PHẦN MỞ ĐẦU
Tự học là hình thức học tập không thể thiếu được của sinh viên đang học tập tại
các trường đại học. Tổ chức hoạt động tự học một cách hợp lý, khoa học, có chất
lượng, hiệu quả là trách nhiệm không chỉ ở người học mà còn là sự nghiệp đào tạo
của nhà trường. Nhưng liệu tất cả sinh viên đã nhận thức được tầm quan trọng của
vấn đề tự học hay chưa? Và nếu có thì họ đã có phương pháp tự học đúng cách hay
hiệu quả phương pháp tự học của họ còn thấp? Những vấn đề khó khăn gì họ gặp
phải trong quá trình tự học của mình? chính vì thế qua đề tài: “ nghiên cứu vấn
đề tự học của sinh viên trường đh công nghiệp tp.hcm cơ sở 3” em muốn được
tìm hiểu và nghiên cứu sâu hơn về vấn đề tự học của sinh viên hiện nay. Nội cung
bài nghiên cứu gồm 5 chương:
chương 1: tổng quan về vấn đề tự học của sinh viên
chương 2: cơ sở lý luận
chương 3: mô hình nghiên cứu
chương 4: thực trạng và kết quả nghiên cứu
chương 5 : kết luận và các đề xuất
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN
cơ sở hình thành đề tài
Quan sát hàng ngày, thấy rằng một bộ phận sinh viên học tập bây giờ thật đáng
suy nghĩ. Rất ít khi trong lớp có đủ mặt sĩ số tham gia học tập. Và, trong số ấy
lại không ít sinh viên lơ là nghe giảng hoặc tham gia trong các hoạt động dạy
và học một cách cho có lệ, hoặc là nghe đấy nhưng đầu óc lại đang nghĩ tận
đâu đâu. Phải chăng là họ đang say sưa với thành tích đã vượt qua được nhiều
người để bước vào cổng trường đại học và đã mãn nguyện lắm rồi? Vì thế nào
họ cũng tốt nghiệp ra trường và sẽ thành danh. Một quan niệm nữa cũng trở
thành “tập quán” trong sinh viên là đã qua được học phần nào thì xếp gọn lại
sách vở môn đó và xóa sạch “băng” đã ghi nhớ trong đầu. Rất hiếm sinh viên
khi học xong, thi xong học phần còn giữ lại bài, bài ghi môn học. Chính vì vậy,
hơn bao giờ hết, việc tự học của sinh viên với ý nghĩa có trách nhiệm đối với
chính bản thân họ phải được coi là mấu chốt, là động lực thôi thúc họ, thậm chí
trở thành vấn đề nóng bỏng trong học tập theo hệ thống tín chỉ hiện nay.
thức cơ bản, những đường nét cơ bản để khi ra trường, nó trở thành nền tảng tri
thức chứ không hẳn đã là cẩm nang nhất thành bất biến trong suốt cuộc đời các
em. Phải coi tự học như là nhu cầu nội tại vươn lên làm chủ tri thức để làm việc
và chủ động hơn trong cuộc sống của sinh viên sau này - trong điều kiện nhiều
môn học không giảm số lượng và mức độ của tri thức, thậm chí tăng lên đồng
thuận với yêu cầu của xã hội ngày càng khắt khe đối với việc tuyển dụng nhân
lực.
Tự học phải là tự mình học ở mọi nơi, mọi lúc với điều kiện nhất định. Ở trên
lớp, ở nhà, ở Thư viện hay khi “lướt sóng” trên mạng đều là quá trình tiếp cận
tri thức, xử lý thông tin để chắt lọc những thông tin có ích và biến thành tri
thức của mình.
mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu những kiến thức căn bản nhất về vấn đề tự học của sinh viên. Nêu rõ
được nội dung của hoạt động tự học gồm mấy vấn đề, để tiếp cận nó phải tuân
thủ theo qui trình nào, điều kiện để áp dụng có hiệu quả các yêu cầu ra sao….
Tìm hiểu tầm quan trọng của vấn đề tự học , và làm thế nào để nâng cao tinh
thần tự học của sinh viên.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Các bạn sinh viên học theo hệ tín chỉ tại trường đại học công nghiệp cơ sở 3 tại
Thanh Hóa
Đề tài được thực hiện trong khoảng thời gian từ 15/9 – 26/10/2013
phương pháp nghiên cứu
1.4.1 dữ liệu sơ cấp và phương pháp thu thập
trực tiếp thu thập tại các sinh viên trong trường, điều tra, thu thập và xử lý nó
để phục vụ cho việc nghiên cứu của mình
được thu thập bằng các phương pháp như sau:
phương pháp quan sát:
quan sát trực tiếp việc tự học của sinh viên trong thư viện trường, tại các phòng
học, trong khuôn viên trường và cả trên ký túc xá.
Quan sát gián tiếp kết quả học tập của các bạn sinh viên để biết mức độ nắm
Trong bài phát biểu tại hội thảo Nâng cao chất lượng dạy học tổ chức vào
tháng 11 năm 2005 tại Đại học Huế, GS Trần Phương cho rằng: “ Học bao giờ
và lúc nào cũng chủ yếu là tự học, tức là biến kiến thức khoa học tích lũy từ
nhiều thế hệ của nhân loại thành kiến thức của mình, tự cải tạo tư duy của mình
và rèn luyện cho mình kĩ năng thực hành những tri thức ấy”.
ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
Trong nội dung của bài này em muốn trình bày những kiến thức căn bản nhất
về vấn đề tự học của sinh viên. Nhằm nêu rõ nội dung của hoạt động tự học
gồm mấy vấn đề, để tiếp cận nó phải tuân thủ theo qui trình nào, điều kiện để
áp dụng có hiệu quả các yêu cầu ra sao… từ đó xây dựng những biện pháp dạy
tự học tích cực tương ứng. Giúp sinh viên hiểu được tầm quan trọng của vấn đề
tự học và tìm cho mình giữ một phương pháp tự học phù hợp nhất để học tập
và nghiên cứu thuận lợi hơn đạt kết quả cao, và góp phần nâng cao chất lượng
đào tạo
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1 . Khái niệm tự học
2.1.1 Tự học là gì?
Trong tập bài giảng chuyên đề Dạy tự học cho SV trong các nhà trường trung
học chuyên nghiệp và Cao đẳng, Đại học GS – TSKH Thái Duy Tuyên viết: “Tự
học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, là tự mình động
não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng
hợp…)cùng các phẩm chất động cơ, tình cảm để chiếm lĩnh tri thức một lĩnh vực
hiểu biết nào đó hay những kinh nghiệm lịch sử, xã hội của nhân loại, biến nó
thành sở hữu của chính bản thân người học”.
Tác giả Nguyễn Kỳ ở Tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 7/ 1998 cũng bàn về
khái niệm tự học: “Tự học là người học tích cực chủ động, tự mình tìm ra tri thức
kinh nghiệm bằng hành động của mình, tự thể hiện mình. Tự học là tự đặt mình
vào tình huống học, vào vị trí nghiên cứu, xử lí các tình huống, giải quyết các vấn
đề, thử nghiệm các giải pháp…Tự học thuộc quá trình cá nhân hóa việc học”.
giáo dục là hình thành phẩm chất đó cho người học. Bởi từ đó nền giáo dục mới
mong đào tạo ra những lớp người năng động, sáng tạo, thích ứng với mọi thị
trường lao động, góp phần phát triển cộng đồng. Có thể xem tính tích cực (hình
thành từ năng lực tự học) như một điều kiện, kết quả của sự phát triển nhân cách
thế hệ trẻ trong xã hội hiện đại. Trong đó hoạt động tự học là những biểu hiện sự
gắng sức cao về nhiều mặt của từng cá nhân người học trong quá trình nhận thức
thông qua sự hưng phấn tích cực. Mà hưng phấn chính là tiền đề cho mọi hứng thú
trong học tập. Có hứng thú người học mới có được sự tự giác say mê tìm tòi
nghiên cứu khám phá. Hứng thú là động lực dẫn tới tự giác. Tính tích cực của con
người chỉ được hình thành trên cơ sở sự phối hợp ngẫu nhiên giữa hứng thú với tự
giác. Nó bảo đảm cho sự định hình tính độc lập trong học tập.
Tự học giúp cho mọi người có thể chủ động học tập suốt đời, học tập để khẳng
định năng lực phẩm chất và để cống hiến. Tự học giúp con người thích ứng với
mọi biến cố của sự phát triển kinh tế - xã hội. Bằng con đường tự học mỗi cá nhân
sẽ không cảm thấy bị lạc hậu so với thời cuộc, thích ứng và bắt nhịp nhanh với
những tình huống mới lạ mà cuộc sống hiện đại mang đến, kể cả những thách thức
to lớn từ môi trường nghề nghiệp. Nếu rèn luyện cho người học có được phương
pháp, kĩ năng tự học, biết linh hoạt vận dụng những điều đã học vào thực tiễn thì sẽ
tạo cho họ lòng ham học, nhờ đó kết quả học tập sẽ ngày càng được nâng cao.
Với những lí do nêu trên có thể nhận thấy, nếu xây dựng được phương pháp
tự học, đặc biệt là sự tự giác, ý chí tích cực chủ động sáng tạo sẽ khơi dậy năng lực
tiềm tàng, tạo ra động lực nội sinh to lớn cho người học.
2.2 NỘI DUNG CỦA TỰ HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY TỰ HỌC CHO SINH
VIÊN
2.2.1. Nội dung của quá trình tự học
Bàn về hoạt động tự học và phương pháp tổ chức cho SV tự học như thế nào
để có hiệu quả thiết thực là một vấn đề hoàn toàn không đơn giản. Ngoài việc tìm
hiểu khái niệm, những vấn đề liên quan đến động cơ, thói quen học tập của SV thì
mỗi GV rất cần đến quá trình nghiên cứu nhằm tìm ra nội dung cơ bản, các phương
Động cơ nhiệm vụ và trách nhiệm thì bắt buộc người học phải liên hệ với ý
thức về ý nghĩa xã hội của sự học. Giống như nghĩa vụ đối với Tổ quốc, trách
nhiệm đối với gia đình, thầy cô, uy tín danh dự trước bạn bè…Từ đó các em mới
có ý thức kỉ luật trong học tập, nghiêm túc tự giác thực hiện mọi nhiệm vụ học tập,
những yêu cầu từ GV, phụ huynh, tôn trọng mọi chế định của xã hội và sự điều
chỉnh của dư luận.
Cả hai động cơ trên không phải là một quá trình hình thành tự phát, cũng
chẳng được đem lại từ bên ngoài mà nó hình thành và phát triển một cách tự giác
thầm lặng từ bên trong. Do vậy người GV phải tùy đặc điểm môn học, tùy đặc
điểm tâm sinh lí lứa tuổi của đối tượng để tìm ra những biện pháp thích hợp nhằm
khơi dây hứng thú học tập và năng lực tiềm tàng nơi SV. Và, điều quan trọng hơn
là tạo mọi điều kiện để sinh viên tự kích thích động cơ học tập của mình.
Đối với phần đông những người trẻ, việc tạm gác những thú vui, những trò
giải trí hấp dẫn nhất thời để toàn tâm toàn sức cho việc học là hai điều có ranh giới
vô cùng mỏng manh. Nó đòi hỏi sự quyết tâm cao và một ý chí mạnh mẽ cùng nghi
lực đủ để chiến thắng chính bản thân mình. Đối với người trưởng thành, khi mục
đích cuộc đời đã rõ, ý thức trách nhiệm đối với công việc đã được xác định và sự
học đã trở thành niềm vui thì việc xác định động cơ thái độ học tập nói chung
không khó khăn như thế hệ trẻ. Tuy nhiên không phải là hoàn toàn không có. Vì
suy cho cùng ai cũng có những nhu cầu riêng và từ đó có những hứng thú khác
nhau. Vấn đề là phải biết kết hợp biện chứng giữa nội sinh và ngoại sinh, tức là
hứng thú nhận thức, hứng thú trách nhiệm được đánh thức, khơi dậy trên cơ sở
những điều kiện tốt từ bên ngoài. Trong đó người thầy đóng vai trò chủ đạo.
2.2.1.2 Xây dựng kế hoạch học tập
Đối với bất kì ai muốn việc học thật sự có hiệu quả thì mục đích, nhiệm vụ và
kế hoạch học tập phải được xây dựng cụ thể, rõ ràng. Trong đó kế hoạch phải được
xác định với tính hướng đích cao. Tức là kế hoạch ngắn hạn, dài hơi thậm chí từng
môn, từng phần phải được tạo lập thật rõ ràng, nhất quán cho từng thời điểm từng
giai đoạn cụ thể sao cho phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của mình. Vấn đề kế tiếp
là phải chọn đúng trọng tâm, cái gì là cốt lõi là quan trọng để ưu tiên tác động trực
ra trong vô thức mà cần có sự gia công, xử lí mới có thể sử dụng được. Quá trình
này có thể được tiến hành thông qua việc phân tích, đánh giá, tóm lược, tổng hợp,
so sánh…
- Vận dụng tri thức, thông tin: Trong việc vận dụng thông tin tri thức khoa học
để giải quyết các vấn đề liên quan như thực hành bài tập, thảo luận, xử lí các tình
huống, viết bài thu hoạch, báo cáo khoa học, tổng thuật… SV thường gặp rất nhiều
khó khăn. Có lúc tìm được một khối lượng lớn tư liệu nhưng việc tập hợp phân loại
nội dung để kiến giải một vấn đề lại không thực hiện được. Trong trường hợp này
cần khoanh vùng vấn đề trong một giới hạn đừng quá rộng. Chỉ cần tập trung đào
sâu một vấn đề nào đó nhằm phát hiện ra cái mới có giá trị thực tiễn là đáp ứng yêu
cầu. Trong khâu này việc lựa chọn và thay đổi hình thức tư duy để tìm ra cách thức
tối ưu nhất cho đối tượng nghiên cứu cũng rất cần thiết.
- Trao đổi, phổ biến thông tin: Việc trao đổi kinh nghiệm, chia sẻ thông tin tri
thức hay diển ngôn theo yêu cầu thông qua các hình thức: hội thảo, báo cáo khoa
học, thảo luận, thuyết trình, tranh luận… là công việc cuối cùng của quá trình tiếp
nhận tri thức. Hoạt động này giúp người học có thể hình thành và phát triển kĩ
năng trình bày (bằng lời nói hay văn bản) cho người học. Giúp người học chủ
động, tự tin trong giao tiếp ứng xử, phát triển năng lực hợp tác và làm việc nhóm
tốt.
2.2.1.4 Tự kiểm tra đánh giá kết quả học tập
Việc nhìn nhận kết quả học tập được thực hiện bằng nhiều hình thức: Dùng các
thang đo mức độ đáp ứng yêu cầu của GV, bản thân tự đánh giá, sự đánh giá nhận
xét của tập thể thông qua thảo luận, tự đối chiếu so sánh với mục tiêu đặt ra ban
đầu… Tất cả đều mang một ý nghĩa tích cực, cần được quan tâm thường xuyên.
Thông qua nó người học tự đối thoại để thẩm định mình, hiểu được cái gì làm
được, điều gì chưa thỏa mãn nhu cầu học tập nghiên cứu để từ đó có hướng khắc
phục hay phát huy.
Vấn đề tự học rõ ràng không hề đơn giản. Muốn hoạt động học tập có hiệu quả
nhất thiết SV phải chủ động tự giác học tập bất cứ lúc nào có thể bằng chính nội
lực của bản thân. Vì nội lực mới chính là nhân tố quyết định cho sự phát triển.
tích lũy kết quả học tập một cách bền vững. Việc sử dụng và tận dụng tốt quĩ thời
gian cũng cần được đặt ra để không phải bị động trước khối lượng các môn học
cũng như áp lực công việc.
2.2.2.2Dạy cách nghe giảng và ghi chép theo tinh thần tự học.
Nghe giảng và ghi chép là những kĩ năng mà ai cũng phải sử dụng trong quá
trình học tập. Trình độ nghe và ghi chép của người học không giống nhau ở những
môn học khác nhau. Nó ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình học tập. Tuy nhiên đây
là vấn đề mà xưa nay chưa có ai nghiên cứu. Mỗi người đều phải tự mình rèn luyện
thói quen ghi chép để có thể có được những thông tin cần thiết về môn học. Điều
quan trọng trước tiên là GV cần truyền đạt cho SV những nguyên tắc chính của
hoạt động nghe – ghi chép. Với các môn KHXH – NV thường có dung lượng câu
chữ nhiều, việc vừa chú ý theo dõi để tri nhận thông tin vừa mong muốn ghi chép
thật đầy đủ khiến đôi lúc trở thành một thách đố lớn. Các em thường mang lối học
thụ động, quen tách việc nghe và ghi chép ra khỏi nhau, thậm chí nhiều SV chỉ chờ
GV đọc mới có thể ghi chép được nội dung bài học nếu ngược lại thì đành bỏ trống
vở khiến tâm lí bị ức chế ảnh hưởng đến quá trình tiếp nhận kiến thức. Thực tế đó
đòi hỏi người học phải tập trung tư tưởng cao độ để có khả năng lĩnh hội vấn đề
một cách khoa học nhất. Phải rèn luyện để có khả năng huy động vốn từ, sử dụng
tốc độ ghi chép nhanh bằng các hình thức viết tắt, gạch chân, tóm lược bằng sơ đồ
hình vẽ những ý chính, các luận điểm quan trọng mà GV nhấn mạnh, lặp lại nhiều
lần là điều vô cùng cần thiết. Ngoài ra, trong quá trình học tập trên lớp, nếu có vấn
đề nào không hiểu cần đánh dấu để hỏi ngay sau khi GV ngừng giảng nhằm đào
sâu kiến thức và tiết kiệm thời gian. Rất tiếc, trên thực tế đây là điểm yếu mà phần
lớn SV không quan tâm rèn luyện để có được.
Muốn tạo điều kiện cho SV nghe giảng và ghi chép tốt, GV cần lưu ý:
- Nội dung bài giảng phải mới mẻ, thiết thực, cần thiết có thể tạo ra những tình
huống giả định yêu cầu SV suy nghĩ phản biện .
- Các câu hỏi, vấn đề đặt ra trong giờ giảng phải có sự chọn lọc kĩ lưỡng, tập
trung vào trọng tâm bài học như một cách phát tín hiệu cho SV xác định nội dung
chính.
2.2.2.4 Dạy cách nghiên cứu
Trước hết là dạy cách xác định đề tài, chủ đề nghiên cứu sao cho phù hợp với
sở trường năng lực của mình và yêu cầu của chuyên ngành đào tạo. Tiếp đến là dạy
cách lựa chọn và tập hợp, phân loại thông tin và cách xử lí thông tin trong khuôn
khổ thời gian cho phép. Cơ sở lí luận của các môn KHXH&NV thường mang tính
hàn lâm, tính kế thừa cao. Trong lúc trên thực tế các vấn đề xã hội lại thay đổi từng
giây. Vì thế việc xác định nguồn tài liệu, điều tra, thực nghiệm cũng đòi hỏi mỗi
người phấn đấu nắm bắt kịp thời những vấn đề mang tính thời sự nóng hổi cũng là
một thách thức lớn. Tài liệu sẽ lấy từ nguồn nào, giới hạn phạm vi bao nhiêu, cách
viện dẫn những thông tin ra sao cho chính xác, trích dẫn những vấn đề điển hình
nào cho có tính thuyết phục… là những vấn đề cần được hướng dẫn kĩ lưỡng chu
đáo từ phía GV. Một đề cương nghiên cứu chuẩn mực, khoa học trong cấu trúc
chung từ tổng quan của vấn đề nghiên cứu, các cấp độ nội dung cần triển khai và
cách xác định phương pháp nghiên cứu phản ánh rất rõ năng lực của mỗi SV. Cần
hình thành và rèn luyện cho các em sớm có được kĩ năng ấy. Ngoài ra, việc tự
kiểm tra đánh giá kết quả nghiên cứu trên cơ sở tranh thủ ý kiến của bạn bè thầy cô
cũng đem lại lợi ích thiết dụng cho người nghiên cứu, nhất là những SV bước đầu
làm quen với khoa học.
2.3 Các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng tới vấn đề tự học
2.3.1 Môi trường học và cơ sở vật chất
Môi trường xung quanh tuy không hoàn toàn là yếu tố gây ảnh hưởng tới vấn đề
sinh viên không tự học nhưng nó cũng ảnh hưởng nhiều tới chất lượng học tập của
sinh viên, môi trường mà ồn ào, không sạch sẽ ảnh hưởng tới cảm xúc của con
người khiến chúng ta mất tập trung và không thể tiếp thu kiến thức được, như vậy
kết quả học tập, nghiên cứu sẽ bị suy giảm và gây tâm lý chán học, ngại học cho
sinh viên.
Hơn nữa cơ sở vật chất cũng phải đáp ứng được cả về số lượng và chất lượng như:
phòng học phải đủ kích thước, ánh sáng, bàn ghế đúng quy cách cho sinh viên ngồi
học, như vậy thì sẽ giúp sinh viên thoải mái trong quá trình học và nghiên cứu
Cần có thư viện rộng rãi, yên tĩnh và sạch sẽ cho sinh viên nghiên cứu ngoài giờ
34(56
7
8
93:;07<=
8
>?2#&8;*
#"5+#@
AB4CD*7E$"
"
3.2. Mô hình nghiên cứu đề xuất
3.2.2 Căn cứ mô hình nghiên cứu tổng thể, sau khi khảo sát, nghiên cứu các văn
bản có liên quan đến vấn đề tự học và đặc biệt là các văn bản có liên quan đến vấn
đề tự học và các ý kiến của sinh viên, em xây dựng mô hình nghiên cứu đề xuất
và thực hiện đánh giá theo mô hình nghiên cứu này để rút ra các giải pháp nâng
vấn đề tự học của sinh viên trường Đh Công nghiệp TPHCM cơ sở 3 thông qua các
tiêu chí sau
1) Xây dựng động cơ học tập
Trong rất nhiều động cơ học tập của SV, có thể khuôn tách thành hai
nhóm cơ bản:
Các động cơ hứng thú nhận thức.
Các động cơ trách nhiệm trong học tập
2) Xây dựng kế hoạch học tập
Muốn việc học thật sự có hiệu quả thì mục đích, nhiệm vụ và kế
hoạch học tập phải được xây dựng cụ thể, rõ ràng, tùy thuộc để xác
định kế hoạch ngắn hạn, dài hạn, thậm chí theo từng môn, từng phần
phải được tạo lập thật rõ ràng, nhất quán cho từng thời điểm từng giai
đoạn cụ thể sao cho phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của mình.
Chọn đúng trọng tâm, cái gì là cốt lõi là quan trọng để ưu tiên tác
2#F<144#+G"6
2<DH<IJ("
K5(2#+CL
K5(21J:
Xây dựng động cơ
học tập
H1 Xác định đúng đắn động cơ mục đích
học tập của mình. Thì sẽ tập trung cao
độ trong quá trình tự học.
(+)
Xây dựng kế
hoạch học tập
H2 Xây dựng kế hoạch học tập hợp lý thì
hiệu quả của việc tự học sẽ cao hơn. (+)
Tự mình nắm
vững nội dung tri
thức
H3 Nắm vững nội dung kiến thức bằng
việc tìm kiếm và nghiên cứu thì sẽ giúp
vốn kiến thức sâu rộng hơn, việc tự học
sẽ có kết quả cao hơn.
(+)
Tự kiểm tra đánh
giá kết quả học tập
H4 Tự kiểm tra đánh giá để khắc phục và
phát huy những vấn đề chưa đạt thì
giúp cho quá trình tự học dễ dàng hơn
Sơ đồ 1: quy trình nghiên cứu
Quy trình trên được bắt đầu từ xác định vấn đề nghiên cứu. Đây là bước quan trọng
để xác định vấn đề được đưa ra có thực sự cần thiết cho nhà trường và phù hợp với
K41-01!"
3:;EM"5+
N=D"
O7,76CE"
P$"Q
R6"%ST
U%0V
WXYZ
R6"%@
KVEM=
[
U%0@WXYZ
Báo cáo
khả năng của người nghiên cứu hay không. Để thực hiện được bước này, em đã đặt
ra các câu hỏi và tự trả lời để xác định vấn đề nào là thích hợp nhất.
3.4.Thang đo
Nghiên cứu chủ yếu sử dụng thang đo Danh nghĩa
Thang đo Danh nghĩa (thang đo biểu danh) là loại thang đo định tính để phân loại
các đối tượng: giới tính, bậc học. Mục đích chủ yếu là sử dụng cho phân tích sự
khác biệt về thái độ giữa các nhóm nghiên cứu.
3.5 Thiết kế bảng câu hỏi
Bảng câu hỏi gồm 11 câu với 2 loại câu hỏi đóng và mở
Bảng câu hỏi gồm các phần :
Tên bảng hỏi và giới thiệu
Các câu hỏi điều tra
Thông tin của người được hỏi
Lời cảm ơn
4 Hiệu chỉnh cuối cùng
CHƯƠNG 4: THỰC TRẠNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 thực trạng
Tự học có vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình học đại học của sinh viên. Tự
học nhằm phát huy tính tự giác học và nghiên cứu. Việc tự học đối với sinh viên có
vai trò hết sức quan trọng vì qua đó góp phần giúp cho sinh viên rèn luyện khả
năng tư duy và sáng tạo của cá nhân. Đa số sinh viên trong trường đều nhận thức
rằng vấn đề tự học là quan trọng khi áp dụng theo học chế tín chỉ (58%-phụ lục2),
tuy nhiên việc tự học này đồng nghĩa với hứng thú trong nhận thức (34%-phụ luc2)
và tự trách nhiệm trong học tập(14%-phụ luc2), không phụ thuộc vào người khác
và không cần sự cộng tác của bạn bè. Sinh viên cho rằng đây là yêu cầu tối thiểu
của một sinh viên. Ngoài ra phải giao lưu học hỏi ở các bạn khác ngành, các lớp
đàn anh để nâng cao trình độ và nắm bài tốt hơn.
Học theo chương trình tín chỉ hóa nên việc tự học là rất quan trọng, tuy nhiên để
nhằm bổ sung thêm kiến thức sinh viên thường tạo ra những nhóm học để các bạn
dễ dàng trao đổi kiến thức và giúp đỡ nhau trong học tập. Có lớp cho rằng việc tự
học có nghĩa là học theo nhóm trao đổi thông tin với nhau (26%-phụ luc2), sinh
viên cho rằng tự học theo nhóm mang lại hiệu quả cao nhưng cũng có ý kiến cho
rằng vào học chỉ lo trò chuyện, cười giỡn không thể tiếp thu được nhiều nên hiệu
quả kém. Theo ý kiến của một số sinh viên muốn học nhóm có hiệu quả cao thì cần
tuân thủ một số điều quan trọng như không nói chuyện, đùa giỡn trong khi học,
phải có một trưởng nhóm có kiến thức vững và biết cách truyền tải lượng kiến thức
đó một cách hiệu quả nhất, biết điều tiết “nhiệt độ” học và biết phân bố thời gian
học hợp lý và sinh động để các thành viên học không bị chán.
Theo ý kiến của sinh viên thì một trong những nguyên nhân khó thực hiện việc tự
học là do phải học quá nhiều môn học trong một học kỳ, đặc biệt là những sinh
viên có tham gia học ngành 2 đã đăng ký tối đa số tín chỉ trong một học kỳ 25
chỉ(58%-phụ luc2) . Do đó sinh viên không còn thời gian cho việc tự học.
Có 62%(phụ luc2) các bạn sinh viên xây dưng kế hoạch học tập điều đó sẽ giúp
quá trình tiến hành việc học được trôi chảy thuận lợi. Còn 38%( phụ luc2) các bạn
bạn học với số tiết <20, còn lại 58% học với lượng tiết từ 20-25( nguồn phụ lục 2)