Sử dụng Internet của sinh viên hiện nay Thực trạng, đánh giá và các nhân tố ảnh hưởng (Nghiên cứu trường hợp Học viện Báo chí và Tuyên truyền) - Pdf 39

1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, “toàn cầu hóa” trở thành một thuật ngữ được sử dụng phổ
biến và rộng rãi, bởi, quá trình toàn cầu hóa là một xu thế tất yếu khách quan,
nó diễn ra ở khắp mọi nơi và không loại trừ bất cứ lĩnh vực nào của đời sống
XH. Theo như cách nói của Thomas L.Friedman, thế giới của chúng ta đã trở
nên “phẳng”, chính quá trình toàn cầu hóa đã làm tăng khả năng liên kết các
quốc gia, các tổ chức và cá nhân trên thế giới với nhau, thế giới ngày nay đã,
đang và sẽ thống nhất, phụ thuộc vào nhau nhiều hơn. Và thực tế đã chỉ ra
rằng, thế giới đã trở thành ngôi nhà chung về thông tin. TTĐC là một trong
những lĩnh vực chịu ảnh hưởng rõ rệt nhất của tiến trình toàn cầu hóa. Tuy
nhiên, chính TTĐC cũng là tác nhân mạnh mẽ thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa,
giúp quá trình này diễn này ra thuận lợi, tạo điều kiện cho giao lưu văn hóa, tư
tưởng trên phạm vi thế giới, khiến nhân loại xích lại gần nhau hơn.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và quốc tế hóa hiện nay, nhu cầu nắm bắt
thông tin của con người ngày càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Việc tiếp
cận và sử dụng thông tin nói riêng và các phương tiện truyền thông nói chung
ngày càng đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển không chỉ của mỗi quốc
gia mà còn với mỗi cá nhân, gia đình và XH. Tại Việt nam, cùng với tốc độ
phát triển kinh tế XH, công nghiệp truyền thông cũng trên đà phát triển mạnh
mẽ và tăng trưởng vượt bậc. Sự tăng trưởng này không chỉ ở quy mô thị
trường mà cả về công nghệ với sự bùng nổ của rất nhiều loại hình, các kênh
truyền thông và các chương trình ngày càng đa dạng phong phú.
Hiện nay, nhu cầu tiếp nhận và tâm lý tiếp nhận thông tin của công
chúng Việt Nam đã có nhiều thay đổi. Thói quen và nhu cầu đọc báo giấy
giường như không có ở lớp tuổi trẻ thế hệ 8x trở lên, thậm chí cả 7x. Thay


2

3

cứu Internet để nắm bắt xu hướng và đón đầu xu hướng.
Trong báo cáo mới nhất của eMarketer chỉ ra rằng, ở Việt Nam 40%
lượng người truy cập trực tuyến có độ tuổi từ 15 đến 24 [57]. Điều này đặt ra
cho chúng ta một câu hỏi cần lý giải đó là: việc sử dụng Internet có mối liên hệ
như thế nào với đời sống của giới trẻ hiện nay? Đặc biệt, sinh viên là nhóm dân
số XH đặc thù, là các trí thức trẻ tuổi trong XH, họ là những người năng động và
nhạy bén nhất với sự phát triển của công nghệ, cũng như Internet. Nhận thấy
Internet có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống của sinh viên hiện nay, tác giả chọn
vấn đề: “Sử dụng Internet của sinh viên hiện nay: Thực trạng, đánh giá và các
nhân tố ảnh hưởng (Nghiên cứu trường hợp Học viện Báo chí và Tuyên truyền)”
làm đề tài luận văn thạc sỹ. Với mong muốn cung cấp những thông tin mới nhất,
những số liệu cập nhật nhất về thái độ, cách thức, mức độ sử dụng Internet của
sinh viên nói chung và sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền nói riêng,
đặc biệt đưa ra những đánh giá của chính sinh viên về tác động của Internet đến
một số hoạt động trong đời sống của các em, để từ đó đề xuất những định hướng
đúng đắn đối với việc sử dụng Internet sao cho Internet luôn là công cụ, người
bạn hữu ích của thanh niên nói chung và sinh viên nói riêng.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Những năm trở lại đây, khi truyền thông trở thành một ngành công
nghiệp với nguồn thu lợi khổng lồ thì tiêu điểm của giới nghiên cứu tập
trung vào việc tiếp cận, sử dụng phương tiện TTĐC. Là một bộ phận đang
phát triển không gì cưỡng lại được của TTĐC, Internet càng ngày càng
khẳng định tầm quan trọng trong đời sống XH loài người. Internet đóng vai
trò tích cực trong tất cả các lĩnh vực từ kinh tế, chính trị, XH tới văn hóa,
khoa học, giáo dục… tuy nhiên, trong giới nghiên cứu về TTĐC vẫn chưa
chú ý đúng mức tới Internet. Trong khuôn khổ của nghiên cứu này tác giả
sẽ khái lược tổng quan tình hình nghiên cứu TTĐC, đặc biệt là Internet trên
phạm vi thế giới và Việt Nam.

được nói đến như: J. Klapper (1960) với tác phẩm tiêu biểu “Tác động của
truyền thông đại chúng” ông đã đưa ra “Mô hình tác động tối thiểu” của


5

TTĐC [15]; Philip Breton và Serge Proulx (1996) trong Bùng nổ truyền thông
- Sự ra đời một ý thức hệ mới - một công trình được các tác giả coi là “một
cách nhìn mới đối với truyền thông” [2], Andy Ruddock với tác phẩm Hiểu
công chúng truyền thông xuất bản năm 2000 [25]; Pertti Alasuutari với Tư
duy lại công chúng truyền thông xuất bản năm 1999; Morely D. với Phân tích
công chúng truyền thông; E.P. Prôkhôrôp với cuốn Cơ sở lý luận của báo chí
(2001) được dùng làm giáo trình chuyên ngành báo chí ở Nga [21]…
Ngoài những nghiên cứu về công chúng truyền thông nói trên còn có
các nghiên cứu về xu hướng TTĐC thế giới. Hiệp hội báo chí các nước cũng
như các tổ chức truyền thông nổi tiếng như Nielsen,TNS, Kantar Media…
hàng năm đều có các nghiên cứu, thống kê, báo cáo về thực trạng phát triển,
xu hướng tiếp nhận báo chí của công chúng cùng với những phân tích và đánh
giá về công chúng truyền thông trên thế giới, châu lục hay quốc gia.
Cho đến cuối thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu về truyền thông vẫn chỉ
chú ý tới những phương tiện truyền thông truyền thống, bởi họ chưa sẵn sàng
cho việc thay đổi quan niệm đã được hình thành trong gần suốt thế kỷ XX về
TTĐC. Ban đầu, Internet chỉ được phát triển trong cộng đồng hẹp cho sinh
viên, các nhà khoa học và những người yêu thích nó. Đến những năm đầu của
thập niên 80, 90 của thế kỷ XX, Internet mới bắt đầu nhận được sự quan tâm từ
các nhà nghiên cứu.
Vào những năm đầu của thập niên 60, thế kỷ XX, Marshall MacLuhan
trong cuốn Understanding Media: The Extension of Man(1964) đã cho rằng
sự phát triển của các phương tiện truyền thông điện tử, kỷ nguyên “làng toàn
cầu” sẽ xuất hiện, trong đó loài người sẽ chuyển từ “chủ nghĩa cá nhân rời

tới các mối quan hệ giao tiếp của sinh viên ở trường Cao đẳng Rogationist)
được thực hiện bởi John Manuel C. Asilo, Justine Angeli P. Manlapig và
Jerremiah Josh R. Rementilla trong năm học 2009-2010 ở Philipine. Nghiên
cứu này hướng tới đối tượng sinh viên cùng những lời khuyên về việc nhận
thức tầm ảnh hưởng của MXH và cách sử dụng MXH một cách hiệu quả, hợp
lí cũng như việc cải thiện và xây dựng các mối quan hệ XH một cách thân


7

thiện, tốt đẹp từ các trang mạng này. [43]
Ngoài ra có thêm một nghiên cứu về MXH đó là “Impact of Social
networking websites on students life” (Tác động của các trang web mạng
XH tới đời sống của sinh viên) của Shahzad Khan. Trong nghiên cứu này
tập trung phân tích những tới tác động chủ yếu của MXH lên đối tượng SV.
[45]
Vì Internet có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển trên mọi lĩnh vực của
mỗi quốc gia, vì vậy chính phủ các nước hầu như đều đầu tư cho các cuộc
khảo sát và xuất bản sách trắng về Internet hàng năm. Ở cuốn sách đó là
những thông tin luôn được cập nhật, bổ sung nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý
và nắm bắt thông tin của công chúng.
Thực tế cho thấy, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, cách thức
nghiên cứu về TTĐC nói chung, cũng như nghiên cứu về thái độ, hành vi và
nhu cầu sử dụng của công chúng đối với Internet nói riêng, tác giả cho rằng
nghiên cứu truyền thông đã trở thành một chuyên ngành được học giả khắp
nơi trên thế giới quan tâm.Trên nền tảng đó, khi Internet - một phương tiện
TTĐC kiểu mới xuất hiện và phát triển ngày càng rực rỡ trong những năm gần
đây, thì Internet thực sự đã thu hút được sự chú ý của các nhà khoa học.
2.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
Dưới tác động của toàn cầu hóa, TTĐC Việt Nam trong những năm qua

một số trường ĐH, CĐ tại Hà Nội)” tác giả đã trình bày đặc điểm và những
vấn đề mang tính quy luật trong tâm lý tiếp nhận các sản phẩm báo chí của
thanh niên, sinh viên Việt Nam, đồng thời đưa ra những kiến nghị nhằm tăng
cường hiệu quả tiếp nhận sản phẩm báo chí của nhóm đối tượng công chúng
đặc thù này [8].
Khoa Xã hội học, Học viện Báo chí và Tuyên truyền cũng là một đơn
vị có nhiều đóng góp trong công tác nghiên cứu về công chúng TTĐC, với
một loạt những dẫn chứng tiêu biểu sau:
- Năm 2004, đề tài Thực trạng và nhu cầu tiếp cận TTĐC của sinh
viên Hà Nội tại 5 trường đại học ở Hà Nội với 200 sinh viên được triển khai.


9

Đây là một đề tài nghiên cứu với quy mô nhỏ kết hợp phương pháp định tính
và định lượng để tìm hiểu về hành vi của sinh viên đối với các ấn phẩm và
chương trình trên phương tiện TTĐC. Đề tài đã tổng hợp được những mong
muốn của sinh viên xem các kênh truyền hình, nội dung và các chương trình
truyền hình cụ thể [13].
- Năm 2006, đề tài “Sự tiếp cận với các phương tiện thông tin đại
chúng của người dân vùng Tây Bắc” được thực hiện nhằm nghiên cứu toàn diện
về thái độ, hành vi, nhu cầu và đánh giá một phần về hiệu quả truyền thông của 4
loại phương tiện TTĐC: truyền hình, phát thanh, báo in và Internet từ công
chúng [14].
- Trong năm 2009, cuốn “Truyền thông Việt Nam trong bối cảnh toàn
cầu hóa”, Nxb Dân trí (Lưu Hồng Minh chủ biên) là công trình tuyển tập các
bài nghiên cứu truyền thông của Khoa, đề cập rất nhiều đến các vấn đề nghiên
cứu liên quan đến nhu cầu tiếp cận, thực trạng tiếp cận, hiệu quả truyền thông
đối với công chúng. Trong đó có rất nhiều bài viết đề cập tới việc tiếp cận và sử
dụng Internet của người dân các vùng miền trong cả nước [17].

nghiên cứu khá nhạy bén mang tính chất chuyên môn cao về hình thức truyền
thông mới. Tuy nhiên, ở nghiên cứu này, tác giả chỉ sử dụng phương pháp
nghiên cứu định tính dựa trên phân tích tài liệu và phỏng vấn sâu. Thêm vào
đó, nghiên cứu được thực hiện khi ở Việt Nam mức độ sử dụng Internet chưa
cao và chưa đạt hiệu quả nên xem xét vấn đề trong thời điểm hiện tại có lẽ đã
có nhiều nội dung cần được làm mới.
Đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của Internet đến trẻ em” do Viện Xã hội
học tiến hành nhằm tìm hiểu những tác động của Internet với tư cách là phương
tiện truyền thông mới tới trẻ vị thành niên. Nghiên cứu chỉ ra ảnh hưởng tích cực
từ Internet như mang lại cơ hội mở mang kiến thức, học tập và giải trí cho trẻ,
đồng thời thông qua các hoạt động trên Internet, trẻ dần hoàn thiện bản thân, tính
tự giác, khả năng giao tiếp và hình thành nên những nhóm bạn bè trên mạng của


11

trẻ. Mặt khác nghiên cứu cũng chỉ ra rằng trẻ vị thành niên cũng đang đứng
trước nguy cơ bị quấy rầy bởi những điều không lành mạnh thấy được từ
Internet.
Tác giả Nguyễn Quý Thanh trong quá trình nghiên cứu về Internet đã có
bài viết “Internet và định hướng giá trị của sinh viên về tình dục trước hôn
nhân” đăng trên tạp chí xã hội học, số 2, năm 2006. Từ việc thực nghiệm
khảo sát trên 640 sinh viên trên quy mô tại 5 trường đại học ở Hà Nội và 5
trường đại học ở TP.HCMNguyễn Quý Thanh đã làm rõ nhu cầu và mục đích
của sinh viên khi sử dụng Internet. Cũng qua bài viết, tác giả nhấn mạnh đến
việc sử dụng Internet thường xuyên có ảnh hưởng đến định hướng giá trị của
sinh viên. Đồng thời cũng đưa ra nhận định về số lượng các nghiên cứu về tác
động của Internet đối với lối sống sinh viên vẫn còn nhiều hạn chế và chưa
nhiều [29, tr.46-56].
Tác giả Nguyễn Quý Thanh cùng nhóm tác giả Nguyễn Thị Vân Anh,

Internet…[32].
Cũng đề cập đến Internet trong mối liên hệ với đời sống của người dân,
đặc biệt của thanh niên, học sinh, sinh viên, có rất nhiều bài viết và các công
trình nghiên cứu của nhiều tác giả khác nhau như: tác giả Nguyễn Thị Hậu
với đề tài “Hiện tượng nghiện trò chơi trực tuyến”; Tác giả Nguyễn Trung
Hiếu với đề tài “Thói quen sử dụng Internet của thanh thiếu niên”; Tác giả
Cấn Thu Hồng với đề tài “Tác động của việc sử dụng các công cụ công nghệ
cao đến cách thức giao tiếp của học sinh trung học phổ thông”; Luận văn tốt
nghiệp của tác giả Phan Thị Mai Lan với đề tài“Tìm hiểu cộng đồng blog như
một môi trường xã hội hóa đối với học sinh phổ thông trung học”; Bùi Hoài
Sơn với cuốn “Ảnh hưởng của Internet đối với thanh niên Hà Nội”[26].
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Làm rõ thực trạng sử dụng Internet của sinh viên; đưa ra những đánh giá
của sinh viên về thực trạng sử dụng và những tác động của Internet tới đời sống


13

sinh viên hiện nay; đồng thời đề xuất những khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu
quả sử dụng Internet của sinh viên.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa và thao tác hóa các khái niệm và lý thuyết sử dụng trong
nghiên cứu.
- Trình bày thực trạng sử dụng Internet của sinh viên.
- Phân tích những đánh giá và nhận xét của sinh viên về Internet và
những tác động của Internet đến đời sống sinh viên hiện nay. Tìm hiểu và phân
tích, làm rõ những nhân tố đã ảnh hưởng đến việc sử dụng cũng như việc
đánh giá, nhận xét của sinh viên về việc sử dụng Internet hiện nay.
- Đưa ra những đề xuất, khuyến nghị đối với việc sử dụng Internet của

trước về tiếp cận TTĐC nói chung và Internet nói riêng:
+ Các đề tài khoa học, giáo trình, kỷ yếu, tài liệu hội thảo khoa học, bài
báo, tạp chí … liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
+ Các nghị quyết, văn kiện của Đảng và Nhà nước về TTĐC và Internet ở Việt
Nam
+ Sách trắng trong và ngoài nước
+ Các tài liệu thu thập từ mạng Internet
* Phỏng vấn sâu:
Phỏng vấn sâu 20 sinh viên học tập tại Học viện Báo chí và Tuyên
truyền. Đặt trọng tâm vào câu hỏi trải nghiệm cá nhân, về mục đích sử dụng
Internet của sinh viên. Đánh giá của sinh viên về những tác động của Internet
đến hoạt động học tập, hoạt động vui chơi giải trí, việc mở rộng mối quan hệ
XH, kiếm sống...
5.2.2 Nghiên cứu định lượng
Phương pháp này được tiến hành khảo sát với 300 bảng hỏi, dành để hỏi
300 sinh viên đang học tập tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền. Mẫu nghiên
cứu phải đảm bảo được lấy từ tất cả các năm học (từ năm thứ 1 đến năm thứ
4), và thuộc cả hai khối lý luận và khối nghiệp vụ.


15

5.2.3 Kỹ thuật xử lý thông tin
- Phần mềm SPSS 13.0 được áp dụng để xử lý số liệu định lượng.
- Phần mềm NVIVO 7.0 được áp dụng để phân tích các dữ liệu định tính.
5.3 Phương pháp chọn mẫu
5.3.1 Phương pháp chọn mẫu của nghiên cứu định lượng
Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân chùm: Đối với đề tài nghiên cứu
này, tác giả thực hiện chọn mẫu theo các bước như sau:
Bước 1: Lấy danh sách tất cả các lớp trong trường (137 lớp), mỗi lớp

Internet, về những tác động đến nhiều mặt trong đời sống nhiều mặt của các
em.
6.2. Khung lý thuyết
Điều kiện kinh tế - văn hóa - chính trị - xã hội
Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta

Đặc điểm nhân khẩu
học của người trả lời
Thực trạng sử dụng
Internet của sinh viên
Đặc điểm gia đình
của người trả lời

- Tần suất; thời
lượng truy cập;
- Phương tiện, địa
điểm truy cập;

Đặc điểm nhóm
bạn bè

- Mục đích,
dung truy cập

nội

Đánh giá của sinh
viên về Internet và
việc sử dụng Internet
hiện nay

trên 2 triệu đến 3triệu đồng; từ trên 3triệu đồng trở lên; không chu
cấp
- Đặc điểm nhóm bạn bè: số lượng bạn bè, số lượng bạn thân, kết bạn
trong nhà trường, kết bạn qua Internet
b. Biến trung gian:
- Thực trạng sử dụng Internet của sinh viên:
o

Tần suất truy cập

o

Thời lượng truy cập

o

Phương tiện truy cập

o

Địa điểm truy cập


18

o

Mục đích truy cập

o

-

Các chính sách của Đảng và Nhà nước

-

Thực trạng Internet tại Việt Nam

7. Điểm mới và ý nghĩa lý luận, thực tiễn của đề tài
7.1. Điểm mới của đề tài
Đề tài đi sâu phân tích những đánh giá của sinh viên về viêc sử dụng
Internet hiện nay. Đây là một trong những cách tiếp cận mới khi nghiên cứu về
Internet trong mối liên hệ với đời sống của sinh viên. Nghiên cứu về thực trạng
sử dụng Internet, về tác động của Internet đến hoạt động học tập, vui chơi giải
trí… của sinh viên đã có một số tác giả đề cập tới, nhưng những kết luận ở các
nghiên cứu đó mang hơi hướng cá nhân, dựa trên định hướng chủ quan của các
nhà nghiên cứu. Tại nghiên cứu này, các em sinh viên sẽ được đưa ra những
nhận định, quan điểm của bản thân mình về vai trò của Internet, về tác động
của Internet tới nhiều mặt trong đời sống của các em hiện nay.
7.2. Ý nghĩa lý luận
Thông qua việc nhận xét, đánh giá của chính sinh viên về thực trạng và


19

tác động của Internet đến đời sống của các em; nhận diện những yếu tố ảnh
hưởng đến việc sử dụng và đánh giá đó; tìm kiếm giải pháp cho sinh viên trong
việc sử dụng Internet một cách hiệu quả; đồng thời đề xuất những khuyến nghị
cho các cơ quan chức năng nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ Internet; bằng
cách phân tích tác động của môi trường kinh tế - xã hội làm biến đổi văn hoá

TTĐC); nghiên cứu thông điệp của truyền thông; nghiên cứu ảnh hưởng (hay
tác động) của TTĐC đối với đời sống XH; đặc biệt ngày nay giới nghiên cứu
chú trọng, đầu tư cho nghiên cứu việc tiếp cận, sử dụng phương tiện TTĐC.
Internet và sự phát triển lớn mạnh của mình có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với


21

mọi mặt của đời sống XH. Đặc biệt Internet và những vấn đề liên quan đến
nhóm công chúng trẻ, cụ thể là “sinh viên” - nhóm công chúng XH đặc thù là
một trong những nội dung cần được quan tâm và xem xét đúng mức. Chương 1
của luận văn sẽ khái lược một số vấn đề lý luận và thực tiễn xung quanh vấn đề
nghiên cứu, nhằm cung cấp những kiến thức nền tảng cho việc khảo sát và
phân tích ở các chương sau.
1.1.

Các khái niệm công cụ

1.1.1 Khái niệm truyền thông đại chúng
Nhiều nhà nghiên cứu đã cho rằng chính sự xuất hiện của tiếng nói và
ngôn ngữ cách đây hơn 36.000 năm đã là sự mở đầu vĩ đại nhất cho một cuộc
cách mạng về thông tin kéo dài suốt lịch sử của loài người. Từ khi chiếc máy
in đầu tiên ra đời vào thế kỷ thứ 15 đã tạo điều kiện cho sự ra đời của những
tờ báo in đầu tiên của nhân loại, và sau đó hàng loạt những tiến bộ khoa học
kỹ thuật đã làm biến đổi hệ thống thông tin một cách bền vững và phát triển
như ngày hôm nay. Cũng chính trên nền tảng đó, truyền thông đại chúng ở
Việt Nam nói riêng và trên toàn thế giới nói chung hiện nay đã có những bước
tiến vượt bậc. Vậy, truyền thông là gì, như thế nào được gọi là TTĐC, có sự
khác biệt gì giữ hai khái niệm TTĐC và phương tiện truyền thông đại chúng
là những câu hỏi sẽ được giải đáp dưới đây.

Quang xuất bản tháng 5/1997 định nghĩa như sau: Truyền thông là một dạng
hoạt động căn bản của bất cứ tổ chức nào mang tính XH. Trong XH loài người,
truyền thông là điều kiện tiên quyết để có thể hình thành nên một “XH” hoặc
“cộng đồng”. [22]
Vậy có thể nói một cách ngắn gọn rằng: Truyền thông là một quá trình
truyền đạt thông tin. Hay truyền thông là quá trình trao đổi, chia sẻ thông tin,
ý kiến, quan điểm, tình cảm giữa các cá nhân hay các nhóm người trong XH
nhằm đạt được sự hiểu biết lẫn nhau.
1.1.1.2 Truyền thông đại chúng


23

TTĐC là cụm từ hay thuật ngữ bắt đầu được sử dụng vào cuối những
năm 1930. Sự lớn mạnh và tác động sâu sắc của TTĐC đến XH loài người là
nguyên nhân khiến các nhà khoa học của nhiều chuyên ngành khác nhau đi
sâu vào tìm hiểu, nghiên cứu. Tùy vào việc cảm nhận và góc độ tiếp cận,
TTĐC đã được hiểu theo những cách khác nhau.
Nhìn từ bình diện giao tiếp, người ta cho rằng TTĐC là kênh giao tiếp
đại chúng với đặc trưng bản chất là nhiều người tham gia về những chủ đề mà
họ quan tâm, với tần suất ngày càng gia tăng.
Báo chí học: “TTĐC được hiểu là hệ thống các phương tiện truyền
thông hướng tác động vào đông đảo công chúng XH (nhân dân các vùng
miền, cả nước, khu vực hay cộng đồng quốc tế) nhằm thông tin, chia sẻ, lôi
kéo và tập hợp, giáo dục, thuyết phục và tổ chức đông đảo nhân dân tham gia
giải quyết các vấn đề kinh tế - văn hóa - XH đã và đang đặt ra.” Có thể nói
về phương diện Báo chí học đây là một định nghĩa nhấn mạnh đến mục đích
của TTĐC đến con người và XH. Định nghĩa cũng đã đề cập đến những thành
phần cơ bản cấu thành lên quá trình TTĐC [6].
Theo cuốn “Truyền thông đại chúng” của tác giả Tạ Ngọc Tấn, TTĐC

Vậy có thể nói, TTĐC chưa có một định nghĩa thống nhất dùng chung
cho tất cả các chuyên ngành, nhưng về cơ bản các định nghĩa đều đề cập tới 3
đối tượng chính là: Hoạt động truyền thông, các nhà truyền thông và đại
chúng (các tầng lớp công chúng rộng rãi).
1.1.1.3 Phân biệt TTĐC và phương tiện TTĐC
“Truyền thông đại chúng” và “Phương tiện truyền thông đại chúng” là hai
thuật ngữ cần được phân biệt để công chúng có cách nhìn chính xác. “Truyền
thông đại chúng” để chỉ một quá trình XH: quá trình truyền tải thông tin ra rộng
rãi công chúng, còn “Phương tiện truyền thông đại chúng” là những công cụ kỹ
thuật, là phương tiện hay là các “kênh” để thông qua đó thực hiện quá trình
truyền thông tới đại bộ phận công chúng. Sự phát triển của các phương tiện
TTĐC về mặt công nghệ và cả mặt XH là một trong những yếu tố cơ bản thúc


25

đẩy sự phát triển của TTĐC. Điều này đã được thực tế chứng minh trong những
thập kỉ trở lại đây.
1.1.2 Khái niệm Internet
Không giống như TTĐC, khái niệm về Internet (chữ viết tắt của
international network) được hiểu chung trên toàn cầu như sau: “Internet là
một mạng thông tin diện rộng, bao trùm toàn cầu, hình thành trên cơ sở kết
nối các máy tính điện tử với nhau với việc sử dụng bộ giao thức truyền
thông TCP/IP.”
Thuật ngữ Internet bắt đầu được sử dụng năm 1983 và đến nay đã phát
triển vượt xa tưởng tượng của loài người, đáp ứng rất nhiều nhu cầu khác
nhau của con người: gửi thư điện tử, các loại sách báo và tạp chí điện tử,
quảng cáo, học tập, dịch vụ mua bán…
Trước đây có rất nhiều cuộc tranh luận để xác định Internet có phải là
phương tiện TTĐC hay không? Mặc dù cuộc tranh luận ấy vẫn diễn ra và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status