TRƢỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
CƠ SỞ MIỀN TRUNG
KHOA QUẢN TRỊ VĂN PHÒNG
-------------
--------------
Ngô Thị Thanh Trà
TÌM HIỂU NHU CẦU SỬ DỤNG
INTERNET CỦA SINH VIÊN TRƢỜNG
ĐẠI HỌC HÀ NỘI CƠ SỞ MIỀN TRUNG
TIỂU LUẬN KHOA HỌC
NGÀNH: QUẢN TRỊ VĂN PHÒNG
LỚP: 1305QTVE
KHÓA: 2013-2017
Đà Nẵng, tháng 5 năm 2015
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
CƠ SỞ MIỀN TRUNG
KHOA QUẢN TRỊ VĂN PHÒNG
-------------
--------------
Ngô Thị Thanh Trà
TÌM HIỂU NHU CẦU SỬ DỤNG
2.1.1. Nhu cầu sử dụng Internet cho việc học tập của sinh viên ..................... 14
2.1.2. Nhu cầu sử dụng Internet của sinh viên cho việc giải trí ...................... 16
2.1.3. Nhu cầu sử dụng Internet cho việc tìm việc làm của sinh viên ............ 18
2.2. Vai trò của Internet đối với sinh viên hiện nay ....................................... 20
Chƣơng 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÚP SINH VIÊN SỬ DỤNG
INTERNET CÓ HIỆU QUẢ ............................................................................ 22
3.1. Những tác động tích cực và tiêu cực đối với đời sống học tập của sinh
viên ...................................................................................................................... 22
3.1.1. Tác động tích cực của Internet ................................................................ 22
3.1.2. Tác động tiêu cực của Internet ............................................................... 26
3.2. Giải pháp giúp cho sinh viên sử dụng Internet ngày càng có hiệu quả
trong học tập ...................................................................................................... 30
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 31
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................ 32
PHỤ LỤC ........................................................................................................... 33
LỜI CAM KẾT
Tôi xin cam kết toàn bộ nội dung của đề tài là kết quả nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả, số liệu trong đề tài là trung thực và hoàn toàn khách quan.
Người cam kết
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài này, ngoài sự nổ lực của bản thân, đó còn là công
sức của quý Thầy Cô.
Trước hết, người thực hiện xin chân thành cảm ơn đến tất cả các thầy
cô bộ môn đã tận tình truyền đạt những kiến thức vô cùng qúy báu và tạo mọi
NXB
Nhà xuất bản
QĐ- BNV
Quyết định- Bộ Nội vụ
TP.HCM
Thành phố Hồ Chí Minh
DANH MỤC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ
1. Bảng biểu
Bảng 2.1: Năm học và giới tính của sinh viên tham gia trả lời (n= 194) ........ 13
Bảng 2.2: Đánh giá của sinh viên về tầm quan trọng của Internet theo giới tính.
(n= 194)............................................................................................................. 20
Bảng 3.1: Đánh giá tác động tích cực của Internet đối với sinh viên (n= 194)
......................................................................................................................... ..23
Bảng 3.2: Đánh giá tác động tiêu cực của Internet đối với sinh viên.(n= 194) .....
................................................................................................................................26
2. Biểu đồ
Biểu đồ 2.1: Sinh viên truy cập mạng khi. (n= 194) ........................................ 13
Biểu đồ 2.2: Mạng giải trí trên Internet có đáp ứng được nhu cầu giải trí của
sinh viên. (n= 194) ............................................................................................ 20
bó chặt chẽ thân thiết với sinh viên và sự tham gia sử dụng Internet của sinh
viên ngày càng nhiều. Chính vì vậy, tác giả chọn đề tài: “Tìm hiểu nhu cầu sử
dụng Internet của sinh viên trường Đại học Nội vụ Hà Nội cơ sở miền Trung”
làm đề tài luận văn của mình.
2. Tình hình nguyên cứu
Việc sử dụng Internet đã được để tâm nguyên cứu từ những năm nay.
Theo sự hiểu biết và tìm hiểu thì đã có nhiều nhà nguyên cứu về lĩnh vực này,
tiêu biểu một số báo cáo, công trình nguyên cứu như sau:
- Phạm Hồng Tung “Văn hóa và lối sống của thanh niên Việt Nam trong bối
cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế”. Tạp chí Khoa học ĐHQGHN Khoa học
Xã hội và Nhân văn Hà Nội ,2008.
- Lê Thanh Bình “Truyền thông đại chúng và quản lý văn hóa đô thị”
cho trường hợp TP. HCM). Tạp chí xã hội học số 1, 2008
- Viện Văn Hóa- Hà Nội, Sưu tầm các chuyên đề: “Việc sử dụng
Internet ở Việt Nam hiện nay”.
- Theo VNE- E- commerce Times. “Mạng Internet: Thực trạng và
xu hướng”, 2004. Nhịp sống số. tuoitre.vn
- Nguyễn Bích- VTC “Internet và những tác động làm thay đổi tại Việt
Nam”, 2008.
“Thực trạng sử dụng Internet ở thanh, thiếu niên Việt Nam”, 2004.
Trang 2
Trên trang web chungta.com. Bài viết sử dụng phương pháp quan sát và phỏng
vấn một số đối tượng là thanh, thiếu niên và một vài giáo viên. Kết quả cho
thấy được Internet có vẻ như đã trở thành một phương tiện rất quen thuộc đối
với đông đảo thanh, thiếu niên nhất là ở các thành phố lớn, sự thiếu định hướng
trong việc sử dụng Internet để biết và thấy cần khai thác những mặt tích cực
của thế giới ảo. Đa số khách hàng ở các quán cafe Internet là thanh, thiếu niên
với mục đích vào Internet để chat (tán gẫu) và tình trạng truy cập Internet một
thông đại chúng, giao tiếp công cộng.
4. Đối tƣợng và phạm vi nguyên cứu
4.1. Đối tƣợng nguyên cứu
Nhu cầu sử dụng Internet của sinh viên hiện nay.
4.2. Phạm vi nguyên cứu
Đề tài chỉ dừng lại ở việc khảo sát nhu cầu sử dụng Internet của sinh viên
trường Đại học Nội vụ Hà Nội cơ sở miền Trung trong giai đoạn hiện nay.
5. Phƣơng pháp nguyên cứu
5.1. Phƣơng pháp nguyên cứu lý luận
Bằng cách áp dụng các lý thuyết đã được tìm hiểu và được học, người làm
đề tài đã phân tích, khái quát hóa các nội dung liên quan tới Internet.
5.2. Phƣơng pháp nguyên cứu thực tiễn
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi là phương pháp sử dụng bảng câu
hỏi dưới dạng viết và các câu trả lời tương ứng. Những thông tin định lượng
thông qua cách xử lý phân tổ, chỉ ra những mối quan hệ giữa biến độc lập và
Trang 4
biến phụ thuộc sẽ được tác giả đề tài sử dụng để mô tả toàn cảnh bức tranh về
thực trạng sử dụng Internet và nhu cầu sử dụng Internet của sinh viên, những
yếu tố tác dộng đến nhu cầu sử dụng Internet của sinh viên.
Biến số độc lập: Tuổi, giới tính, học vấn (ngành học và năm học) của
người tham gia trả lời.
Biến số phụ thuộc: Những yếu tác động đến nhu cầu sử dụng Internet của
sinh viên, những hiểu biết về tác động của Internet đối với sinh viên và xu
hướng sử dụng Internet của sinh viên thông qua người tham gia trả lời thể hiện
trong nội dung nghiên cứu.
Ngoài ra, nghiên cứu và phân tích các tài liệu có sẵn liên quan đến đề tài.
Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các nguồn chính sau: Các báo cáo và công
trình nghiên cứu trước đây và các tài liệu có sẵn được đăng tải trên báo, tạp chí
kinh tế trong nước và thế giới.[4]
Số lượng tên miền Tiếng Việt là 1.015.701 tên. Tỷ lệ tăng trưởng là 6.73%
và là quốc gia dẫn đầu Thế Giới về tốc độ tăng trưởng. Về địa chỉ Internet, tổng
lượng IPv4 quốc gia là 15.631.104 địa chỉ. Việt Nam tiếp tục là quốc gia có số
lượng địa chỉ IPv4 ở mức cao, đứng thứ 2 trong khu vực Đông Nam Á, thứ 8 châu
Á và thứ 26 trên thế giới.[4]
Trong lĩnh vực đăng ký sử dụng tài nguyên Internet, những năm gần đây,
Việt Nam gia tăng đáng kể các tổ chức có mạng lưới kết nối đa hướng, đăng ký
sử dụng số hiệu mạng ASN và vùng địa chỉ độc lập. Điều này thể hiện sự đa
Trang 6
dạng, phát triển trong mạng lưới hạ tầng thông tin với sự trưởng thành trong mạng
lưới người sử dụng, không hoàn toàn lệ thuộc vào mạng của các nhà cung cấp.
Dịch vụ Internet Việt Nam ngày càng đa dạng, phong phú. Các loại hình
dịch vụ kết nối tốc độ cao có mức độ tăng trưởng nhanh chóng. Những năm gần
đây, dịch vụ truy cập Internet qua hạ tầng di động 3G thể hiện sự tăng trưởng
vượt bậc do sự tiện lợi trong sử dụng. Tốc độ, kết nối internet trong nước và quốc
tế ngày càng nhanh, phục vụ đắc lực cho việc phát triển về người sử dụng, dịch
vụ.
Việt Nam đặt mục tiêu trở thành một trong 70 quốc gia có nền công nghệ
thông tin - viễn thông phát triển hàng đầu thế giới. Hạ tầng viễn thông đến năm
2015 sẽ phủ sóng di động băng rộng đến 70% cư dân trong cả nước,triển khai xây
dựng cáp quang đến hộ gia đình tại tất cả các khu đô thị mới; 20%-30% số hộ gia
đình có máy tính và internet băng thông rộng. Việt Nam cũng đặt mục tiêu đến
năm 2015 trở thành một trong 20 quốc gia cung cấp dịch vụ gia công phần mềm
và nội dung số hấp dẫn nhất thế giới. Các nhà chuyên môn cho rằng, tương lai của
nền kinh tế Internet Việt Nam là đạt 17%-20% GDP vào năm 2015 và từ 20%30% vào năm 2020.[4]
Theo Cục Viễn thông, cả nước hiện có 55 giấy phép cung cấp dịch vụ
internet cố định có hiệu lực (chỉ dành cho những doanh nghiệp cung cấp dịch vụ
Theo từ điển mở Wiktionnary, sinh viên là những người học ở các trường
cao đẳng và đại học.
1.1.2.3. Khái niệm Nhu cầu
Trang 8
Theo từ điển bách khoa toàn thư mở Wikipedia “Nhu cầu” là đòi hỏi,
mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và
phát triển. Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm
sinh lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau, là cảm giác thiếu hụt một cái gì
đó mà con người cảm nhận được. Nhu cầu là yếu tố thúc đẩy con người hoạt
động. Nhu cầu càng cấp bách thì khả năng chi phối con người càng cao. Về mặt
quản lý, kiểm soát được nhu cầu đồng nghĩa với việc có thể kiểm soát được cá
nhân (trong trường hợp này, nhận thức có sự chi phối nhất định: Nhận thức cao
sẽ có khả năng kiềm chế sự thoả mãn nhu cầu). Nhu cầu của một cá nhân, đa
dạng và vô tận. Về mặt quản lý, người quản lý chỉ kiểm soát những nhu cầu có
liên quan đến hiệu quả làm việc của cá nhân. Việc thoả mãn nhu cầu nào đó của
cá nhân đồng thời tạo ra một nhu cầu khác theo định hướng của nhà quản lý, do
đó người quản lý luôn có thể điều khiển được các cá nhân. Nhu cầu là tính chất
của cơ thể sống, biểu hiện trạng thái thiếu hụt của chính cá thể đó và do đó phân
biệt nó với môi trường sống. Nhu cầu tối thiểu hay còn gọi là nhu yếu đã được
lập trình qua quá trình rất lâu dài tồn tại, phát triển và tiến hóa.
Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam định nghĩa nhu cầu như sau:
Nhu cầu là sự phản ánh một cách khách quan các đòi hỏi về vật chất, tinh thần
và xã hội của đời sống con người phù hợp với trình độ phát triển kinh tế- xã hội
trong từng thời kì.
Nhu cầu hình thành và phát triển trong quá trình lịch sử. Mức độ nhu cầu
và phương thức thoả mãn nhu cầu về cơ bản phụ thuộc vào trình độ phát triển
của xã hội, trước hết là trình độ phát triển kinh tế. Nhu cầu là động lực mạnh mẽ
Nhà trường có kết nối mạng các máy tính ở các phòng máy vi tính; điều
đó tạo cho điều kiện cho sinh viên vừa tiếp thu tốt bài giảng vừa giúp sinh viên
tìm kiếm các tài liệu, cũng như tiếp xúc với Internet.
Bên cạnh đó, Wi- Fi được gắn tại các nơi cần thiết của sinh viên như: nhà
Hiệu bộ, Phòng đọc Thư viện, kí túc xá cho sinh viên.
1.2.2.2. Hạn chế
Với diện tích rộng của trường, việc tạo mọi nơi trong trường có thể kết
nối với Internet còn khó khăn.
Việc hướng dẫn sinh viên cách sử dụng Internet cho học tập chưa được
thực hiện.
Trang 11
Chƣơng 2
THỰC TRẠNG CỦA NHU CẦU SỬ DỤNG INTERNET Ở SINH VIÊN
HIỆN NAY
2.1. Thực trạng của nhu cầu sử dụng Internet ở sinh viên
Xu hướng toàn cầu hóa về công nghệ dẫn đến các phương tiện truyền
thông thay đổi và phát triển theo hướng công nghiệp hiện đại hơn, đáp ứng
nhu cầu hiểu biết của con người. Cùng với xu hướng đó, sự thay đổi trong
nền kinh tế Việt Nam hiện nay là thể hiện sự sôi động của nền kinh tế thị
trường, hội nhập để đáp ứng nhu cầu toàn cầu hóa. Đây là cơ hội để đất nước
ta hòa nhập vào thế giới nhất là thế hệ trẻ trong đó có sinh viên trường Đại học
Nội vụ Hà Nội cơ sở miền Trung. Với dung lượng mẫu trong điều tra bằng bảng
hỏi là 194 trường hợp.
Đối tượng cung cấp thông tin bao gồm 97 sinh viên nam và 97 sinh viên
nữ trong trường Đại học Nội vụ cơ sở miền Trung có tham gia sử dụng mạng
Internet. Số lượng mẫu được chọn đều trong một số khoa theo tiêu chí đề ra vừa
N
%
Năm 1
24
50.0
24
50.0
48
100.0
Năm 2
24
50.0
24
50.0
48
Tổng
97
50.0
97
50.0
194
100.0
Hầu hết các sinh viên đều sử dụng Internet không những dùng trên máy
tính mà còn trên smartphone- điện thoại có thể dùng Wi- Fi và mạng 3G. Điều
đó, Internet được sử dụng rất nhiều và nó chiếm vai trò rất quan trọng trong đời
sống của sinh viên.
Internet có vai trò rất quan trọng đối với sinh viên. Ngoài nhu cầu sử
dụng Internet cho việc giải trí, giao lưu nó còn là một kho tàng hữu hiệu cho họ
trong quá trình học tập trên giảng đường đại học, còn nhiều mục đích khác nữa
như giúp họ tìm kiếm việc làm thêm trong quá trình học cũng như đăng kí
tuyển dụng trên mạng để tìm được công việc thích hợp sau khi ra trường.
Trang 13
2.1.1. Nhu cầu sử dụng Internet cho việc học tập của sinh viên
Học tập luôn là nhiệm vụ hàng đầu của sinh viên trong giảng đường đại
học. Đối với sinh viên trước đây việc tìm hiểu những thông tin tài liệu cho các
Cần tài liệu
làm luận
văn, tiểu
luận
66
Tỷ lệ %
8.2
34
Giáo viên yêu
cầu
9 16
14 7.2
13 8.2
0
Học nhóm
Lúc nào rãnh
thì truy cập
Khác
được áp dụng trong cả nước. Đó là sinh viên đóng vai trò chính trong việc học
của mình, phải tự học, tự tìm kiếm và liên hệ những vấn đề mình học được, giáo
viên chỉ đóng vai trò là người hướng dẫn, định hướng cho sinh viên chứ không
còn “cầm tay chỉ việc” như trước kia nữa. Bằng cách yêu cầu sinh viên tự tìm
kiếm thông tin tài liệu cho môn học, làm những bài tiểu luận nhỏ giữa kì và cuối
kì…, hướng dẫn cho sinh viên cách làm và cung cấp Email của mình để sinh
viên có thể liên lạc khi sinh viên cần hỏi vấn đề nào đó. Do đó mà mức độ sinh
viên thường xuyên lên mạng để tìm kiếm những thông tin cho những hoạt động
đó là đương nhiên. Song bên cạnh đó, kĩ năng khai thác thông tin hay lựa chọn
các thông tin của sinh viên còn thấp, và kĩ năng “search” tài liệu chưa cao. Do
đó việc phổ cập và tạo điều kiện cho sinh viên có thể tham gia vào mạng
Internet trong lĩnh vực học tập là rất cần thiết. Đồng thời cần thay đổi cách giảng
dạy của trường để sinh viên có thể chủ động hơn trong việc tìm kiếm thông tin
học tập cho mình, ngoài ra, sinh viên cần có ý thức hơn trong việc tự học của
mình.
Trang 15
2.1.2. Nhu cầu sử dụng Internet của sinh viên cho việc giải trí
Bên cạnh nhiệm vụ học tập, giải trí là một trong những nhu cầu thiết yếu
đối với nhóm tham gia nghiên cứu bởi đó là một phần không thể thiếu trong
cuộc sống học tập và làm việc. Nội dung lên mạng giải trí của sinh viên trường
Đại học Nội vụ Hà Nội cơ sở miền Trung thông qua những mẫu chọn trong khóa
luận là rất đa dạng và phong phú bao gồm rất nhiều hoạt động như nghe nhạc,
xem phim, chơi games, giao lưu với bạn bè qua chat, viết blog v.v.
Chính vì vậy mà khi hỏi những người trong nhóm mẫu được chọn về sự
đáp ứng nhu cầu giải trí của họ trên Internet thì tác giả thu được kết quả như sau:
Biểu đồ 2.2: Mạng giải trí trên Internet có đáp ứng được nhu cầu giải trí
của sinh viên. (n= 194)
phải là ngoại lệ.
Trang 17