Tài liệu KẾT QUẢ XÂY DỰNG MÔ HÌNH SẢN XUẤT RÔ PHI HÀNG HOÁ - Pdf 99


1

KẾT QUẢ XÂY DỰNG MÔ HÌNH SẢN XUẤT RÔ PHI HÀNG HOÁ
TẬP TRUNG DỰA TRÊN CƠ SỞ CỦA CÁC NÔNG HỘ NHỎ
CÁ BIỆT TẠI HẢI DƯƠNG

Nguyễn Huy Điền
Trung tâm khuyến ngư Quốc gia Đánh giá chung về công nghệ sản xuất cá rô phi, chúng ta đã có công
nghệ sản xuất con giống đơn giới tính, chúng ta đã có công nghệ nuôi cá rô phi
đạt tiêu chuẩn thương phẩm với năng suất 23-26 tấn/ha/vụ. Dòng cá rô phi của
chúng ta có chất lượng tương đối tốt, có thể làm cơ sở cho việc tạo ra con giống
tốt cho nuôi trồng. Các tỉnh phía bắc, đặc biệt vùng đồng bằng sông Hồng có
diện tích ao hồ khá lớn thích hợp cho nuôi cá rô phi.
Tuy vậy chúng ta thấy rằng, hiện nay chưa có một nơi nào ở miền Bắc
sản xuất được một lượng đáng kể cá rô phi để phục vụ cho thị trường trong
ngoài nước. Điều này ta thấy khi phân tích hàng loạt vấn đề mà đó là những
nguyên nhân cản trở việc sản xuất tập trung cá rô phi. Trước hết, ở miền Bắc,
phần lớn quy mô nuôi thuỷ sản là quy mô gia đinh với di
ện tích ao từ 300-
1500m2, phân tán, có mùa đông lạnh đòi hỏi cung cấp giống tập trung, đầu vụ.
Cho tới nay, chưa có một giải pháp quản lí, tổ chức, công nghệ nào được xây
dựng,triển khai để khắc phục những khó khăn, tận dụng lợi thế nhằm tạo ra
lượng hàng hoá có giá trị tập trung.
Mặc dầu chúng ta có một vài mô hình, nhưng các giải pháp của mô hình
sản xuất hàng hoá tập trung dựa trên cơ sở
của các nông hộ nhỏ cá biệt của một
vùng, thí dụ như trong việc quản lí sản xuất và thả con giống ra sao để việc thu
Trỏch nhim ca Ban ch o cp tnh
-Ch o chung
-L u mi liờn h gia cỏc c quan chc nng trong tnh, cỏc c quan trung
ng huy ng mi ngun lc thc hin ỳng tin k hoch.
-L u mi tip cn th trng, tỡm gii phỏp h tr nụng dõn tip cn th
trng v tiờu th sn phm.
Ban chỉ đạo
cấp huyện
Ban chỉ đạo
cấp x
Nhóm sản
xuất rô phi
Hộ nông dân
nuôi cá
Hộ nông dân
nuôi cá
Hộ nông dân
nuôi cá
Nhóm cán bộ
t vấn kỹ thuật
Ban CN
đề tài
Ban ch o ca Tnh

4
-Trực tiếp trợ giúp hoạt động của Ban chỉ đạo huyện,chỉ đạo nhóm cán bộ kỹ
thuật, cán bộ khuyến ngư.
-Lập ra kế hoạch sản xuất chi tiết cho các nhóm, chỉ đạo và quản lý hoạt động

-Liên hệ thường xuyên với nhóm chỉ đạo huyện để huy động sự giúp đỡ của cấp
huyện về mọi mặt kể cả tiền vốn tín dụng ưu đãi.
-CBKN xã chịu sự chỉ đạo về kỹ thuật của nhóm chuyên gia và cán bộ kỹ thuật,
nhóm chỉ đạo huyện
-Xây dựng và chỉ đạo thực hiện kế hoạch của các nhóm hỗ trợ nuôi cá rô phi
xuất khẩu với sự tham gia cộng đồng.

5
-Cùng với các trưởng nhóm hỗ trợ về mặt kỹ thuật, vốn vay cho các hộ nuôi cá
trong xã.
-Giám sát việc triển khai nuôi cá tại các nhóm sản xuất trong xã.Thường xuyên
kiểm tra tình hình nuôi cá trong xã, phát hiện kịp thời các vấn đề nảy sinh trong
quá trình nuôi cá, cùng nông dân xử lý hoặc báo cáo lên Ban chỉ đạo huyện,
nhóm CB kỹ thuật, Ban CN đề tài.
-Cùng cộng đồng các tổ chức xã hội trong xã duy trì và phát triển phong trào
nuôi cá rô phi tập trung trong xã sau khi kết thúc đề tài
Trách nhiệm của trưởng nhóm SX
-Trưởng nhóm SX là người nhiệt tình, có uy tín trong địa bàn được các thành
viên trong nhóm tín nhiệm bầu lên, giúp Ban chỉ đạo xã quản l ý sản xuất và
tiêu thụ theo kế hoạch và yêu cầu của đề tài.
-Tham gia điều tra nắm bắt tình hình nuôi trồng thuỷ sản tại địa bàn mình quản
lý.
-Vận động các thành viên tham gia và hưởng ứng phong trào nuôi cá rô phi xuất
khẩu.
-Cùng với cán bộ khuyến ngư xã hỗ trợ về mặt kỹ thuật cho các hộ nuôi cá trong
xã. Tuyên truyền giúp đỡ các hộ tuân thủ nghiêm ngặt các hướng dẫn kỹ thuật
nhằm đảm bảo năng suất và chất lượng sản phẩm
-Định kỳ tổ chức họp nhóm sản xuất, trao đổi kinh nghiệm nuôi cá.
- Tổ chức vận động các thành viên trong nhóm tương trợ giúp đỡ lẫn nhau trong
việc tẩy dọn, cải tạo ao và khi thu hoạch cá.

dụng các nguyên liệu có s
ẵn tại các địa phương và thay thế một phần bột cá
bằng protein thực vật, giảm protein tổng số, bổ sung aminoacid và axit béo cần
thiết, tăng thêm lipid, vitamin, khoáng, …nhằm làm tăng giá trị của thức ăn hỗn
hợp, giảm giá thành sản xuất là một hướng đi đang được các nhà dinh dưỡng và
các trang trại đặc biệt quan tâ
m. Khi sử dụng thức ăn có hàm lượng prôtêin thay
thế 30% khô đỗ tương thì cá rô phi cho tốc độ sinh trưởng là cao nhất. Hiệu quả
kinh tế đạt cao nhất khi sử dụng thức ăn tự chế có hàm lượng prôtêin thay thế
30% khô đỗ tương so với thức ăn tự chế có hàm lượng prôtêin thay thế là 40%
và 50% khô đỗ tương Sự sai khác về tốc độ sinh trưởng của cá rô phi khi sử
dụng các loại thức ăn tự
chế khác nhau đạt ý nghĩa thống kê ( P<0,05). Hệ số
thức ăn khi sử dụng các loại thức ăn tự chế khác nhau là giống nhau.Việc sử
dụng các loại thức ăn tự chế khác nhau không làm ảnh hưởng tới tỷ lệ sống của
cá rô phi.
Trên cơ sở điều tra về các nguồn nguyên liệu chế biến thức ăn của địa
phương, trong nước, mùa vụ, thành phầ
n dinh dưỡng. Cùng với việc xây dựng
xưởng chế biến thức ăn 200 - 400kg/giờ. Đã tiến hành sản xuất và cung cấp 300
tấn cho 563 hộ nông dân nuôi cá, trên cơ sở một số công thức chế biến thức ăn
tổng hợp đã được nghiên cứu thí nghiệm đánh giá hiệu quả của nó tới sinh
trưởng và môi trường nuôi cho nuôi cá rô phi xuất khẩu. Chất lượng và hiệu
quả của thức ă
n đề tài sản xuất tương đương với thức ăn Proconco, Cargill và
hơn hẳn Dragon.
Mô hình đã triển khai nghiên cứu hoàn thiện và phát triển công nghệ nuôi
cá rô phi đạt tiêu chuẩn xuất khẩu và áp dụng trên quy mô 563 hộ gia đình nông
dân với diện tích 75,4 ha. Kết quả thu được 955 tấn cá rô phi thương phẩm,
trọng lượng đạt > 500g/con. Năng suất nuôi đạt 12-15 tấn/ha, cao gấp 4-5 lần so

3 Phân bón Đạm 20kgx12 tuần 2500đ/kg 600.000
Lân 10kgx12 130 156.000
Vôi 200kgx12lần 500 đ/kg 1.200.000
4 Điện nước 1.000.000
5 Dụng cụ chuyên dùng 200.000
6 Công lao động 12 tháng 500.000đ/t 6.000.000
Tổng cộng 119.356.000
Thu từ bán cá rô phi 12.900 kg 15.000 193.500.000
Thu từ bán các sản phẩm khác
(tôm, cá khác thả tận dụng)
1.000.000

Lãi 72.144.000

Tổng lợi nhuận 2 năm đề tài mang
lại
75,4ha 72.144.000 5.439.657.600

* Nuôi Thâm canh
ST Khoản chi Số lượng Đơn giá
(ĐVN)
Thành tiền
(ĐVN)
1 Tiền mua cá giống 70.000 con 400 đ/con 28.000.000
2 Thức ăn tổng hợp 18 – 25% đạm
Hệ số thức ăn 1.7 kg/kg cá

44.137 kg

5.500 đ/kg 242.754.000

với sản xuất, đến với các hộ nông dân. Kết quả trên đã khắc phục được hiện
tượng nhiều đề tài nghiên cứu tốn kém chỉ để nghiệm thu, không ứng dụng
được vì còn khoả
ng cách giữa kết quả trong phòng thí nghiệm và thực tiễn sản
xuất. Củng cố niềm tin của nông dân đối với khoa học công nghệ. Qua hai năm
triển khai thực hiện đề tài theo mô hình quản lý trên thấy rằng tất cả các thành
phần đều tham gia quản lý cộng đồng từ việc điều tra đánh giá hiện trạng nuôi
trồng thuỷ sản của địa phương đến việc xây dựng kế ho
ạch sản xuất và giúp đỡ
tương trợ lẫn nhau trong quá trình nuôi cá rô phi. Các thành viên đều hoàn
thành trách nhiệm của mình được phân công, đặc biệt các hộ nông dân tham giá
đóng góp nhiều kinh nghiệm thực tiễn nuôi cá tại địa phương và những ý kiến
tổ chức phát triển sản xuất. Các hộ nông dân tham gia nghiên cứu đã liên kết
trong việc thả giống, giải quyết thức ăn và tiêu thụ sản phẩm theo nhưng quy
ước chung của nhóm như quyết đị
nh giá cả, ưu tiên những hộ có cá to hoặc
những hộ gia đình có khó khăn bán trước. Tóm lại, các vấn đề của nông dân
tham gia nghiên cứu liên quan đến kỹ thuật, quản lí của một mô hình sản xuất
hàng hoá tập trung là những vấn đề chưa có nghiên cứu nào trước đó, cũng như
chưa có nhiều tiền lệ và kinh nghiệm được truyền đạt lại. Mô hình nuôi cá rô
phi này đi vào thực tiễn của cuộc số
ng, có những đóng góp nhất định cho nuôi
trồng và xuất khẩu, làm mô hình cho sự phát triển nghiên cứu khoa học theo
hướng mới.

9
Hiệu quả xã hội: Tạo cho nông dân có thêm nghề mới, đó là " nghề nuôi cá rô
phi đơn tính xuất khẩu". Làm thay đổi tập quán sản xuất cũ: nuôi tận dụng,
quảng canh, chất lượng cá thịt thấp sang nuôi theo hướng nuôi công nghiệp, cá
thịt có giá trị cao. Đề tài đã giải quyết thêm việc làm cho 563 hộ gia đình với

lúc tiêu thụ cá để đảm bảo giữ giá ổn định, nâng cao hiệu quả sản xuất. Cá
giống và thức ăn cao đạm do đề tài cung cấp được nông dân rất tin tưởng.
Tiếp thu kết quả bước đầu thực hiện đề tài KC-06-22-NN, ngay từ năm
2004 UBND tỉnh H
ải Dương đã phê duyệt chương trình phát triển thuỷ sản tập
trung ở các vùng ruộng trũng mới chuyển đổi sang nuôi trồng thuỷ sản với đối
tượng chính là cá rô phi đơn tính. Trong 3 năm 2004-2006 Chương trình đã
triển khai nuôi cá rô phi tính mở rộng trên diện tích khoảng 100 ha ở các huyện
Ninh Giang, Thanh Miện, Kinh môn và Gia Lộc. Mô hình quản lý và quy trình

10
công nghệ được thực hiện theo tài liệu hướng dẫn của đề tài KC-06-22-NN.
Năng suất, chất lượng và hiệu quả của các dự án thực hiện ở các huyện nói trên
tương đương với kết quả thực hiện của đề tài KC-06-22-NN. Các hộ nông dân
sau khi tham gia thực hiện đề tài KC-06-22-NN, nhất là các xã thuộc huyện Tứ
Kỳ, Ninh Giang, Kinh Môn, Kim Thành, Thanh Miện và Gia Lộc luôn thực
hiện theo quy trình công nghệ thâm canh đã được tập hu
ấn, tính toán thời gian
thu hoạch và phối hợp chặt chẽ trong tổ liên gia, đảm bảo sản xuất với hiệu quả
cao.
Cơ sở sản xuất giống cá do đề tài đầu tư tại huyện Tứ Kỳ cùng với đội
ngũ công nhân trước đây làm hợp đồng lao động với Ban chủ nhiệm đề tài ngay
trong vụ đầu tiên sau khi được bàn giao Công ty giống cây trồng Hải Dương đã
tổ chức sản xuất được 2 triệu cá giống rô phi đơn tính bằng cơ sở vật chất kỹ
thuật của đề tài, cung cấp cho các hộ nông dân ở huyện Từ Kỳ và vùng lân cận.
Một số nông dân ở xã Minh Hoà đã tiếp thu được công nghệ nuôi cá rô phi đơn
tính giống để cung cấp giống cho các hộ nông dân trong xã và các xã lân cận.
Ngoài 100 ha thực hiện theo Chương trình nói trên, địa bàn tỉnh còn có
hàng ngàn hec-ta nuôi cá rô phi đơn tính thâm canh và nuôi ghép với các giống
cá truyền thống.

Đại học Nông nghiệp, S Phạm Ha nội, các học viên trong toàn quốc d
ự các lớp
tập huấn quản lí trại giống và kỹ thuật tại Viện Thuỷ sản I và các Huyện khác
trong tỉnh.
Đề tài sử dụng các phương pháp tiếp cận khác nhau trong tổ chức, quản lí đặc
biệt là phương pháp đồng quản lí để huy động tối đa sự tham gia nghiên cứu của
cộng đồng nông dân nuôi cá rô phi và quản lí chất lượng cá nuôi và môi trường.
. Những hiệu quả rõ rệt từ mô hình quản lý này và nhu c
ầu phát triển sản xuất
thuỷ sản đã tiếp tục duy trì khi kết thúc đề tài và nhiều xã tiến tới xây dựng nên
các hợp tác xã dịch vụ nuôi trồng thuỷ sản. Sở Khoa học- Công nghệ Hải Dương
đã và đang nhân rộng mô hình này tới huyện Kim Thành, Kinh Môn, Ninh
Giang và tất cả các huyện có tiềm năng nuôi trồng thuỷ sản trong tỉnh.

Đề xuất: Cần đẩy mạnh việc thực hiệ
n nghiên cứu các đề tài khoa học
với sự tham gia của cộng đồng nông/ngư dân, đồng thời các đề tài này cũng
triển khai tại các địa phương có nhu cầu thực tiễn khoa học công nghệ mà đề tài
tiến hành. Đó là giải pháp đẩy nhanh việc nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao
nhanh nhất kết quả nghiên cứu vào sản xuất. Tài liệu tham khảo
- Báo cáo tổng kết đề tài
- Nguyễn Huy Điền, Mô hình sản xuất rô phi hàng hoá tập trung dựa trên cơ sở của các
nông hộ nhỏ riêng lẻ tại Hải dương. Tạp chí thuỷ sản số 4/2006.
- Hà Bạch Đằng, "Tác động của đề tài KC.06.22.NN đến phát triển sản xuất sản xuất cá rô
phi đơn tính ở Hải dương". Tạp chí thuỷ sản số 7/2006.
- Uỷ Ban nhân dân huyện Tứ k
ỳ, " Nuôi cá rô phi xuất khẩu tại huyện Tứ kỳ tỉnh Hải


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status