PHẦN MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
- Kế toán quản trị (KTQT) là một bộ phận của hệ thống kế toán, nó ra
đời trong điều kiện nền kinh tế thị trường, KTQT được coi là loại kế toán
dành riêng cho những người làm công tác quản lý kinh doanh, phục vụ cho
các nhà quản trị ra các quyết định kinh doanh.
- Trong điều kiện kinh tế thị trường, để đưa ra quyết định kinh doanh,
các nhà quản lý doanh nghiệp không thể chỉ dựa vào các thông tin quá khứ,
mà còn phải dựa vào các thông tin liên quan đến tương lai, để phân tích các
tình huống, các phương án kinh doanh và lựa chọn phương án kinh doanh có
hiệu quả nhất. KTQT sẽ giúp cho các nhà quản trị trong doanh nghiệp thu
thập và phân tích các thông tin cần thiết liên quan đến các tình huống, các
phương án kinh doanh trong quá trình lựa chọn ra quyết định.
- KTQT rất phát triển ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển,
ở Việt Nam KTQT cũng đã được đề cập đến trong định hướng phát triển hệ
thống kế toán Việt Nam từ năm 1995, đặc biệt trong chiến lược phát triển hệ
thống kế toán Việt Nam 2000-2010 đã xây dựng cụ thể chương trình phát
triển công tác KTQT ở các doanh nghiệp.
- Tuy nhiên sự quan tâm đến KTQT ở góc độ vĩ mô cũng mới là định
hướng chiến lược; còn đối với các nhà nghiên cứu, các trường Đại học chuyên
ngành đã quan tâm rất nhiều về lý luận và tính ứng dụng KTQT đối với các
doanh nghiệp. Mặt khác thực tế các doanh nghiệp, nhất là các DNNN hiện
nay còn rất bỡ ngỡ và chưa thực sự quan tâm đến KTQT.
- Do các lý do nêu trên, đề tài: "Xây dựng mô hình tổ chức KTQT ở
các DNSXKD trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta" là một đề tài
hết sức cần thiết hiện nay. Đề tài góp phần bổ sung thêm những vấn đề lý luận
về KTQT, tăng cường tính ứng dụng của KTQT đối với các DN, góp phần
phát triển công tác KTQT ở Việt Nam.
1
1.1. Khái quát chung về kế toán quản trị
1.1.1. Khái niệm kế toán quản trị (KTQT)
Kế toán là nhu cầu tất yếu khách quan, là công cụ không thể thiếu
được để phục vụ quản lý kinh tế, đặc biệt trong nền kinh tế sản xuất hàng hóa.
Chức năng của kế toán là cung cấp thông tin cần thiết về tình hình và
sự vận động của tài sản trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của các
doanh nghiệp (tổ chức) cho các đối tượng sử dụng thông tin với các mục đích
sử dụng khác nhau ra được các quyết định phù hợp.
Đối tượng sử dụng thông tin kế toán của một doanh nghiệp rất đa
dạng: các nhà quản trị doanh nghiệp, các chủ đầu tư, các chủ nợ, các cơ quan
quản lý chức năng của Nhà nước.
Các nhà quản trị các cấp trong doanh nghiệp sử dụng thông tin kế toán
để điều hành, quản lý hoạt động của doanh nghiệp, đề ra được các quyết định
quản lý phục vụ cho việc điều hành, quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp phù hợp với yêu cầu của các nhà quản trị doanh nghiệp.
Các chủ đầu tư, chủ nợ sử dụng thông tin kế toán để ra được các quyết
định đầu tư, quyết định cho vay một cách đúng đắn với mục đích đầu tư, cho
vay của họ.
Các cơ quan quản lý chức năng của Nhà nước sử dụng thông tin kế
toán của doanh nghiệp để kiểm tra, giám sát hoạt động của các doanh nghiệp,
việc thực hiện, chấp hành các chính sách chế độ quản lý kinh tế - tài chính nói
chung, chế độ thể lệ, quy định về kế toán nói riêng, phục vụ cho việc điều
hành và quản lý nền kinh tế quốc dân.
3
Như vậy do mục đích sử dụng thông tin của các đối tượng sử dụng
khác nhau, nên thông tin do kế toán cung cấp cũng rất đa dạng và khác nhau,
khác nhau về nội dung, phạm vi, về mức độ, tính chất, thời gian cung cấp kể
cả về mặt giá trị pháp lý của thông tin. Sự khác nhau đó là tiêu thức để chia kế
trong doanh nghiệp lại cần có những thông tin cụ thể hơn, chi tiết hơn phù
hợp với yêu cầu quản lý và việc ra quyết định. Chẳng hạn như đối với quá
trình sản xuất chế tạo sản phẩm các nhà quản trị doanh nghiệp cần có những
thông tin cụ thể, chi tiết liên quan đến nhiều quá trình nhiều hoạt động khác
để quyết định khối lượng sản phẩm sản xuất ra, để quyết định mở rộng hay
thu hẹp quy mô sản xuất, để tiếp tục ngừng hoạt động, để chuyển hướng sản
xuất kinh doanh. Nói tóm lại, mục đích của việc điều hành, quản lý có hiệu
quả sản xuất kinh doanh của các nhà quản trị doanh nghiệp là để đạt được lợi
nhuận tối đa với chi phí bỏ ra ít nhất. Các nhà quản trị doanh nghiệp luôn nghĩ
rằng lợi nhuận thu được chính là kết quả của việc sử dụng hiệu quả các chi
phí bỏ ra, cho nên họ luôn quan tâm đến việc kiểm soát chi phí, tính toán chi
phí, lập dự toán, định mức chi phí, kiểm tra việc thực hiện các định mức, dự
toán chi phí. Chính vì vậy một trong những nội dung quan trọng của quản trị
doanh nghiệp là quản lý, kiểm soát chi phí trong quá trình hoạt động sản xuất
kinh doanh. Thông tin chính phục vụ cho các nhà quản trị doanh nghiệp để họ
có thể quản lý, kiểm soát được chi phí, đánh giá việc sử dụng chi phí là thông
tin do kế toán cung cấp. Điều này được khẳng định là hoàn toàn đúng khi
nhiều người cho rằng kế toán chi phí và giá thành sản phẩm là xuất phát điểm,
là nội dung chính của kế toán quản trị. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng kế toán
quản trị là một bộ phận của hệ thống kế toán doanh nghiệp, nhưng chỉ được
thừa nhận một vài, ba thập kỷ nay, khi nền kinh tế thị trường đã thực sự phát
triển ở một số nước, khi mà yêu cầu quản lý đã cần thiết phải có sự phân chia
thành yêu cầu quản lý vĩ mô và yêu cầu quản lý vi mô - yêu cầu quản trị
doanh nghiệp.
Từ những điều phân tích trên có thể thấy kế toán quản trị là khoa học,
là công việc thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin một cách chi tiết cụ thể về
tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phù hợp
với yêu cầu quản lý của các nhà quản trị doanh nghiệp.
1.1.2. Vai trò, chức năng và mục đích của kế toán quản trị
trị là thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin thích hợp cho việc ra quyết định
quản trị doanh nghiệp.
6
Tóm lại, vai trò, chức năng và mục đích của KTQT luôn thể hiện, gắn
liền với việc thực hiện các chức năng và mục đích của hoạt động quản lý
doanh nghiệp.
1.1.3. Kế toán quản trị và kế toán tài chính; kế toán tổng hợp và kế
toán chi tiết
1.1.3.1. Kế toán quản trị và kế toán tài chính (KTTC)
Cùng với sự phát triển của khoa học quản lý nói chung, kế toán nói
riêng để đáp ứng các yêu cầu quản lý hoạt động SXKD của các doanh nghiệp
trong việc cung cấp thông tin cho việc ra quyết định của các nhà quản lý ở các
cấp độ khác nhau phù hợp với mục đích sử dụng thông tin, hệ thống kế toán
doanh nghiệp đã chia tách thành KTQT và KTTC.
Kế toán tài chính là khoa học, thu nhận xử lý, tổng hợp thông tin về
tình hình tài sản, sự vận động tài sản trong quá trình hoạt động SXKD của
doanh nghiệp phục vụ cho việc lập hệ thống báo cáo tài chính và cung cấp
thông tin cho việc ra quyết định của các đối tượng sử dụng thông tin phù hợp
với yêu cầu, chức năng quản lý và mục đích sử dụng thông tin của các đối
tượng sử dụng ngoài doanh nghiệp.
Kế toán quản trị là khoa học, là công việc thu nhận, xử lý và cung cấp
thông tin về tình hình tài sản, sự vận động tài sản trong quá trình hoạt động
SXKD một cách chi tiết, cụ thể theo yêu cầu quản lý phục vụ cho việc ra
quyết định quản lý của các nhà quản trị doanh nghiệp.
* Kế toán với tư cách vừa là môn khoa học xã hội vừa là một nghề ngành kỹ thuật về tổ chức quản lý do vậy cũng cần có sự nhận thức một cách
đầy đủ đối với kế toán ở góc độ là một nghề.
Do vậy ngoài những khái niệm về kế toán đã nêu trên, với tư cách là
đối tượng, các nghiệp vụ cần quản lý một cách chi tiết cụ thể trên các tải
khoản, sổ kế toán chi tiết. Kế toán chi tiết có thể sử dụng các loại thước đo
hiện vật, thước đo lao động và thước đo giá trị tùy theo yêu cầu quản lý. Vậy
xuất phát từ yêu cầu quản lý, chỉ một số đối tượng kế toán mới cần thiết phải
ghi chép, phản ánh chi tiết. Điều đáng lưu ý là số liệu chi tiết của đối tượng kế
toán phản ánh trên các tài khoản, sổ kế toán chi tiết phải khớp đúng với số
liệu của đối tượng kế toán đó trên tài khoản, sổ kế toán tổng hợp.
8
Như vậy giữa kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết có mối quan hệ chặt
chẽ với nhau về thời gian ghi chép phản ánh, về tính thống nhất của số liệu
trên cùng cơ sở nền tảng là các chứng từ ghi chép ban đầu.
Tuy nhiên cũng cần thấy sự khác biệt giữa kế toán tổng hợp và kế toán
chi tiết với kế toán quản trị, đồng thời cũng nhận thức được mối quan hệ nhất
định giữa kế toán chi tiết và kế toán quản trị ở những số liệu chi tiết về những
đối tượng tượng kế toán cụ thể.
Kế toán tổng hợp là việc ghi chép, phản ánh một cách tổng hợp, khái
quát trên các TK, sổ kế toán tổng hợp và báo cáo tài chính theo chỉ tiêu giá trị.
Kế toán chi tiết là việc ghi chép, phản ánh một cách chi tiết, cụ thể các
đối tượng, các nghiệp vụ cần quản lý một cách chi tiết cụ thể trên các tài
khoản, sổ kế toán chi tiết. Kế toán chi tiết có thể sử dụng các loại thước đo
hiện vật, thước đo lao động và thước đo giá trị tùy theo yêu cầu quản lý. Vậy
xuất phát từ yêu cầu quản lý, chỉ một số đối tượng kế toán mới cần thiết phải
ghi chép, phản ánh chi tiết. Điều đáng lưu ý là số liệu chi tiết của đối tượng kế
toán phản ánh trên các tài khoản, số kế toán chi tiết phải khớp đúng với số
liệu của đối tượng kế toán đó trên tài khoản, sổ kế toán tổng hợp.
Như vậy giữa kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết có mối quan hệ chặt
chẽ với nhau về thời gian ghi chép phản ánh, về tính thống nhất của số liệu
loại kế toán cần thiết cho quản trị doanh nghiệp - đó là KTQT.
Mặc dù, thông tin KTQT cung cấp xuất phát từ yêu cầu quản lý của
các nhà quản trị doanh nghiệp và việc ghi chép kế toán quản trị có tính độc
lập và không hoàn toàn tuân thủ theo các nguyên tắc, chuẩn mực, văn bản quy
định của Nhà nước về kế toán, xong cần thiết phải có các tài liệu hướng dẫn
tổ chức KTQT cho các doanh nghiệp. Hiện nay chúng ta cũng chưa có những
tài liệu hướng dẫn này.
Cùng với sự nhận thức chưa đầy đủ ở góc độ lý luận về KTQT trên
thực tế các nhà quản trị doanh nghiệp cũng không thấy rõ được vai trò của
KTQT trong công tác quản lý doanh nghiệp. Có thể, có rất nhiều doanh
nghiệp thực, chấp hành tốt các chính sách chế độ quản lý kinh tế tài chính nói
chung, các chế độ, thể lệ kế toán do Nhà nước quy định nói riêng, thực hiện
tốt các quy định về hệ thống báo cáo tài chính, xong họ không thấy được tác
dụng to lớn của những thông tin phục vụ cho việc ra quyết định, để điều hành,
quản lý hoạt động SXKD một cách kịp thời, hiệu quả, mà những thông tin đó
10
không phải là những thông tin trình bày trên các báo cáo tài chính. Điều này
cũng có thể do sự nhận thức về yêu cầu quản lý, sự kết hợp hài hòa giữa yêu
cầu quản lý vĩ mô và vi mô của doanh nghiệp.
Một vấn đề quan trọng đặt ra đối với các nhà quản trị doanh nghiệp là
phải xác định được mục tiêu,yêu cầu quản trị doanh nghiệp và từ mục tiêu,
yêu cầu đó mà xác định những thông tin cần thiết phục vụ cho việc ra quyết
định. Nếu không xác định rõ được mục tiêu, yêu cầu quản trị doanh nghiệp thì
việc tổ chức KTQT để cung cấp thông tin sẽ không hiện thực ở các doanh nghiệp.
Từ những vấn đề nêu trên khẳng định sự cần thiết phải xây dựng mô
hình tổ chức KTQT ở các doanh nghiệp với những nội dung cụ thể, để tổ chức
thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin phục vụ cho việc ra quyết định của các
1.3.2. Căn cứ vào mối quan hệ giữa vai trò và chức năng của KTQT
với quá trình và chức năng của hoạt động quản lý, nội dung của kế toán
quản trị bao gồm:
- Phân loại chi phí và giá thành sản phẩm
- Thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin phục vụ cho việc ra quyết
định kinh doanh.
- Phân tích thông tin, nêu ý kiến đề xuất, tư vấn cho các nhà quản trị.
- Tham gia lập dự toán SXKD.
1.4. Tổ chức công tác kế toán quản trị trong doanh nghiệp
1.4.1. Các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức công tác kế toán quản trị
trong các doanh nghiệp
1.4.1.1. Ảnh hưởng của loại hình kế toán áp dụng: (Việc xây dựng các
quy định kế toán nhằm đạt được mục đích xác định) đối với tổ chức công tác
kế toán quản trị
Nghiên cứu việc thực hành kế toán của các nước khác nhau cho phép
phân biệt chủ yếu 6 loại hình kế toán cơ bản, đó là:
- Kế toán quỹ
- Kế toán tĩnh
- Kế toán động
12
- Kế toán kinh tế vĩ mô
- Kế toán hiện tại hóa
Trong 6 loại hình kế toán cơ bản trên, kế toán tĩnh và kế toán động
thường được coi là cốt lõi để xây dựng mô hình kế toán doanh nghiệp của các
Quốc gia trong quan hệ kết hợp với các đặc điểm của kế toán thuế và kế toán
vĩ mô.
Kế toán tĩnh: Mục tiêu là kiểm tra xem tại một thời điểm nào đó việc
thực hiện các tài sản có cho phép trả nợ hay không, nguyên tắc nền tảng là
- Kế toán phân tích: Kế toán bí mật, phi pháp quy là kế toán động, sự
đối lập giữa kế toán tổng quát và kế toán phân tích hầu như không được giải thích.
Do đó tạo nên chế độ kế toán nhị nguyên (Nhị nguyên chính thống),
chế độ này tách kế toán chi phí khỏi bộ phận kế toán còn lại, nếu chỉ có số
liệu của kế toán tổng quát (Kế toán tĩnh, phục vụ tính thuế) thì không thể có
số liệu về kết quả "động" của kế toán phân tích. Người ta cho phép giữ bí mật
kinh doanh thể hiện ở tính "Tự do" của kế toán chi phí, còn các phần kế toán
còn lại được chuẩn hóa phục vụ cho mục đích kiểm soát thuế. Công chúng chỉ
có thể biết được chi phí theo bản chất (Theo nội dung kinh tế) gắn liền kế toán
tổng quát, còn các chi phí theo chức năng và các loại chi phí khác gắn liền kế
toán phân tích (Kế toán động) thì không có được.
Như vậy, cả kế toán quản trị của các nước kế toán ANGLOSAXON
và kế toán phân tích của khối theo kế toán truyền thống Pháp đều là kiểu kế
toán động và thuộc thẩm quyền của doanh nghiệp.
Còn phần kế toán tài chính, hoặc kế toán tổng quát (Kế toán chính
thống, pháp quy) được lựa chọn theo loại hình kế toán nào là tùy thuộc vào
cách thức điều tiết kinh tế mà chủ yếu là hình thức kiểm soát kinh tế của từng
quốc gia. Việc lựa chọn một loại hình kế toán chủ đạo sẽ ảnh hưởng đến tổ
chức kế toán và việc giảng dạy kế toán. Việt Nam hiện nay tổ chức kế toán tài
chính theo kiểu kế toán động sẽ tổ chức kế toán theo kiểu "Nhất nguyên
chính thống".
1.4.1.2. Ảnh hưởng của tính chất loại hình kinh doanh, quy mô, phạm
vi hoạt động của từng doanh nghiệp đối với tổ chức công tác kế toán quản trị
- Tính chất loại hình kinh doanh là doanh nghiệp sản xuất hay doanh
nghiệp thương mại, ảnh hưởng rất lớn đến tổ chức kế toán quản trị của doanh
14
nghiệp. Kế toán quản trị phản ánh quá trình chi phí trong hoạt động của doanh
Nếu quy trình công nghệ sản xuất giản đơn thì toàn bộ quy trình sẽ
không thể chia nhỏ làm nhiều công đoạn, do đó chi phí sản xuất chỉ có thể tập
hợp chung cho toàn bộ quy trình công nghệ sản phẩm và sẽ tính giá thành cho
sản phẩm đã hoàn thành ở cuối quy trình sản xuất đó.
Nếu quy trình công nghệ sản xuất phức tạp thì toàn bộ quy trình công
nghệ có thể chia nhỏ thành nhiều giai đoạn công nghệ
+ Trường hợp các giai đoạn công nghệ chế biến liên tiếp theo một quy
trình nhất định, được gọi là quy trình công nghệ sản xuất phức tạp kiểu liên
tục, kết thúc mỗi giai đoạn công nghệ tạo ra nửa thành phẩm, nửa thành phẩm
tạo ra từ giai đoạn công nghệ trước chủ yếu chuyển giai đoạn sau tiếp tục chế
biến, tuần tự như vậy cho đến giai đoạn công nghệ cuối cùng mới tạo ra thành
phẩm. Trong trường hợp này đòi hỏi phải thu nhận, xử lý và cung cấp thông
tin về chi phí sản xuất của từng giai đoạn công nghệ, ngoài chỉ tiêu giá thành
thành phẩm còn có thể cung cấp các chỉ tiêu giá thành nửa thành phẩm.
+ Trường hợp các giai đoạn công nghệ được bố trí song song đồng bộ
với nhau, mỗi giai đoạn công nghệ tạo ra một bộ phận, chi tiết của sản phẩm,
cuối cùng mới thực hiện lắp ráp thành một sản phẩm hoàn chỉnh (thành
phẩm). Trong trường hợp này kế toán cần phải thu nhận, xử lý và cung cấp
thông tin về chi phí sản xuất từng giai đoạn công nghệ, giá thành thành phẩm,
ngoài ra còn có thể phải cung cấp cả chỉ tiêu giá thành của từng bộ phận, chi
tiết sản phẩm.
Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm chi phối rất lớn đến
đặc điểm và tổ chức sản xuất và quản lý kinh doanh của từng doanh nghiệp.
b) Đặc điểm về tổ chức sản xuất và quản lý kinh doanh
- Về tổ chức sản xuất
Nếu địa bàn hoạt động của doanh nghiệp không phân tán thì tùy thuộc
vào đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất, có thể tổ chức sản xuất phù hợp,
trường hợp quy trình công nghệ sản xuất phức tạp thì mỗi giai đoạn công
nghệ có thể được tổ chức thành một phân xưởng.
nhuận của từng trung tâm. Đồng thời xác định chi phí và mức độ ảnh hưởng
của chi phí tới các bộ phận, tùy theo yêu cầu quản lý mà xác định. Giá phí
theo phương pháp toàn bộ hay theo cách ứng xử của chi phí.
c) Tính chất (loại hình) sản xuất sản phẩm
17
- Nếu sản xuất đơn chiếc, hoặc sản xuất hàng loạt với khối lượng nhỏ
theo đơn đặt hàng của khách hàng: Loại sản phẩm này thường có giá trị cao,
có kích thước lớn, được đặt mua trước khi sản xuất. Trong trường hợp này
cần thiết thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin về chi phí sản xuất và giá
thành sản phẩm của từng sản phẩm đơn chiếc, từng đơn đặt hàng đặc biệt.
- Nếu sản xuất hàng loạt sản phẩm với khối lượng lớn, sản phẩm này
được sản xuất đại trà đồng loạt, đồng nhất, được đặt mua sau khi sản xuất
trong trường hợp này kế toán thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin về chi phí
sản xuất và giá thành sản phẩm của từng công đoạn, từng bộ phận sản xuất
cũng như của toàn bộ quy trình công nghệ.
Theo tính chất sản xuất sản phẩm để kế toán lựa chọn phương pháp
tập hợp, phân bố, phân tích chi phí và tính giá thành sản phẩm phù hợp. Đối
với sản xuất đơn chiếc hoặc hàng loạt nhỏ theo đơn đặt hàng, kế toán sử dụng
phương pháp tập hợp chi phí và tính giá thành theo công việc. Đối với sản
xuất đại trà hàng loạt với khi lượng lớn, kế toán sử dụng phương pháp tập hợp
chi phí và tính giá thành theo quá trình sản xuất.
d) Yêu cầu và trình độ quản lý
Tùy thuộc vào yêu cầu hạch toán kinh tế, nhu cầu thông tin trong quản
lý cũng như trình độ hạch toán kinh tế và quản lý kinh tế của doanh nghiệp,
phối hợp chuyên môn giữa các bộ phận khác nhau có liên quan cho công tác
thu thập số liệu, sử dụng số liệu để cùng tham gia nhận định, đánh giá các kết
quả phân tích đạt được, từ đó làm cơ sở ra quyết định. Thông tin của kế toán
+ Thu nhận thông tin tương lai: Kế toán quản trị thu nhận và cung cấp
thông tin tương lai bằng cách xây dựng kế toán chi phí, giá thành, lợi nhuận
đồng thời xây dựng hệ thống định mức chi phí, dự toán chi phí sản xuất kinh
doanh, giúp cho khả năng dự toán tương lai và khả năng điều hành sản xuất
kinh doanh có hiệu quả cho nhà quản trị.
- Tổ chức phân tích thông tin:
+ Tổ chức phân tích thông tin quá khứ: Căn cứ vào thông tin quá khứ
và thông tin tương lai đã thu nhập được, kế toán tiến hành so sánh phân tích
tình hình thực hiện kế hoạch, thực hiện dự toán chi phí sản xuất kinh doanh.
Thông qua phân tích thông tin quá khứ, có thể xác định được từng nhân tố,
nguyên nhân ảnh hưởng, từ đó nhà quản trị đưa ra những giải pháp khắc phục
19
những tồn tại, khai thác khả năng tiềm tàng để sử dụng các nguồn lực của
doanh nghiệp hiệu quả hơn.
+ Tổ chức phân tích thông tin tương lai, cung cấp thông tin để tư vấn
cho nhà quản trị.
Kế toán quản trị đặc biệt quan tâm tới phân tích mối quan hệ chi phí khối lượng - lợi nhuận, phân tích điểm hòa vốn, phục vụ cho ra quyết định
ngắn hạn như: Quyết định tiếp tục hay chấm dứt sản xuất kinh doanh một bộ
phận, quyết định tư sản xuất hay mua ngoài, quyết định bán ngay nửa thành
phẩm hay sản xuất thành phẩm rồi mới bán, quyết định trong điều kiện năng
lực sản xuất kinh doanh bị giới hạn, quyết định chấp nhận một đơn đặt hàng
hay không.
Bên cạnh đó, kế toán còn cung cấp, phân tích thông tin bằng những
phương pháp nhất định để giúp nhà quản trị ra quyết định dài hạn, lựa chọn
dự án đầu tư.
1.4.2.2. Nội dung tổ chức kế toán quản trị theo khâu công việc trong
quá trình kế toán
phí với quy trình công nghệ... đồng thời phục vụ cho việc lập các báo cáo
kiểm soát, đánh giá từng bộ phận.
- Tính giá và lập báo cáo kế toán quản trị:
Kế toán quản trị cũng phải tuân thủ những nguyên tắc và trình tự tính
giá các đối tượng trong quá trình thu nhận thông tin quá khứ như kế toán tài
chính. Tuy nhiên, do mục đích riêng của kế toán quản trị nên nguyên tắc và
trình tự tính giá trong những trường hợp đặc biệt mang tính đặc thù, đặc biệt
đối với chi phí - giá thành, dưới góc độ dự toán, quản lý và kiểm soát chi phí
thì chi phí thường được chia thành biến phí và định phí để phân tích điểm hòa
vốn, phân tích mối quan hệ chi phí - khối lượng - lợi nhuận, phân tích đánh
giá báo cáo thu nhập bộ phận, ... đồng thời tùy theo yêu cầu và mức độ quản
lý để tính giá theo phương pháp định phí toàn bộ, hay theo biến phí, hay theo
biến phí có phân bổ hợp lý định phí.
Trên cơ sở toàn bộ thông tin đã tập hợp trong nội bộ doanh nghiệp,
thiết lập hệ thống báo cáo kế toán nội bộ gồm các báo cáo nhanh, báo cáo
định kỳ, báo cáo đột xuất,... ngoài tổng hợp cân đối số liệu từ các sổ sách kế
toán, kế toán quản trị còn sử dụng kỹ thuật thống kê, phương pháp toán... để
phân tích các chỉ tiêu thực hiện mục tiêu quản lý doanh nghiệp, giúp cho nhà
quản trị ra quyết định đúng đắn, hiệu quả hơn.
21
1.5. Tổ chức bộ máy kế toán
Giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị có quan hệ chặt chẽ với
nhau. Tuy nhiên, hai loại kế toán này cũng có tính độc lập tương đối. Vì vậy,
trong quá trình tổ chức bộ máy kế toán cần phải xuất phát từ đặc điểm cụ thể
của doanh nghiệp để tổ chức hợp lý nắm đáp ứng được yêu cầu quản trị.
Dưới đây nghiên cứu hai mô hình cụ thể.
1.5.1. Mô hình kết hợp giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị
được dự toán
+ Cung cấp số liệu cho việc lập báo cáo quản trị.
Kế toán tài
chính
- Ghi sổ
tổng hợp
- Ghi sổ chi
tiết
Xử lý số
liệu tổng
Lập báo cáo
tài chính
(các chỉ tiêu
liên quan)
hợp
- Lập các
dự toán
Lập báo cáo
- Ghi chép
quản trị (các
Kế toán
Xử lý số
số liệu theo
chỉ tiêu liên
quản trị
từng chỉ
tiêu chi phí và giá thành.
- Kế toán quản trị chi phí và giá thành căn cứ vào yêu cầu quản lý cụ
thể để thực hiện các công việc sau đây:
+ Lựa chọn phương pháp tập hợp chi phí, lập dự toán chi phí sản xuất
kinh doanh theo từng sản phẩm, chi tiết sản phẩm.
+ Phân loại chi phí sản xuất theo tiêu chuẩn phân loại phù hợp với yêu
cầu quản trị.
+ Lựa chọn tiêu chuẩn phân bố chi phí và tính toán phân bổ chi phí
các đối tượng chịu chi phí.
+ Lập kế hoạch giá thành theo công việc, theo địa điểm kinh doanh...
+ Mở sổ kế toán thu thập, ghi chép cụ thể, chi tiết các số liệu liên quan
đến tính toán giá thành sản phẩm theo yêu cầu quản trị.
* Các bộ phận kế toán thuộc mô hình này có quan hệ chặt chẽ với
nhau trong việc cung cấp thông tin, số liệu phục vụ yêu cầu kế toán tài chính
và kế toán quản trị cũng như các yêu cầu quản trị của nhà quản lý. Cụ thể là:
- Bộ phận kế toán vốn bằng tiền và thanh toán, cung cấp thông tin về
các loại tiền hiện có và tình hình thanh toán công nợ theo từng chủ nợ, khả
năng thanh toán hiện hành và thanh toán nhanh. Trên cơ sở đó nhà quản lý
nắm chắc tình hình tài chính thực tế của doanh nghiệp. Các thông tin này
24
được sử dụng để quyết định mua hàng, tài sản cố định và vật tư, đồng thời
xem xét tình hình chi phí bởi các số liệu được cung cấp từ bộ phận kế toán tài
sản cố định, vật tư, kế toán chi phí và giá thành sản phẩm.
- Bộ phận kế toán nguồn vốn
+ Phân tích chi phí và giá thành.
+ Cung cấp số liệu cho việc lập báo cáo quản trị về các chỉ tiêu liên
quan đến chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm...