PHẦN MỞ ĐẦU
Tự học là hình thức học tập không thể thiếu được của sinh viên đang học tập tại
các trường đại học. Tổ chức hoạt động tự học một cách hợp lý, khoa học, có chất
lượng, hiệu quả là trách nhiệm không chỉ ở người học mà còn là sự nghiệp đào tạo của
nhà trường. Nhưng liệu tất cả sinh viên đã nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề
tự học hay chưa? Và nếu có thì họ đã có phương pháp tự học đúng cách hay hiệu quả
phương pháp tự học của họ còn thấp? Những vấn đề khó khăn gì họ gặp phải trong
quá trình tự học của mình? chính vì thế qua đề tài: “ nghiên cứu vấn đề tự học của
sinh viên trường Đại học Công Nghiệp TP.HCM Cơ sở 3” em muốn được tìm hiểu
và nghiên cứu sâu hơn về vấn đề tự học của sinh viên hiện nay. Nội dung bài nghiên
cứu gồm 5 chương:
Chương 1: tổng quan về vấn đề tự học của sinh viên
Chương 2: cơ sở lý luận
Chương 3: mô hình nghiên cứu
Chương 4: thực trạng và kết quả nghiên cứu
Chương 5 : kết luận và các đề xuất
1
Chương 1:TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN
1.1.Cơ sở hình thành đề tài
Quan sát hàng ngày, thấy rằng một bộ phận sinh viên học tập bây giờ thật đáng
suy nghĩ. Rất ít khi trong lớp có đủ mặt sĩ số tham gia học tập. Và trong số ấy lại
không ít sinh viên lơ là nghe giảng hoặc tham gia trong các hoạt động dạy và học một
cách cho có lệ, hoặc là nghe đấy nhưng đầu óc lại đang nghĩ tận đâu đâu. Phải chăng là
họ đang say sưa với thành tích đã vượt qua được nhiều người để bước vào cổng trường
đại học và đã mãn nguyện lắm rồi? Vì thế nào họ cũng tốt nghiệp ra trường và sẽ
thành danh. Một quan niệm nữa cũng trở thành “tập quán” trong sinh viên là đã qua
được học phần nào thì xếp gọn lại sách vở môn đó và xóa sạch “băng” đã ghi nhớ
trong đầu. Rất hiếm sinh viên khi học xong, thi xong học phần còn giữ lại bài, bài ghi
môn học. Chính vì vậy, hơn bao giờ hết, việc tự học của sinh viên với ý nghĩa có trách
nhiệm đối với chính bản thân họ phải được coi là mấu chốt, là động lực thôi thúc họ,
thành thói quen cố hữu của con người trong suốt cuộc đời.
Suốt thời gian học tập ở trường đại học, nhà trường không thể trang bị đầy đủ
moi tri thức hành trang cho các em đi suốt cuộc đời mà chỉ trang bị những tri thức cơ
bản, những đường nét cơ bản để khi ra trường, nó trở thành nền tảng tri thức chứ
không hẳn đã là cẩm nang nhất thành bất biến trong suốt cuộc đời các em. Phải coi tự
học như là nhu cầu nội tại vươn lên làm chủ tri thức để làm việc và chủ động hơn
trong cuộc sống của sinh viên sau này - trong điều kiện nhiều môn học không giảm số
lượng và mức độ của tri thức, thậm chí tăng lên đồng thuận với yêu cầu của xã hội
ngày càng khắt khe đối với việc tuyển dụng nhân lực.
Tự học phải là tự mình học ở mọi nơi, mọi lúc với điều kiện nhất định. Ở trên
lớp, ở nhà, ở Thư viện hay khi “lướt sóng” trên mạng đều là quá trình tiếp cận tri thức,
xử lý thông tin để chắt lọc những thông tin có ích và biến thành tri thức của mình.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu những kiến thức căn bản nhất về vấn đề tự học của sinh viên. Nêu rõ
được nội dung của hoạt động tự học gồm mấy vấn đề, để tiếp cận nó phải tuân thủ theo
qui trình nào, điều kiện để áp dụng có hiệu quả các yêu cầu ra sao…. Tìm hiểu tầm
quan trọng của vấn đề tự học , và làm thế nào để nâng cao tinh thần tự học của sinh
viên.
3
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Các bạn sinh viên học theo hệ tín chỉ tại trường đại học công nghiệp cơ sở 3 tại
Thanh Hóa
Đề tài được thực hiện trong khoảng thời gian từ 15/9 – 26/10/2013
1.4. Phương pháp nghiên cứu
1.4.1. Dữ liệu sơ cấp và phương pháp thu thập
Trực tiếp thu thập tại các sinh viên trong trường, điều tra, thu thập và xử lý nó
để phục vụ cho việc nghiên cứu của mình
Được thu thập bằng các phương pháp như sau:
phương pháp quan sát:
khái niệm tự học: “Tự học là người học tích cực chủ động, tự mình tìm ra tri thức kinh
nghiệm bằng hành động của mình, tự thể hiện mình. Tự học là tự đặt mình vào tình
huống học, vào vị trí nghiên cứu, xử lí các tình huống, giải quyết các vấn đề, thử
nghiệm các giải pháp…Tự học thuộc quá trình cá nhân hóa việc học”.
Trong bài phát biểu tại hội thảo Nâng cao chất lượng dạy học tổ chức vào
tháng 11 năm 2005 tại Đại học Huế, GS Trần Phương cho rằng: “ Học bao giờ và lúc
nào cũng chủ yếu là tự học, tức là biến kiến thức khoa học tích lũy từ nhiều thế hệ của
nhân loại thành kiến thức của mình, tự cải tạo tư duy của mình và rèn luyện cho mình
kĩ năng thực hành những tri thức ấy”.
1.5. Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
Trong nội dung của bài này em muốn trình bày những kiến thức căn bản nhất về
vấn đề tự học của sinh viên. Nhằm nêu rõ nội dung của hoạt động tự học gồm mấy vấn
đề, để tiếp cận nó phải tuân thủ theo qui trình nào, điều kiện để áp dụng có hiệu quả
các yêu cầu ra sao… từ đó xây dựng những biện pháp dạy tự học tích cực tương ứng.
Giúp sinh viên hiểu được tầm quan trọng của vấn đề tự học và tìm cho mình giữ một
phương pháp tự học phù hợp nhất để học tập và nghiên cứu thuận lợi hơn đạt kết quả
cao, và góp phần nâng cao chất lượng đào tạo
5
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1. Khái niệm tự học
2.1.1. Tự học là gì?
Trong tập bài giảng chuyên đề Dạy tự học cho SV trong các nhà trường
trung học chuyên nghiệp và Cao đẳng, Đại học GS – TSKH Thái Duy Tuyên viết: “Tự
học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, là tự mình động não,
suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…)cùng
các phẩm chất động cơ, tình cảm để chiếm lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào đó
hay những kinh nghiệm lịch sử, xã hội của nhân loại, biến nó thành sở hữu của chính
bản thân người học”.
con đường tự học. Muốn thành công trên bước đường học tập và nghiên cứu thì phải
có khả năng phát hiện và tự giải quyết những vấn đề mà cuộc sống, khoa học đặt ra.
Bồi dưỡng năng lực tự học là phương cách tốt nhất để tạo ra động lực mạnh
mẽ cho quá trình học tập.
Một trong những phẩm chất quan trọng của mỗi cá nhân là tính tích cực, sự
chủ động sáng tạo trong mọi hoàn cảnh.Và, một trong những nhiệm vụ quan trọng của
giáo dục là hình thành phẩm chất đó cho người học. Bởi từ đó nền giáo dục mới mong
đào tạo ra những lớp người năng động, sáng tạo, thích ứng với mọi thị trường lao
động, góp phần phát triển cộng đồng. Có thể xem tính tích cực (hình thành từ năng lực
tự học) như một điều kiện, kết quả của sự phát triển nhân cách thế hệ trẻ trong xã hội
hiện đại. Trong đó hoạt động tự học là những biểu hiện sự gắng sức cao về nhiều mặt
của từng cá nhân người học trong quá trình nhận thức thông qua sự hưng phấn tích
cực. Mà hưng phấn chính là tiền đề cho mọi hứng thú trong học tập. Có hứng thú
người học mới có được sự tự giác say mê tìm tòi nghiên cứu khám phá. Hứng thú là
7
động lực dẫn tới tự giác. Tính tích cực của con người chỉ được hình thành trên cơ sở
sự phối hợp ngẫu nhiên giữa hứng thú với tự giác. Nó bảo đảm cho sự định hình tính
độc lập trong học tập.
Tự học giúp cho mọi người có thể chủ động học tập suốt đời, học tập để
khẳng định năng lực phẩm chất và để cống hiến. Tự học giúp con người thích ứng với
mọi biến cố của sự phát triển kinh tế - xã hội. Bằng con đường tự học mỗi cá nhân sẽ
không cảm thấy bị lạc hậu so với thời cuộc, thích ứng và bắt nhịp nhanh với những
tình huống mới lạ mà cuộc sống hiện đại mang đến, kể cả những thách thức to lớn từ
môi trường nghề nghiệp. Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng
tự học, biết linh hoạt vận dụng những điều đã học vào thực tiễn thì sẽ tạo cho họ lòng
ham học, nhờ đó kết quả học tập sẽ ngày càng được nâng cao.
Với những lí do nêu trên có thể nhận thấy, nếu xây dựng được phương
pháp tự học, đặc biệt là sự tự giác, ý chí tích cực chủ động sáng tạo sẽ khơi dậy năng
lực tiềm tàng, tạo ra động lực nội sinh to lớn cho người học.
cơ bản:
- Các động cơ hứng thú nhận thức.
- Các động cơ trách nhiệm trong học tập.
Thông thường các động cơ hứng thú nhận thức hình thành và đến được với
người học một cách tự nhiên khi bài học có nội dung mới lạ, thú vị, bất ngờ, động và
chứa nhiều những yếu tố nghịch lí, gợi sự tò mò. Động cơ này sẽ xuất hiện thường
xuyên khi GV biết tăng cường tổ chức các trò chơi nhận thức, các cuộc thảo luận hay
các biện pháp kích thích tính tự giác tích cực từ người học.
Động cơ nhiệm vụ và trách nhiệm thì bắt buộc người học phải liên hệ với ý
thức về ý nghĩa xã hội của sự học. Giống như nghĩa vụ đối với Tổ quốc, trách nhiệm
đối với gia đình, thầy cô, uy tín danh dự trước bạn bè…Từ đó các em mới có ý thức kỉ
luật trong học tập, nghiêm túc tự giác thực hiện mọi nhiệm vụ học tập, những yêu cầu
từ GV, phụ huynh, tôn trọng mọi chế định của xã hội và sự điều chỉnh của dư luận.
Cả hai động cơ trên không phải là một quá trình hình thành tự phát, cũng
chẳng được đem lại từ bên ngoài mà nó hình thành và phát triển một cách tự giác thầm
lặng từ bên trong. Do vậy người GV phải tùy đặc điểm môn học, tùy đặc điểm tâm
9
sinh lí lứa tuổi của đối tượng để tìm ra những biện pháp thích hợp nhằm khơi dây
hứng thú học tập và năng lực tiềm tàng nơi SV. Và, điều quan trọng hơn là tạo mọi
điều kiện để sinh viên tự kích thích động cơ học tập của mình.
Đối với phần đông những người trẻ, việc tạm gác những thú vui, những trò
giải trí hấp dẫn nhất thời để toàn tâm toàn sức cho việc học là hai điều có ranh giới vô
cùng mỏng manh. Nó đòi hỏi sự quyết tâm cao và một ý chí mạnh mẽ cùng nghi lực
đủ để chiến thắng chính bản thân mình. Đối với người trưởng thành, khi mục đích
cuộc đời đã rõ, ý thức trách nhiệm đối với công việc đã được xác định và sự học đã trở
thành niềm vui thì việc xác định động cơ thái độ học tập nói chung không khó khăn
như thế hệ trẻ. Tuy nhiên không phải là hoàn toàn không có. Vì suy cho cùng ai cũng
có những nhu cầu riêng và từ đó có những hứng thú khác nhau. Vấn đề là phải biết kết
hợp biện chứng giữa nội sinh và ngoại sinh, tức là hứng thú nhận thức, hứng thú trách
làm chủ tri thức nhân loại thì con đường tốt nhất của mọi người là đọc sách. Đọc sách
là phương pháp tự học rẻ tiền và hiệu quả nhất. Khi làm việc với sách ta phải sử dụng
năng lực tổng hợp toàn diện và có sự xuất hiện của hoạt động của trí não, một hoạt
động tối ưu trong quá trình tự học. Do vậy, rèn luyện thói quen đọc sách là một công
việc không thể tách rời trong yêu cầu tự học. Ngoài việc tiếp nhận tri thức còn phải
biết đối thoại, gợi mở, thắc mắc hay đề xuất những vấn đề cần lưu ý sau khi đọc sách,
hoặc chí ít là học cách viết, lối diễn đạt từ những cuốn sách hay. Đó là cách đọc sáng
tạo. Khác với sự giải trí đơn giản hay cảm nhận thông thường.
- Xử lí thông tin: Việc xử lí thông tin trong quá trình tự học không bao giờ
diễn ra trong vô thức mà cần có sự gia công, xử lí mới có thể sử dụng được. Quá trình
này có thể được tiến hành thông qua việc phân tích, đánh giá, tóm lược, tổng hợp, so
sánh…
- Vận dụng tri thức, thông tin: Trong việc vận dụng thông tin tri thức khoa
học để giải quyết các vấn đề liên quan như thực hành bài tập, thảo luận, xử lí các tình
huống, viết bài thu hoạch, báo cáo khoa học, tổng thuật… SV thường gặp rất nhiều
khó khăn. Có lúc tìm được một khối lượng lớn tư liệu nhưng việc tập hợp phân loại
nội dung để kiến giải một vấn đề lại không thực hiện được. Trong trường hợp này cần
khoanh vùng vấn đề trong một giới hạn đừng quá rộng. Chỉ cần tập trung đào sâu một
vấn đề nào đó nhằm phát hiện ra cái mới có giá trị thực tiễn là đáp ứng yêu cầu. Trong
khâu này việc lựa chọn và thay đổi hình thức tư duy để tìm ra cách thức tối ưu nhất
cho đối tượng nghiên cứu cũng rất cần thiết.
- Trao đổi, phổ biến thông tin: Việc trao đổi kinh nghiệm, chia sẻ thông tin
tri thức hay diển ngôn theo yêu cầu thông qua các hình thức: hội thảo, báo cáo khoa
11
học, thảo luận, thuyết trình, tranh luận… là công việc cuối cùng của quá trình tiếp
nhận tri thức. Hoạt động này giúp người học có thể hình thành và phát triển kĩ năng
trình bày (bằng lời nói hay văn bản) cho người học. Giúp người học chủ động, tự tin
trong giao tiếp ứng xử, phát triển năng lực hợp tác và làm việc nhóm tốt.
2.2.1.4. Tự kiểm tra đánh giá kết quả học tập
nhà nghiên cứu, giảng viên đã rút ra bốn vấn đề cốt lõi có thể áp dụng trong quá trình
dạy tự học cho SV. Đó là:
2.2.2.1. Dạy cách lập kế hoạch học tập
Trên cơ sở đề cương môn học, vào đầu mỗi học phần GV cần hướng dẫn SV
lập kế hoạch học tập sao cho kế hoạch đó phải ở trong tầm với của mình, phù hợp với
điều kiện của mình. Tất nhiên có thể điều chỉnh khi điều kiện thay đổi. Quán triệt để
SV hiểu rõ: mọi kế hoạch phải được xây dựng trên những mục tiêu cụ thể và hoàn toàn
phấn đấu thực hiện được. Trong đó có sự phân biệt rõ việc chính việc phụ, việc làm
ngay và việc làm sau. Có như thế mới từng bước góp nhặt tri thức tích lũy kết quả học
tập một cách bền vững. Việc sử dụng và tận dụng tốt quĩ thời gian cũng cần được đặt
ra để không phải bị động trước khối lượng các môn học cũng như áp lực công việc.
2.2.2.2. Dạy cách nghe giảng và ghi chép theo tinh thần tự học.
Nghe giảng và ghi chép là những kĩ năng mà ai cũng phải sử dụng trong quá
trình học tập. Trình độ nghe và ghi chép của người học không giống nhau ở những
môn học khác nhau. Nó ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình học tập. Tuy nhiên đây là
vấn đề mà xưa nay chưa có ai nghiên cứu. Mỗi người đều phải tự mình rèn luyện thói
quen ghi chép để có thể có được những thông tin cần thiết về môn học. Điều quan
trọng trước tiên là GV cần truyền đạt cho SV những nguyên tắc chính của hoạt động
nghe – ghi chép. Với các môn KHXH – NV thường có dung lượng câu chữ nhiều, việc
vừa chú ý theo dõi để tri nhận thông tin vừa mong muốn ghi chép thật đầy đủ khiến
đôi lúc trở thành một thách đố lớn. Các em thường mang lối học thụ động, quen tách
việc nghe và ghi chép ra khỏi nhau, thậm chí nhiều SV chỉ chờ GV đọc mới có thể ghi
chép được nội dung bài học nếu ngược lại thì đành bỏ trống vở khiến tâm lí bị ức chế
ảnh hưởng đến quá trình tiếp nhận kiến thức. Thực tế đó đòi hỏi người học phải tập
trung tư tưởng cao độ để có khả năng lĩnh hội vấn đề một cách khoa học nhất. Phải rèn
luyện để có khả năng huy động vốn từ, sử dụng tốc độ ghi chép nhanh bằng các hình
thức viết tắt, gạch chân, tóm lược bằng sơ đồ hình vẽ những ý chính, các luận điểm
quan trọng mà GV nhấn mạnh, lặp lại nhiều lần là điều vô cùng cần thiết. Ngoài ra,
trong quá trình học tập trên lớp, nếu có vấn đề nào không hiểu cần đánh dấu để hỏi
hay từng nhóm (cả lớp) thảo luận, giải quyết.
14
Một trong những hình thức giúp SV làm việc nhóm tốt nhất là tạo cơ hội
cho các em diễn ngôn trực tiếp. Từ cách lấy dẫn chứng để chứng minh một vấn đề,
giải thích, phản biện, nêu quan điểm ý tưởng hay thuyết trình, giới thiệu, tổng thuật
một sự kiện, một vấn đề khoa học hoặc đơn giản chỉ là sự bày tỏ chính kiến trước một
hiện tượng. Thông qua đó người dạy cũng có thể nắm được mức độ nhận thức của SV
để có sự bổ sung điều chỉnh hợp lí, kịp thời. Đảm bảo chất lượng giờ giảng luôn được
cải thiện theo hướng tích cực.
2.2.2.4. Dạy cách nghiên cứu
Trước hết là dạy cách xác định đề tài, chủ đề nghiên cứu sao cho phù hợp
với sở trường năng lực của mình và yêu cầu của chuyên ngành đào tạo. Tiếp đến là
dạy cách lựa chọn và tập hợp, phân loại thông tin và cách xử lí thông tin trong khuôn
khổ thời gian cho phép. Cơ sở lí luận của các môn KHXH&NV thường mang tính hàn
lâm, tính kế thừa cao. Trong lúc trên thực tế các vấn đề xã hội lại thay đổi từng giây.
Vì thế việc xác định nguồn tài liệu, điều tra, thực nghiệm cũng đòi hỏi mỗi người phấn
đấu nắm bắt kịp thời những vấn đề mang tính thời sự nóng hổi cũng là một thách thức
lớn. Tài liệu sẽ lấy từ nguồn nào, giới hạn phạm vi bao nhiêu, cách viện dẫn những
thông tin ra sao cho chính xác, trích dẫn những vấn đề điển hình nào cho có tính thuyết
phục… là những vấn đề cần được hướng dẫn kĩ lưỡng chu đáo từ phía GV. Một đề
cương nghiên cứu chuẩn mực, khoa học trong cấu trúc chung từ tổng quan của vấn đề
nghiên cứu, các cấp độ nội dung cần triển khai và cách xác định phương pháp nghiên
cứu phản ánh rất rõ năng lực của mỗi SV. Cần hình thành và rèn luyện cho các em
sớm có được kĩ năng ấy. Ngoài ra, việc tự kiểm tra đánh giá kết quả nghiên cứu trên
cơ sở tranh thủ ý kiến của bạn bè thầy cô cũng đem lại lợi ích thiết dụng cho người
nghiên cứu, nhất là những SV bước đầu làm quen với khoa học.
2.3. Các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng tới vấn đề tự học
2.3.1. Môi trường học và cơ sở vật chất
Môi trường xung quanh tuy không hoàn toàn là yếu tố gây ảnh hưởng tới vấn đề
Nhân
tố sinh
viên
Nhà
trường
Vấn đề
tự học
của
sinh
viên
Ý thức học tập của
sinh viên
2.Thời gian rãnh rỗi
3. Điều kiện sức khỏe
4. Đồ dùng, thiết bị hỗ trợ
học tập
5. Cách dậy học của giảng
viên
6. Cơ sở vật chất và môi
trường học
7. Sự khen thưởng,
khuyến khích học tập
8. Giáo trình, tài liệu
nghiên cứu
3.2. Mô hình nghiên cứu đề xuất
Căn cứ mô hình nghiên cứu tổng thể, sau khi khảo sát, nghiên cứu các văn bản
có liên quan đến vấn đề tự học và đặc biệt là các văn bản có liên quan đến vấn đề tự
học và các ý kiến của sinh viên, em xây dựng mô hình nghiên cứu đề xuất và thực
hiện đánh giá theo mô hình nghiên cứu này để rút ra các giải pháp nâng vấn đề tự học
của sinh viên trường Đh Công nghiệp TPHCM cơ sở 3 thông qua các tiêu chí sau
tri thức hay diển ngôn theo yêu cầu thông qua các hình thức: hội thảo, báo cáo khoa
học, thảo luận, thuyết trình, tranh luận.
4) Tự kiểm tra đánh giá kết quả học tập
Việc nhìn nhận kết quả học tập được thực hiện bằng nhiều hình thức:
Dùng các thang đo mức độ đáp ứng yêu cầu của GV, bản thân tự đánh giá, sự đánh giá
nhận xét của tập thể thông qua thảo luận, tự đối chiếu so sánh với mục tiêu đặt ra ban
đầu.
Sơ đồ: 3.2.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất.
19
Xây dựng động cơ học tập
2. Xây dựng kế hoạch học tập
3. Tự mình nắm vững nội dung
tri thức
4. Tự kiểm tra đánh giá kết quả
học tập
vấn đề tự
học của
sinh viên
Bảng 3.2.2: Giả thuyết và kỳ vọng của các biến nghiên cứu
Biến độc lập G
iả thiết
Phát biểu K
ỳ vọng
Xây dựng
động cơ học tập
H
1
Xác định đúng đắn động cơ mục
đích học tập của mình. Thì sẽ tập trung
giúp cho quá trình tự học dễ dàng hơn
(+
)
3.3. Thiết kế nghiên cứu
3.3.1. Tiến độ các bước nghiên cứu
Thực hiện nghiên cứu bao gồm 2 bước chính như sau:
Bảng 1. Tiến độ các bước nghiên cứu
20
Bước Dạng Phương pháp Kỹ thuật Thời gian
1 Sơ bộ Định tính Thảo luận 2 tuần
2 Chính thức Định lượng Điều tra qua
bảng câu hỏi
3-4 tuần
Bước 1: Thực hiện nghiên cứu sơ bộ định tính. Nghiên cứu định tính này được
thực hiện thông qua kỹ thuật thảo luận với một dàn bài soạn sẵn để khai thác các vấn
đề xung quanh đề tài, dựa trên nền tảng của cơ sở lý thuyết. Kết quả của quá trình
nghiên cứu sẽ hoàn thiện bảng câu hỏi (đã được phát thảo trước đó – xem phụ lục)
Bước 2: Là nghiên cứu chính thức định lượng gồm 2 giai đoạn. Giai đoạn đầu
sẽ tiến hành điều tra trực tiếp khoảng 30 người, nhằm xác lập tính lôgic của bảng câu
hỏi hay để loại bớt những biến được xem là thứ yếu và không quan tâm. Giai đoạn kế
tiếp sẽ triển khai việc điều tra bằng bảng câu hỏi.
Các dữ liệu sau khi thu thập sẽ được xử lý bằng phần mềm SPSS 16.0. Sau khi
mã hóa và làm sạch, dữ liệu sẽ được đưa vào xử lý và phân tích để mô tả qua các công
cụ phân tích sau:
3.3.2. Quy trình nghiên cứu
Toàn bộ quy trình nghiên cứu có thể mô tả theo trình tự sau: xác định vấn đề
nghiên cứu, cơ sở lý thuyết , dàn bài thảo luận, phỏng vấn thử, bảng câu hỏi [1], hiệu
chỉnh, bảng câu hỏi chính thức, phỏng vấn chính thức (thu thập thông tin), xử lý, cuối
Báo cáo
Nghiên cứu chính
Nghiên cứu sơ bộ
Bảng câu hỏi gồm các phần :
Tên bảng hỏi và giới thiệu
Các câu hỏi điều tra
Thông tin của người được hỏi
Lời cảm ơn
3.5. mẫu và thông tin mẫu
3.5.1. Mẫu
3.5.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Các bạn sinh viên học theo hệ thống tín chỉ tại trường đại học công nghiệp
thành phố hồ chí minh cơ sở 3.
3.5.1.2. Phương pháp chọn mẫu
Tổng thể là các bạn sinh viên theo học hệ thống tín chỉ
Đơn vị mẫu: điều tra 50 mẫu bằng cách lấy danh sách các bạn sinh viên từ đó
dùng làm khung chọn mẫu để chọn mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên.
3.5.1.3. Thời gian phỏng vấn: 3 tuần
3.5.2. Thông tin mẫu
Tổng số phiếu nhận về sau quá trình phỏng vấn là 50 phiếu. Một số kết quả nổi
bật phản ánh nội dung nghiên cứu được tổng hợp và minh họa lại bằng phần mềm
SPSS 16.0.
3.6. TIẾN ĐỘ NGHIÊN CỨU
Bảng 3. Tiến độ nghiên cứu
Công việc Tuần thứ
23
A Nghiên cứu sơ bộ 0 1 2 3
Thảo luận tay đôi
Hiệu chỉnh thang đo-Bảng
kiến của một số sinh viên muốn học nhóm có hiệu quả cao thì cần tuân thủ một số điều
quan trọng như không nói chuyện, đùa giỡn trong khi học, phải có một trưởng nhóm
có kiến thức vững và biết cách truyền tải lượng kiến thức đó một cách hiệu quả nhất,
biết điều tiết “nhiệt độ” học và biết phân bố thời gian học hợp lý và sinh động để các
thành viên học không bị chán.
Theo ý kiến của sinh viên thì một trong những nguyên nhân khó thực hiện việc
tự học là do phải học quá nhiều môn học trong một học kỳ, đặc biệt là những sinh viên
có tham gia học ngành 2 đã đăng ký tối đa số tín chỉ trong một học kỳ 25 chỉ(58%-phụ
luc2) . Do đó sinh viên không còn thời gian cho việc tự học.
Có 62%(phụ luc2) các bạn sinh viên xây dưng kế hoạch học tập điều đó sẽ giúp
quá trình tiến hành việc học được trôi chảy thuận lợi. Còn 38%( phụ luc2) các bạn
không xây dựng kế hoạch học tập,
Có 68%( phụ luc2) số lượng sinh viên cho rằng tìm hiểu kiến thức bên ngoài
giáo trình, sách chuyên môn để bổ sung trong quá trình học là quan trọng và cần phải
thường xuyên thu thập. Truy cập bổ sung kiến thức chuyên môn từ nguồn Internet vẫn
là chủ yếu,qua tivi, điều tra quan sát.
Sau khi tiếp nhận thông đa số các bạn xử lý thông tin, và vận dụng kiến thức
nghiên cứu được vào giải quyết bài tập, xử lý các tình huống thực tế, viết báo cáo.
25