chảy bên sườn, từ nước sông và điều tiết từ bản thân
tầng chứa nước. Theo kết quả tính toán từ mô hình trong Chương 3
cho thấy, tổng trữ lượng khai thác tiềm năng vùng LVS Dinh - Phan
143.111m3/ngày, trong đó được hình thành từ nước mưa là 43,3%; từ
nước sông, suối là 24%; từ điều tiết bản thân tầng chứa nước 14,5%
và từ bên sườn 3,4%.
- Kết quả tính toán Mô dun dòng ngầm tại 5 vùng thuộc LVS
này cho thấy, mô đun dòng ngầm biến đổi từ 13m3/ngày/km2 ở vùng
rìa đồng bằng, đến 323m3/ngày/km2 ở vùng cồn cát, trung bình
179m3/ngày/km2.

24,5m, thường gặp 5,2m.
- Khu vực Ninh Hải: Chiều sâu khai thác của tầng chứa nước
từ 3-13m, phổ biến từ 4-5m. Phương thức khai thác là các giếng đào,
giếng khoan đường kính nhỏ, lưu lượng không quá 7-10m3/ngày.
- Khu vực Ninh Phước: chiều sâu khai thác từ 3-17m. Vùng có
tầng chứa nước tương đối dày phân bố ở khu vực An Hải, Phước
Dân, Phước Thuận (6-17m) phương thức khai thác các giếng khoan
với công suất khoảng 100-200m3/ngày. Các khu vực khác khai thác ở
độ sâu khoảng từ 4-5m, phương thức khai thác là các giếng đào,
giếng khoan đường kính nhỏ, lưu lượng không quá 7-10m3/ngày.
- Khu vực Ninh Sơn: trầm tích này phân bố chủ yếu ở khu vực


17
ven sông Dinh (Mỹ Sơn và Phước Sơn), bề dày tầng chứa nước này
không lớn chỉ khoảng 4 - 5m. Phương thức khai thác chủ yếu là các
giếng đào.
- Khu vực Phan Rang - Tháp Chàm: bề dày trầm tích ở đây
cũng tương đối lớn biến đổi từ 5-20m, thường gặp từ 5-10m. Phương
thức khai thác là các công trình khai thác nước tập trung công suất
nhỏ (100-200m3/ngày), các giếng khoan đường kính nhỏ, giếng đào
hay các giếng tia.
b. Tầng chứa nước Pleistocen
Ở vùng nghiên cứu tầng chứa nước này phân bố rộng rãi khắp
đồng bằng Ninh Thuận (hạ lưu sông Dinh). Bề dày tầng chứa nước
biến đổi từ 0 – 43,5m, thường gặp từ 10 -15m.
- Khu vực Ninh Hải: chiều sâu khai thác của tầng chứa nước
từ 5-15m. Phương thức khai thác chủ yếu là các giếng khoan đường
kính nhỏ, giếng đào với lưu lượng không quá 7-10m3/ngày. Một số
nơi như khu vực Nhơn Hải có thể khai thác nước tập trung quy mô

khoảng cách tối thiểu khoảng 120m; mật độ khai thác khoảng
4.200m3/ngày/km2. Phương thức khai thác là giếng khoan đường
kính nhỏ.
b. Khai thác trong trầm tích Pleistocen
- Khu địa hình thấp đồng bằng: phân bố ở địa hình thấp
đồng bằng thuộc các xã Hồng Sơn, Sông Lũy, sông Bình, sông Mao
huyện Bắc Bình kéo ra tới Vĩnh Hảo Tuy Phong có diện tích
361,40km2, mức độ chứa nước kèm nên khai thác chủ yếu là các
giếng đào chỉ đủ sinh hoạt gia đình.
- Khu địa hình cát đỏ Lương Sơn - Hoà Phú thuộc Bắc
Bình: có diện tích là 313,1 km2 thuộc các xã Lương Sơn, Hoà
Thắng, Hồng Thắng, Hoà Phú. Bề dày tầng chứa nước trung bình của
lỗ khoan là 36,4m. Khả năng khai thác của một lỗ khoan an toàn là Q
= 140m3/ngày. Mật độ khai thác khoảng 2.100m3/ngày/km2, bố trí
các lỗ khoan phải đảm bảo khoảng cách ít nhất 260m.
5.2.3. Vùng LVS Cái Phan Thiêt - sông Cà Ty


19
a. Khai thác trong trầm tích Holocen:
Trầm tích Holocen có diện tích khá rộng 219,0 km2 phân bố ở
đồng bằng Phan Thiết dọc theo hạ lưu các sông Cà Ty, sông Cái hầu
hết vùng này nằm trong diện tích mặn M > 1g/l. Vì vậy, khả năng
cấp nước trong tầng này cho vùng rất hạn chế.
b. Khai thác trong trầm tích Pleistocen:
- Khu địa hình đồng bằng: Phân bố ở Hàm Mỹ, Hàm Thạnh,
Mương Mán, Hàm Liêm, Hàm Chính có diện tích là 214,0 km2 chiều
dày mỏng 2  9 mét nên khả năng chứa nước kém. Khu vực này khai
thác chủ yếu là các giếng đào của dân.
- Khu địa hình cồn cát Bình Tú - Tiến Thành: có diện tích

năng đủ cấp nước sinh hoạt cho gia đình ở nơi giáp ranh với tầng
chứa nước Holocen.
5.3. Giải pháp giảm lượng thoát của NDĐ ra sông, biển
Bố trí các công trình khai thác dạng giải nhằm tận dụng lượng
thoát hoặc tạo các tường chắn nông để giảm lượng thoát, các khu vực
đó gồm: xã Phước Hậu, phường Tấn Tài, phường Kinh Dinh (Vùng
LVS Cái Phan Rang và phụ cận); xã Hòa Thắng, xã Hồng Phú (Vùng
LVS Lũy và phụ cận); xã Hàm Tiến, Phú Hải, Tiến Thành (Vùng
LVS Cái Phan Thiết - sông Cà Ty); xã Tân Hải, Tâm Thành (Vùng
LVS Phan - sông Dinh).
5.4. Giải pháp tăng lượng cung cấp thấm, BSNT cho NDĐ
Cần hạn chế việc gia tăng bê tông hóa nếu không cần thiết,
nạo vét các hồ trong khu dân cư tập trung, nạo vét xây mới hồ chứa
nước ngọt và các khu vực NDĐ đang bị nhiễm mặn ở khu vực
Khánh Hải, Trí Hải, Nhân Hải và Phan Rí Thành. Xây dựng các hồ
chứa kiểu ngoài sông dẫn nước từ sông, trữ nước cho mùa khô ở các
khu vực Phước Vĩnh, Hội Hải, Trí Hải. Trồng rừng đầu nguồn để
làm chậm quá trình thoát nước mưa, nước mặt và xây dựng mô hình
bổ sung nhân tạo NDĐ ở các thị trấn, khu đô thị mới.
Kết luận và kiến nghị
Kết luận:
Luận án đã đạt được một số kết quả chủ yếu sau:


21
1) Sự hình thành trữ lượng NDĐ vùng LVS ven biển tỉnh Bình
Thuận và Ninh Thuận chịu ảnh hưởng sâu sắc của các nhân tố tự
nhiên và nhân tạo và có sự khác biệt với các vùng khác trên lãnh thổ
Việt Nam cụ thể là: lượng mưa nhỏ hơn lượng bốc hơi; địa hình dốc
phát triển theo hướng ra biển dẫn tới các sông ngắn và dốc; dọc bờ

nghiên cứu gồm: từ nước mưa 356.859m3/ngày (chiếm 42,3% trữ
lượng), từ nước mặt (sông suối, ao hồ) 294.377m3/ngày (chiếm
34,9%), từ dòng bên sườn 21.924m3/ngày (chiếm 2,6%), lượng nước
điều tiết từ bản thân tầng chứa nước 171.032m3/ngày (chiếm 20,3%).
6) Tiềm năng NDĐ phân bố chủ yếu ở các cồn cát trong các
LVS. LVS Cái Phan Rang phân bố tại: An Hải, Phước Dân, Phước
Dinh, Phước Hậu, Phước Sơn và Phước Thuận thuộc huyện Ninh
Phước, khu vực Phan Rang – Tháp Chàm trên; LVS Lũy phân bố tại:
xã Lương Sơn, Hoà Thắng, Hồng Thắng, Hoà Phú; LVS Cái Phan
Thiết phân bố tại: xã Bình Tú,Tiến Thành, Hàm Mỹ, Hàm Kiệm,
Hàm Minh, Phú Hài, Hoà Thắng, Hàm Minh, Tân Thành, Tân Thuận
Hàm Thuận Nam; và LVS Dinh, sông Phan phân bố từ xã Tân Thắng
đến Tân Thành Hàm Thuận Nam. Mô đun dòng chảy ngầm tại các
khu vực cồn cát khá lớn, đạt 256m3/ngày/km2 đến 641m3/ngày/km2;
tại các vùng rìa mô đun dòng chảy ngầm đạt 13m3/ngày/km2 đến
150m3/ngày/km2.
7) Từ những kết quả nghiên cứu thực tế kết hợp với phân tích
cấu trúc ĐC, ĐCTV, đặc điểm địa hình, đặc điểm khí hậu, các kết quả
tính toán đánh giá trữ lượng NDĐ, đặc điểm hình thành trữ lượng
NDĐ cho thấy, để tăng cường khả năng lưu giữ NDĐ, tăng cường khả
năng khai thác, sử dụng nước hợp lý thì cần xây dựng các công trình
thu nước dọc theo các dải cồn cát ven biển. Đồng thời xây dựng các
tường chắn tại các khu vực ở xã Phước Hậu, phường Tấn Tài, phường
Kinh Dinh (vùng phân bố trầm tích bở rời LVS Cái Phan Rang và phụ
cận); xã Hòa Thắng, Hồng Phú (vùng phân bố trầm tích bở rời LVS
Lũy và phụ cận); ở xã Hàm Tiến, Phú Hải, Tiến Thành (vùng phân bố
trầm tích bở rời LVS Cái Phan Thiết - Cà Ty); ở xã Tân Hải, Tâm


23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status