TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ & PTNT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài
ĐÁNH GIÁ NHU CẦU TƯ VẤN HƯỚNG NGHIỆP CỦA
SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
Sinh viên thực hiện : BÙI HỮU HANH
Chuyên ngành : KINH TẾ
Lớp : KTA – K55
Giáo viên hướng dẫn : CN TRẦN THỊ NHƯ NGỌC
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam ðoan, toàn bộ số liệu cũng nhý kết quả nghiên cứu của
luận vãn là trung thực và chýa ðýợc sử dụng ðể bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam ðoan, mọi sự giúp ðỡ cho việc thực hiện ðề tài này ðều
ðýợc cảm õn, các thông tin trích dẫn trong luận vãn ðều ðýợc chỉ rõ ràng
nguồn gốc.
Hà Nội, ngày 2 tháng 6 nãm 2014
Sinh viên
Bùi Hữu Hanh
i
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến thầy cô giáo trong khoa Kinh tế
và Phát triển nông thôn, trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, đặc biệt là thầy cô
trong bộ môn Kinh tế nông nghiệp và Chính sách, những người đã truyền đạt cho
tôi những kiến thức bổ ích và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện
nghiệp cho sinh viên được nhà trường rất quan tâm, tuy nhiên việc triển khai
các công tác để tiến hành tư vấn hướng nghiệp cho sinh viên vẫn còn gặp nhiều
khó khăn. Một trong những khó khăn đó là chưa nắm rõ được nhu cầu tư vấn
hướng nghiệp của sinh viên. Vì thế, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài:
“Đánh giá nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của sinh viên trường ĐH Nông
nghiệp Hà Nội”.
Mục tiêu mà đề tài hướng tới là trên cơ sở phân tích thực trạng về nhu
cầu tư vấn hướng nghiệp của sinh viên trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội, phát
hiện những yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu đó và đề xuất một số giải pháp nâng
cao hiệu quả hoạt động tư vấn hướng nghiệp cho sinh viên.
Để tiến hành nghiên cứu đề tài, đề tài tiến hành thu thập thông tin từ 90
sinh viên, 10 giảng viên và 4 cán bộ thuộc trung tâm tư vấn. Sau khi được xử lý
bằng phần mềm SPSS, thông tin về nội dung sinh viên được phân loại so sánh
theo giới tính, theo khóa và theo khối ngành.
Qua quá trình nghiên cứu thực tế cho thấy: 77,8% sinh viên có sự quan
tâm tới tư vấn hướng nghiệp. Điều này phản ánh sinh viên đã nhận thức được
tầm quan trọng của tư vấn hướng nghiệp trong việc điều chỉnh và định hướng
iii
trong việc chọn nghề nghiệp tương lai của mình. Tuy nhiên sự hiểu biết của
sinh viên về nghề nghiệp thì rất mơ hồ và không đầy đủ với 73,3% sinh viên
được điều tra lựa chọn đáp án hiểu biết rất ít về nghề. Có sự khác nhau về nhu
cầu tư vấn hướng nghiệp giữa giới, giữa các khóa, giữa các khối ngành.
Nguyên nhân chính của thực trạng trên là do sinh viên chưa chịu tìm kiếm
thông tin và đã tìm hiểu thông tin về nghề nghiệp từ các nguồn không chính
thống và bài bản. Đối tượng ảnh hưởng nhiều tới sự lựa chọn nghề của sinh
viên là gia đình và các phương tiện thông tin đại chúng. Những khó khăn sinh
viên gặp phải khi chọn nghề là: Nghề phù hợp với sở thích nhưng không phù
hợp với năng lực bản thân, nghề phù hợp với sở thích và năng lực nhưng thu
nhập thấp, nghề phù hợp với sở thích và năng lực nhưng khả năng có việc thấp.
Những sinh viên trình độ học vấn giỏi có nhu cầu tư vấn hướng nghiệp ít
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ NHU CẦU TƯ VẤN HƯỚNG NGHIỆP CỦA SINH VIÊN 4
2.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.1 Tư vấn hướng nghiệp 4
2.1.2 Nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của sinh viên 13
2.2 Cơ sở thực tiễn 26
2.2.1 Hoạt động tư vấn hướng nghiệp trên thế giới 26
2.2.2 Hoạt động tư vấn hướng nghiệp ở Việt Nam 28
2.2.3 Bài học kinh nghiệm 29
III. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
v
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 31
3.1.1 Thông tin chung về trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội 31
3.1.2 Hoạt động đào tạo của trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội 32
3.1.3 Hoạt động nghiên cứu khoa học 34
3.2 Phương pháp nghiên cứu 36
3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 36
3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 37
3.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 38
3.2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 38
Phần IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 40
4.1 Thực trạng nhu cầu tư vấn hướng nghiệpcủa sinh viên trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội 40
4.1.1 Đặc điểm lựa chọn nghề của sinh viên 40
4.1.2 Nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của sinh viên theo giới tính 53
4.1.3 Nhu cầu hướng nghiệp của sinh viên theo khóa 56
4.1.4 Nhu cầu hướng nghiệp của sinh viên theo khối ngành 58
4.1.5 Những lý do sinh viên không tìm đến các đơn vị tư vấn hướng nghiệp 60
9. KHKT Khoa học kỹ thuật
10.KT Kỹ thuật
11.KTXH Kinh tế xã hội
12.THTP Trung học phổ thông
13.TNHH Trách nhiệm hữu hạn
14.TP Thành phố
15.TVVL Tư vấn việc làm
viii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1 Thời điểm lựa chọn nghề của sinh viên 40
Bảng 4.2 Dự định nghề nghiệp trong tương lai của sinh viên 41
Bảng 4.3 Nhóm nghề định chọn của sinh viên 43
Bảng 4.4 Những cơ sở sinh viên dựa vào khi chọn nghề 45
Bảng 4.5 Sự cần thiết của việc chuẩn bị trước phẩm chất và kỹ năng của nghề trong
tương lai 46
Bảng 4.6 Các đối tượng ảnh hướng đến sự lựa chọn nghề nghiệp
của sinh viên 48
Bảng 4.7 Các nguồn tư vấn hướng nghiệp mà sinh viên tìm đến 50
Bảng 4.8 Những khó khăn khi chọn nghề của sinh viên 52
Bảng 4.9 Sự khác biệttrong mức độ hiểu biết về những yêu cầu của công việc sẽ làm
giữa hai giới 53
Bảng 4.10 Sự khác biệt về mức độ quan tâm đến tư vấn hướng nghiệp giữa hai giới 54
Bảng 4.11 Sự khác biệt về các nội dung mà sinh viênquan tâm cần được tư vấn giữa hai
giới 54
Bảng 4.12 Sự khác biệt về mức độ hiểu biết về những yêu cầu của công việc sẽ làm của
sinh viên giữa các khóa 56
Bảng 4.13 Sự khác biệt mức độ quan tâm đến tư vấn hướng nghiệp
giữa các khóa 56
Bảng 4.14 Sự khác biệt về các nội dung mà sinh viên quan tâm cần được tư vấn giữa các
khóa 57
1.1 Tính cấp thiết
Một trong những dấu mốc quan trọng trong cuộc đời mỗi người, quyết
định thành công hay thất bại trong tương lai là việc lựa chọn nghề nghiệp.Vì
thế, lựa chọn cho mình được một nghề phù hợp là vấn đề mà tất cả các bạn trẻ
- đặc biệt là học sinh, sinh viên đều quan tâm. Thế hệ trẻ chính là tương lai
của đất nước nên vấn đề lựa chọn nghề nghiệp của họ ảnh hưởng rất nhiều
đến sự phát triển của đất nước. Chính vì thế mà vấn đề tư vấn hướng nghiệp
đang được xem là một vấn đề nóng hiện nay, được cả xã hội và nhà nước
quan tâm.
Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế, để chọn cho mình một công việc
ổn định và thích hợp để sinh sống là một khó khăn. Thực tế, hiện tượng sinh
viên ra trường phải chịu cảnh thất nghiệp hay phải làm việc không đúng với
chuyên môn là khá phổ biến, họ cảm thấy khó khăn trong việc đáp ứng các
yêu cầu mà công việc cần, đồng thời không cảm thấy hứng thú và gắn bó với
nghề nghiệp mình đã chọn. Điều này không những gây lãng phí về thời gian,
tiền bạc, nguồn nhân lực mà còn tạo ra sự phân bố nguồn lực không hợp lý
làm ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển của đất nước. Như vậy, làm thế nào để
định hướng con đường nghề nghiệp của mình một cách hiệu quả? Rất nhiều
bạn sinh viên hiện nay không trả lời được câu hỏi này.Điều đó không còn là
ngoại lệ đối với sinh viên hiện nay mà là tình trạng chung của rất nhiều sinh
viên các trường đại học trong đó có sinh viên ĐH Nông nghiệp Hà Nội
Khi thi vào đại học, một số bạn sinh viên đã được cha mẹ định hướng
công việc trong tương lai, bên cạnh đó cũng có một phần các sinh viên tự định
hướng nghề nghiệp cho bản thân do sở thích của chính mình. Tuy nhiên, đất
nước đang phát triển từng ngày từng giờ nên định hướng nghề nghiệp đó
1
thường không theo kịp xu hướng phát triển của đất nước. Chính vì vậy cơ hội
tìm kiếm việc làm của sinh viên bị bó hẹp do thiếu kiến thức và hiểu biết về
các ngành nghề.
Nhận thức được tầm quan trọng của việc hướng nghiệp nên tư vấn
Nghiên cứu về nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của sinh viên và công tác
tư vấn hướng nghiệp tại địa bàn trường ĐH Nông Nghiệp Hà Nội
b. Phạm vi không gian
Nghiên cứu tại ĐH Nông nghiệp Hà Nội, thị trấn Trâu Quỳ, Gia Lâm,
Hà Nội.
c. Phạm vi thời gian
Nghiên cứu từ 23/1/2014 đến 3/6/2014
3
II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ NHU CẦU TƯ VẤN HƯỚNG NGHIỆP CỦA SINH VIÊN
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Tư vấn hướng nghiệp
2.1.1.1 Khái niệm
a.Tư vấn
Trong từ điển tiếng Việt “tư vấn” được định nghĩa là “Phát biểu ý kiến
về những vấn đề được hỏi đến, nhưng không có quyền quyết định”.Trong từ
điển tiếng Anh chữ “consultation” được định nghĩa là “The act, process of
consulting” nghĩa là “Hành động, quá trình tư vấn”.
Người tư vấn có thể đóng vai trò như người chịu trách nhiệm tìm
ra những giải pháp (R. Schein, 1969); hay thu thập thông tin, chẩn đoán vấn
đề và đề xuất giải pháp (D.J. Kurpius & J.C. Brukbaker, 1976);hoặc là người
định hướng, điều phối tiến trình giải quyết vấn đề (R. Blake & J.S. Mouton,
1976)…(trích từ “Nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của học sinh lớp 12 trung học
phổ thông tỉnh Kiên Giang”. Nguyễn Thị Thanh Thảo, 2010)
Tư vấn có thể được xem là mối quan hệ mà ở đó người chuyên gia đưa
ra sự trợ giúp cho cá nhân hay tổ chức có nhu cầu giải quyết vấn đề khó khăn
(A.M. Douherty, 1990).
Tư vấn là một nghề đòi hỏi phải thành tâm và có tấm lòng cao cả. Nó
thu hút những tâm hồn biết quan tâm, tâm tình cởi mở, thân thiện và nhạy
cảm với nhu cầu giúp đỡ con người. (Myrick, 1997) (trích từ “Nhu cầu tư vấn
c.Tư vấn hướng nghiệp
Tư vấn hướng nghiệp là hệ thống những biện pháp tâm lí - giáo dục
nhằm đánh giá toàn bộ năng lực thể chất và trí tuệ của thanh niên, đối chiếu
5
các năng lực đó với những yêu cầu do nghề hay nhóm nghề đặt ra đối với
người lao động, có cân nhắc đến nhu cầu nhân lực của địa phương và xã hội.
Trên cơ sở đó cho họ những lời khuyên về chọn nghề có căn cứ khoa học, loại
bỏ những trường hợp may rủi, thiếu chín chắn trong khi chọn nghề.
Theo quan niệm mới, tư vấn hướng nghiệp là một quá trình, không chỉ
diễn ra ở một thời điểm của cuộc đời mà diễn ra trong suốt đời người. Mục
đích không chỉ giúp con người lựa chọn nghề nghiệp phù hợp mà còn hỗ trợ con
người vượt qua khó khăn, thích ứng với hoàn cảnh của một xã hội phát triển và
có nhiều thay đổi, phát huy được tối đa năng lực của mình để đạt được thành
công trong nghề nghiệp, xây dựng được cuộc sống tốt đẹp cho bản thân
Tuy nhiên để phù hợp với đề tài, chúng tôi thống nhất sử dụng khái
niệm sau đây để làm công cụ tiến hành việc nghiên cứu:
“Tư vấn hướng nghiệp là hệ thống những biện pháp nhằm đánh giá
toàn bộ năng lực thể chất và trí tuệ của thanh niên, đối chiếu các năng lực đó
với những yêu cầu do nghề hay nhóm nghề đặt ra đối với người lao động, có
cân nhắc đến nhu cầu nhân lực của địa phương và xã hội. Trên cơ sở đó cho
đối tượng cần tư vấn những lời khuyên về chọn nghề có căn cứ khoa học, loại
bỏ những trường hợp may rủi, thiếu chín chắn trong khi chọn nghề”.
2.1.1.2 Vai trò của tư vấn hướng nghiệp
Khi tham gia các hoạt động hướng nghiệp, nhận thức về ý nghĩa, tầm
quan trọng của việc lựa chọn nghề nghiệp của sinh viên được nâng cao. Đây
là yếu tố quan trọng bậc nhất để các sinh viên có thể tiến hành lựa chọn nghề
nghiệp một cách đúng đắn, khoa học. Nếu không nhận thức được điều này, sự
lựa chọn nghề nghiệp của sinh viên với tư cách là một trong những việc quan
trọng nhất của cuộc đời thường dễ tiến hành một cách ngẫu nhiên, cảm tính.
Đồng thời thông qua việc được tư vấn, giới thiệu về thế giới nghề nghiệp, các
nghề khác gần gũi với thiên hướng và hứng thú, đồng thời phù hợp với trạng
7
thái sức khoẻ của người đó. Chẳng hạn, những người rối loạn sắc giác sẽ
không được chọn những ngành nghề giao thông vận tải, thông tin tín hiệu
4) Tư vấn hiệu chỉnh: được tiến hành trong trường hợp ý định nghề
nghiệp của con người không phù hợp với khả năng và năng lực thực tế của
họ. Trong trường hợp này, kế hoạch nghề nghiệp của cá nhân cần được xem
xét và uốn nắn lại cho phù hợp với tình hình. Ví dụ: trên cơ sở những cứ liệu
thu được khi nghiên cứu nhân cách con người, cán bộ tư vấn sẽ khuyên thanh
thiếu niên nên chọn một nghề khác, phù hợp với những đặc điểm tâm sinh lý
của mình hơn.
* Ngoài ra, người ta có thể chia tư vấn hướng nghiệp thành 2 loại: tư
vấn sơ bộ và tư vấn chuyên sâu
1) Tư vấn sơ bộ: loại này đơn giản có thể thực hiện ở nhiều trường vì
không đòi hỏi phải có thiết bị, các phương tiện kỹ thuật. Chẩn đoán những
phẩm chất nhân cách của sinh viên không cần đòi hỏi phải có đội ngũ chuyên
gia tư vấn hướng nghiệp có tay nghề cao, am hiểu sâu sắc các lĩnh vực tâm
sinh lý, giáo dục học, y học, kinh tế học. Ở đây, giáo viên đóng vai trò “nhà tư
vấn” cần có những hiểu biết về yêu cầu của một số ngành nghề ở một số
trường hoặc ở địa phương, về nhu cầu nhân lực, về năng lực của sinh viên. Từ
đó cho sinh viên lời khuyên nên học nghề gì và học ở đâu. Hoặc là qua những
điều giảng giải của giáo viên để sinh viên tự trả lời được 3 câu hỏi: Em có
muốn (thích) học nghề đó không? Em có khả năng làm nghề đó không?Xã
hội, địa phương có cần nghề đó không?
2) Tư vấn chuyên sâu: loại này phức tạp vì việc tư vấn được tiến hành
trên cơ sở khoa học thực sự, đảm bảo độ chính xác cao nhờ một số máy móc
hiện đại (ví dụ máy đo độ chính xác của các cử động, sự khéo léo vận động
của 2 tay ). Điều kiện để tư vấn hướng nghiệp chuyên sâu là phải có đội ngũ
chuyên gia tư vấn hướng nghiệp được đào tạo có trình độ chuyên môn nghiệp
vụ cao gồm các nhà tâm lý học, giáo dục học, kinh tế học, bác sĩ có kinh
độ chuyên môn hoá. Và những nội dung này cũng có tính đến đặc điểm nhận
thức, tâm sinh lý lứa tuổi. Các nội dung cụ thể: thông tin về phương hướng
phát triển kinh tế - xã hội; thông tin về thị trường lao động.
3) Giúp sinh viên tự đánh giá hứng thú và năng lực nghề nghiệp của
bản thân: Hứng thú là một động lực hết sức quan trọng để con người gắn bó
với nghề; hứng thú được coi như một chỉ số quan trọng hàng đầu để xét sự
phù hợp người của con người. Bên cạnh đó, để có thể gắn bó với nghề, đạt
năng suất lao động cao, người lao động cần phải có năng lực chuyên môn thật
sự, đóng góp được sức lực, trí tuệ một cách hữu hiệu với nghề mình yêu thích.
Hơn nữa, nghề nghiệp cũng không chấp nhận những người thiếu năng lực, do
đó giúp sinh viên tự đánh giá và phát triển hứng thú, năng lực nghề nghiệp
tương lai của họ trên cơ sở phân tích những đặc điểm, những điều kiện, những
hoàn cảnh riêng của từng cá nhân một.
2.1.1.5 Các phẩm chất đạo đức của nhà tư vấn hướng nghiệp.
Mỗi nghề đều có những yêu cầu, đòi hỏi nhất định về phẩm chất và
năng lực của người lao động. Để thích ứng được với nghề và đạt năng suất lao
động cao nhất, người lao động cần có những phẩm chất năng lực tương ứng
đáp ứng đòi hỏi của nghề. Tư vấn là một nghề mang tính chuyên nghiệp cao.
Vì vậy nghề này cũng đòi hỏi các chuyên gia phải có những phẩm chất nhất
định. Trong nghề tham vấn, các chuyên gia tham vấn thông thường phải có
các phẩm chất đặc trưng sau:
- Sự thông minh, nhanh nhạy.
- Chân thật.
- Khát vọng giúp đỡ người khác.
- Tính cởi mở, nhạy cảm, nhân ái với mọi người.
- Có tấm lòng khoan dung, độ lượng và khả năng giao tiếp hoàn hảo.
Đặc biệt đối với quá trình tư vấn hướng nghiệp thì yêu cầu trong phẩm
chất “Sự thông minh, nhanh nhạy” bao hàm thêm rất nhiều các phẩm chất
10
khác như:
- Nguyên tắc chấp nhận, không phán xét mọi hành vi, xúc cảm của thân chủ.
- Nguyên tắc thấu cảm.
- Nguyên tắc đảm bảo tính bí mật thông tin cho thân chủ
Tuy nhiên, đối với tư vấn hướng nghiệp, mỗi nguyên tắc này thể hiện
bằng những biểu hiện khác nhau, cụ thể là:
- Nguyên tắc tôn trọng thân chủ trong quá trình tư vấn – nhà tư vấn cần tôn
trọng sinh viên như một nhân cách độc lập, tin vào khả năng của sinh viên.
Mức độ thông hiểu nguyên tắc này được thể hiện bằng dấu hiệu nhà tư
vấn chỉ ra được các lý do hợp lý của việc cần phải tôn trọng sinh viên, cần
phải tin tưởng sinh viên trong quá trình tư vấn. Và ý thức được tác dụng cũng
như hậu quả khi thực hiện tốt hay không tốt về nguyên tắc này trong quá trình
tư vấn.
- Với nguyên tắc dành quyền tự quyết cho thân chủ, thể hiện sự thông
hiểu trong nguyên tắc này của nhà tư vấn đó chính là chỉ ra được bản chất tư
vấn không áp đặt đối tượng, mà tin tưởng ở đối tượng trên cơ sở phân tích
một cách khách quan, khoa học vấn đề mà đối tượng vướng mắc, đưa ra gợi
ý. Cuối cùng để đối tượng tự cân nhắc và đưa ra cách giải quyết vấn đề của
mình vì lợi ích của bản thân.
- Nguyên tắc thấu cảm: Sự nhận biết của nhà tư vấn về nguyên tắc này thể
hiện ở chỗ: nhà tư vấn cần đặt vị trí của mình vào vị trí của sinh viên để đồng
cảm và hiểu những cảm xúc của họ. Nhà tư vấn cần tránh sự đồng nhất giữa
“thấu cảm” và “đồng cảm”, cũng như ý tưởng tạo lập một khoảng cách giữa nhà
tư vấn và sinh viên nhằm để giữ “uy” với mục đích “giáo dục” sinh viên.
- Nguyên tắc chấp nhận, không phê phán sinh viên: nhà tư vấn không
nên phê phán, uốn nắn, giáo dục sinh viên một cách cứng nhắc như trong hoạt
động giáo dục - hoạt động mà họ đang thực hiện; cần phải biết lắng nghe và
12
chấp nhận sinh viên, chấp nhận vô điều kiện.
Tóm lại, tư vấn hướng nghiệp không chỉ dừng lại ở việc cung cấp cho
sinh viên những thông tin liên quan đến nghề, yêu cầu của nghề đối với người
với hiện thực và đối với trách nhiệm của bản thân, xét đến cùng, nó xác định
lối sống và hoạt động của cá nhân.
Có nhiều định nghĩa về nhu cầu của nhiều tác giả trong và ngoài nước,
nhưng trong quá trình nghiên cứu tài liệu, tác giả cho rằng các định nghĩa sau
sát và phù hợp với đề tài nghiên cứu hơn.
Theo từ điển Tâm lý học “nhu cầu là một trạng thái của cá nhân được
tạo ra do cá nhân đó thiếu những đối tượng cần cho sự tồn tại và phát triển và
là nguồn gốc hoạt động của cá nhân đó”.
Theo A. G. Covaliov (1971), nhu cầu là sự cần thiết mà con người cảm
thấy cần phải thoả mãn của những điều kiện nhất định của cuộc sống và sự
phát triển.
Theo tác giả Nguyễn Quang Uẩn (1998), khái niệm nhu cầu được phát
biểu như sau “Nhu cầu là sự đòi hỏi tất yếu mà con người thấy cần được thoả
mãn để tồn tại và phát triển”.
Trong đề tài này, chúng tôi chọn định nghĩa sau về nhu cầu làm cơ sở
cho việc nghiên cứu “Nhu cầu là sự đòi hỏi tất yếu mà con người thấy cần
được thoả mãn để tồn tại và phát triển”.
b. Nhu cầu tư vấn hướng nghiệp
Nếu nhu cầu là sự đòi hỏi tất yếu của sự tồn tại và phát triển của con
người nói chung thì nhu cầu tư vấn hướng nghiệp là nhu cầu thiết yếu đối với
mỗi cá nhân khi đứng trước quyết định chọn cho mình một nghề phù hợp và
hoạt động tốt ở lĩnh vực nghề đó.
Nhu cầu tư vấn hướng nghiệp thuộc nhu cầu về nhận thức của con
người, nhu cầu nhận thức một lĩnh vực riêng, như vậy nhu cầu này sẽ có đầy
14