Vấn đề lối sống của sinh viên trường Đại học Sư phạm kỹ thuật Hưng Yên hiện nay - Pdf 25


103
Đại học quốc gia Hà Nội
trung tâm đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị Đào Văn Mừng
Vấn đề lối sống của sinh viên
trường đại học Sư phạm Kỹ thuật
Hưng yên hiện nay
Luận văn thạc sĩ Triết học Luận văn Thạc sĩ Triết học

Người hướng dẫn khoa học
: GS.TS. Nguyễn Văn Huyên

Hà Nội - 2006
1
Mục lục
Mở đầu
3
Chương 1. Một số vấn đề lý luận về lối sống 8
1.1. Khái niệm lối sống 8
1.2. Yêu cầu về lối sống trong thời đại ngày nay 26
Chương 2. Thực trạng lối sống của sinh viên Trường Đại học Sư phạm
Kỹ thuật Hưng Yên
40
2.1. Những ưu điểm của lối sống sinh viên Trường Đại học Sư phạm Kỹ
thuật Hưng Yên 40
2.2. Mặt hạn chế và những vấn đề đặt ra đối với việc xây dựng lối sống
sinh viên Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên 57
Chương 3. Phương hướng và giải pháp xây dựng lối sống sinh viên Đại
học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên hiện nay


XHTB: Xã hội tư bản

3
Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục lối sống lành mạnh cho sinh viên là một trong những
nhiệm vụ trọng tâm của công tác giáo dục Đại học và Cao đẳng. Mục
đích của sự nghiệp giáo dục đó là tạo ra những con người có phẩm chất
tốt đẹp, đáp ứng được nhu cầu phát triển của xã hội. Trong quá trình vận
dụng tư tưởng đạo đức cách mạng của Hồ Chí Minh vào việc xây dựng
lối sống mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định nhiệm vụ, mục tiêu
cơ bản của giáo dục là: “coi trọng bồi dưỡng cho học sinh viên khát
vọng mãnh liệt xây dựng đất nước giầu mạnh, gắn liền lập nghiệp bản
thân với tương lai của cộng đồng, của dân tộc,trau dồi cho học sinh, sinh
viên bản lĩnh, phẩm chất và lối sống của thế hệ trẻ Việt Nam hiện đại”
[6, tr.207].
Hiện nay xu thế toàn cầu hoá đang diễn ra hết sức mạnh mẽ, tác
động sâu sắc đến mọi mặt của đời sống xã hội nước ta. Trong nước, nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), một mặt đang
đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế xã hội, mặt khác cũng làm nảy
sinh nhiều tiêu cực có khả năng can thiệp, tác động, phá vỡ những giá trị
văn hoá truyền thống, làm băng hoại các giá trị đạo đức. Hơn nữa, các
thế lực phản động trong nước và quốc tế, “với diễn biến hoà bình"
không chỉ tấn công mạnh mẽ vào chính trị mà còn tấn công vào các lĩnh
vực văn hoá, đạo đức, lối sống, trong đó đối tượng chủ yếu là thanh
thiếu niên, sinh viên. Trên thực tế, một bộ phận sinh viên đang suy thoái
về đạo đức, chạy theo lối sống thực dụng, ích kỷ, thiếu hoài bão, sống
không có lý tưởng. Chính vì vậy, Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành
Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) khoá IX xác định:

- Giáo dục nhân văn vì sự phát triển con người, Tạp chí Cộng sản,
số 3/1991 của Nguyễn Văn Huyên.

5
- Sự hình thành nhân phẩm con người với tư cách chủ thể sáng
tạo. Tạp chí Triết học, số 04/1997 của Nguyễn Văn Huyên.
- “Tìm hiểu lối sống của sinh viên Hà Nội trong điều kiện kinh tế
thị trường”. Đề tài KX 07, Hà Nội 1997 do Thái Duy Tuyên làm chủ
biên.
- Xây dựng đạo đức, lối sống và chuẩn mực giá trị xã hội để hoàn
thiện phát triển con người. Tạp chí Thông tin lý luận, số 03/1998 của
Huỳnh Khái Vinh.v.v…
Các công trình nghiên cứu trên đã làm sáng tỏ những vấn đề cơ
bản về lối sống và sự biến đổi của lối sống dưới tác động của nền kinh
tế thị trường định hướng XHCN. Trong đó, với những đặc thù của mình,
thanh niên, sinh viên là đối tượng chịu sự tác động toàn diện và sâu sắc
nhất từ các yếu tố khách quan của công cuộc đổi mới ở nước ta hiện
nay. Vì vậy nhiều đề tài đã cố gắng tập trung nghiên cứu đối tượng này.
Tuy nhiên, nhìn chung các kết quả được rút ra vẫn còn mang tính khái
quát, chú trọng nhiều vào thanh niên, sinh viên ở đô thị mà chưa quan
tâm đúng mức thanh niên, sinh viên ở các vùng nông thôn. Hoặc có chia
tách một cách tương đối để nghiên cứu thì vẫn tồn tại ở những mảng
khối lớn, mà chưa thấy nhiều đề tài đi sâu vào các vấn đề có phạm vi
nhỏ nhưng tính cụ thể và triệt để cao.
Cho đến nay, chúng tôi chưa thấy một đề tài nào bàn về lối sống
của sinh viên ĐHSPKT Hưng Yên và xây dựng lối sống sinh viên
ĐHSPKT Hưng Yên trong giai đoạn hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
*
Mục đích

5.Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:
* Cơ sở lý luận
:
Đề tài dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp
luận của chủ nghĩa Mác -Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; các quan
điểm của Đảng ta về lối sống, đồng thời kế thừa một cách có chọn lọc ý
tưởng của các tác giả đi trước về vấn đề này.
* Luận văn sử dụng các phương pháp cơ bản
:
Lịch sử - logíc,
phân tích - tổng hợp, gắn lý luận với thực tiễn, điều tra xã hội học.
6
. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
:
* đ
óng góp của luận văn:
- Luận văn góp phần làm sáng tỏ hơn bản chất và những đặc trưng
cơ bản của lối sống nói chung, lối sống của sinh viên ở Hưng Yên nói
riêng; giúp cho nhà trường và các cơ quan hữu quan trong việc vận

7
dụng, xây dựng lối sống hiện nay cho sinh viên đang sống và và học tập
trong các trường đóng ở địa bàn nông thôn.
- Khảo sát thực trạng lối sống của sinh viên ĐHSPKT Hưng Yên
hiện nay làm cơ sở thực tế cho việc xây dựng chương trình, kế hoạch và
giải pháp cụ thể để xây dựng lối sống cho sinh viên trường ĐHSPKT
Hưng Yên trong những năm tới.
*
ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn:


+ Quan niệm về lối sống của một số học giả tư sản phương Tây:
Các nhà triết học, xã hội học phương Tây đưa ra nhiều quan niệm
khác nhau về lối sống. Tuy nhiên, do đứng trên lập trường tư sản cho
nên họ không đặt vấn đề nghiên cứu lối sống trong một hệ thống đầy
đủ,toàn diện, phổ biến, mà thường di vào những hiện tượng, biểu hiện
cụ thể. Theo họ, lối sống chính là cuộc sống riêng tư của mỗi cá nhân,
hay một nhóm xã hội, được biểu hiện ở khả năng đảm bảo ở mức độ nào
đó, mà trước hết là mức độ tiêu dùng. Từ những lập luận như vậy, các
nhà nghiên cứu coi lối sống tư sản chính là thước đo, là chuẩn mực cho
các lối sống khác, đó là giới hạn cuối cùng của sự tiến bộ của lịch sử.
Xuất phát từ lập trường và phương hướng tiếp cận phiến diện đó, các
nhà nghiên cứu lối sống tư sản đã cố tình bỏ qua bản chất đối kháng giai
cấp của lối sống, nhằm tìm cách thoát khỏi sự kiềm toả khách quan của
mối quan hệ giữa lao động và tư bản, từ đó hạ thấp vai trò của lao động
trong việc hình thành bản chất của lối sống nhằm che đậy bản chất bóc
lột của giai cấp Tư sản. Chẳng hạn, theo tác giả MácVeber (nhà xã hội
học người Đức) thì, lối sống thể hiện vị trí của các nhóm xã hội; theo đó

9
khái niệm lối sống dùng để phản ánh kiểu sống của một nhóm xã hội cụ
thể. Nhóm xã hội được xem như một chỉnh thể hình thành từ các yếu tố
tâm lý, danh dự, và khả năng tiêu thụ những hàng hoá khác nhau. Ví dụ,
nhóm xã hội thông qua phương tiện, đi lại bằng ô tô, mô tô, xe đạp…;
nhóm xã hội theo mức lương, thu nhập; nhóm xã hội du lịch, nghỉ
ngơi.v.v… [15, tr.25].
Như vậy, đối tượng khảo sát để nghiên cứu lối sống của các tác
giả tư sản được xác định một cách phiến diện. Những đối tượng đó
không tồn chứa các nội dung cơ bản nhất để có thể khái quát được một
cách đầy đủ về bản chất của lối sống.
+ Một số quan niệm về lối sống ở Liên Xô trước đây:

quan niệm về lối sống. Thậm chí, ngay trong quan niệm mác xít về lối
sống cũng tồn tại nhiều quan điểm khác nhau. Chẳng hạn, tiến sĩ Triết
học (Liên Xô) M.N Rutkêvich. Trong bài viết “Lối sống XHCN và sự
phát triển của nó” (1977) đã nêu: “Lối sống là một tổng thể, một hệ
thống nhưng đặc điểm chủ yếu nói lên hoạt động của các dân tộc, các
giai cấp, các nhóm xã hội, các cá nhân trong những điều kiện của một
hình thái kinh tế - xã hội nhất định” [16, tr.27]. Hoặc nhà nghiên cứu
(người Hunggari Z.Dunốp lại cho rằng: “Lối sống trước hết là những
điều kiện trong đó con người tự tái sản xuất về mặt sinh học cũng như
về mặt xã hội. Đó là toàn bộ những hành vi hàng ngày, ổn định và điển
hình của con người” [1, tr.6]. Cũng bàn về lối sống, G.Glezerman, một
nhà nghiên cứu người Liên Xô khác lại cho rằng: “Lối sống là những
nét cơ bản, nói lên những đặc điểm của các hoạt động sống của xã hội,
dân tộc, giai cấp, các nhóm xã hội, các cá nhân trong một hình thái kinh
tế -xã hội nhất định” [16, tr.17].v.v…

11
Những quan điểm khác nhau của các nhà nghiên cứu mác xít về
lối sống chủ yếu biểu hiện ở hình thức và cách đặt vấn đề. Nhưng điểm
thống nhất là ở chỗ, tất cả các quan điểm đó đều tiếp cận vấn đề từ
PTSX và Phương pháp duy vật lịch sử.
+ Một số quan niệm về lối sống ở Việt nam trước đây:
ở Việt Nam trước đây cũng đã xuất hiện những quan niệm khác
nhau về lối sống. Mặc dù các quan điểm được nêu lên không mâu thuẫn
nhau, nhưng tính thống nhất giữa chúng vẫn chưa biểu hiện một cách rõ
nét. Chẳng hạn quan điểm của các tác giả trong tập bài giảng “Văn hoá
xã hội chủ nghĩa” của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh khi bàn
về lối sống có nêu: “Lối sống là một phạm trù xã hội học, khái quát toàn
bộ hoạt động sống của các dân tộc, các giai cấp, các nhóm xã hội, các cá
nhân trong những điều kiện của một hình thái kinh tế-xã hội nhất định ;

sẽ có cái nhìn đầy đủ về lối sống.
Thứ nhất
: Nội dung kinh tế của lối sống.
Lối sống của một cá nhân, tập thể, một cộng đồng xã hội không
phải là một hiện tượng bẩm sinh, tự nhiên mà nó được hình thành trên
cơ sở của các quan hệ sản xuất (QHSX) nhất định cùng với các cơ sở
kinh tế tương ứng . Lối sống theo quan niệm mácxít hình thành và phát
triển trên cơ sở công hữu về tư liệu sản xuất và nền tảng kinh tế xã hội
XHCN. Chính điều đó đã quy định, ảnh hưởng và chi phối trực tiếp đến
lối sống của con người và xã hội.
Đối với con người, hoạt động lao động sản xuất vật chất là biểu
hiện hàng đầu của lối sống. Trong quá trình lao động, các mối quan hệ
giữa con người với con người và giữa con người với tự nhiên được hình
thành. Khi đó, tồn tại xã hội chính là sản phẩm của quá trình hoạt động
sống của con người. Mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong quá
trình sản xuất là mối quan hệ giữa khách thể và chủ thể tác động, Tính
mục đích của dạng hoạt động thực tiễn đó tự nó đã hình thành và phản

13
ánh đầy đủ về các nguyên tắc ứng xử của con người đối với tự nhiên.
Trong quan hệ ứng xử này, lối sống của con người trong PTSXTBCN
khác biệt so với lối sống của con người ở PTSXXHCN. Tính kế hoạch
trong việc xây dựng các chương trình kinh tế, bên cạnh đảm bảo hiệu
quả sản xuất còn phải tính đến yếu tố tái tạo. Bảo vệ sự cân bằng sinh
thái là một điểm nổi bật trong lối sống theo quan niệm mácxít.
Ngược lại, vì mục đích lợi nhuận đã hình thành trong lối sống tư
sản một thái độ thiếu tôn trọng giới tự nhiên, không giải quyết một cách
triệt để bài toán về mối quan hệ giữa khai thác và tái tạo, giữa sản xuất
và môi trường. Tuy nhiên đó chỉ mới là một mặt của sản xuất. Mối quan
hệ giữa con người với tự nhiên không đặt cơ sở cho việc giải thích vị trí

Trong nội dung của lối sống theo quan niệm mácxít còn có vấn đề
nhu cầu và lợi ích của mỗi công dân. Nếu quan hệ sở hữu cho phép xác
định vị trí của con người trong xã hội, thì nhu cầu và lợi ích là động cơ
thúc đẩy các hoạt động và quyết định lối sống của con người và các
chiều hướng đa dạng trong sinh hoạt của chính con người.
Nhu cầu và lợi ích vận động và biến đổi dưới sự tác động của sự
phát triển của PTSX. CNXH ra đời trên cơ sở phủ định PTSX tư bản,
mở đường cho việc cải tạo xã hội cũ đặc biệt là trên lĩnh vực kinh tế.
Điều đó cũng cho phép loại bỏ dần các nhu cầu nảy sinh từ sự đối kháng
về mặt lợi ích giữa các giai cấp. Song trùng với quá trình đó, các nhu
cầu và lợi ích của người lao động cũng biến đổi một cách căn bản trên
cơ sở nền kinh tế phát triển có kế hoạch, có định hướng, mở ra khả năng
đa dạng hoá các loại nhu cầu trong quần chúng lao động. Ví dụ, nhu cầu
về văn hoá, giải trí.v.v…
Sản xuất luôn hướng đến sự đa dạng hoá các loại hàng hoá, đó là
hướng đến việc đáp ứng về nhu cầu đa dạng của con người. Việc giải
phóng con người khỏi chế độ người bóc lột người cũng đồng thời giải

15
phóng các nhu cầu cho họ. Tư tưởng giải phóng con người một cách
toàn diện của chủ nghĩa Mác-Lênin đặt ra yêu cầu phải giải phóng và
phát triển toàn diện các nhu cầu. Bởi vì, chỉ khi có điều kiện thoả mãn
các nhu cầu lành mạnh thì con người mới có thể phát triển một cách
toàn diện. Trong hệ thống các nhu cầu thì nhu cầu quan trọng nhất đồng
thời cũng là quyền lợi của con người đó là nhu cầu lao động. Lao động
là cơ sở trực tiếp hình thành lối sống xét ở khía cạnh cá nhân. Bởi vì lao
động một mặt trực tiếp tạo ra của cải vật chất đáp ứng nhu cầu cơ bản
nhất của con người, mặt khác nó là cơ sở để hoàn thiện nhân cách và lối
sống của mỗi con người cụ thể.
ở một khía cạnh khác, lối sống theo quan niệm mácxít cũng phụ

chính trị xã hội XHCN. Là một thành tố quan trọng trong kết cấu của
kiến trúc thượng tầng XHCN, hệ thống chính trị bị quy định bởi kết cấu
của cơ sở hạ tầng XHCN, do đó nguồn gốc sâu xa của nó chính là quan
hệ sở hữu công hữu về tư liệu sản xuất. Vì vậy nhiệm vụ chính trị quan
trọng nhất của người lao động là bảo vệ địa vị thống trị của QHSX
XHCN thông qua hệ thống chính trị và bộ máy quyền lực của nó. Một
trong những đặc trưng cơ bản của lối sống theo quan niệm mác xít là sự
tham gia quản lý xã hội của người lao động, không chỉ thông qua quyền
lực Nhà nước mà còn ở các tổ chức, các đoàn thể xã hội khác: Đoàn
thanh niên, các tổ chức Công đoàn, các Hội v.v…
Tuy nhiên, mọi hoạt động của các tổ chức, các đoàn thể xã hội,
phải tìm đến được sự thống nhất vì mục tiêu chung và phải đặt dưới sự
lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Tức là các chương trình hành động, điều
lệ hoạt động của các hội, các đoàn thể phải được triển khai trên cơ sở
các nghị quyết, đường lối và chính sách của Đảng và Nhà nước. Mặt
khác, để làm cho đời sống chính trị sôi nổi hơn, Đảng phải luôn luôn tạo
điều kiện để khuyến khích các tổ chức, các đoàn thể xã hội phát huy
tính chủ động, sáng tạo trong quá trình hoạt động của chúng.
Nói như vậy, không có nghĩa là chúng ta tuyệt đối hoá vai trò của
tập thể, của xã hội, mà thực chất trong quan niệm mác xít thì sự hướng

17
tới mục đích, nhiệm vụ chung của mỗi cá nhân đối với xã hội, tự nó đã
biểu hiện lối sống cá nhân ở trong đó rồi. Nội dung lối sống theo quan
niệm mác xít đòi hỏi tất cả mọi cá nhân đều có quyền lợi và nghĩa vụ
xây dựng hệ thống chính trị, bộ máy công quyên để đại diện cho hàng
triệu quần chúng lao động trực tiếp quản lý và bảo vệ chế độ XHCN.
Tức là ở đây đã có sự thống nhất giữa quyền lợi và nghĩa vụ trong mỗi
cá nhân. Điều này đối lập với hệ thống chính trị của chủ nghĩa tư bản
khi tìm cách tách rời nghĩa vụ và quyền lợi. Trong đó quyền lợi chỉ có

các hình thái ý thức xã hội khác, đặc biệt là ý thức chính trị. Đạo đức
trong chế độ XHCN là một mặt cấu thành lối sống XHCN, nó phản ánh
ở các quan hệ ứng xử của những người lao động với nhau, và thái độ
của họ đối với môi trường sinh thái cũng như những hành động áp bức,
ăn bám của giai cấp bóc lột. Bàn về đạo đức trong quan hệ giai cấp,
C.Mác và Angghen viết: “Xét đến cùng, mọi học thuyết về đạo đức đã
có từ trước đến nay đều là sản phẩm của tình hình kinh tế của xã hội lúc
bấy giờ. Và vì cho tới nay xã hội đã vận động trong những sự đối lập
giai cấp, cho nên đạo đức cũng luôn là đạo đức giai cấp” [12, tr.137].
Đạo đức theo quan niệm mácxít là đạo đức cách mạng của giai cấp công
nhân, nó được hình thành và phát triển trong suốt quá trình vận động
cách mạng của giai cấp công nhân. Hạt nhân cơ bản của đạo đức cách
mạng XHCN là chủ nghĩa nhân đạo cao cả. Đó là thứ đạo đức phản ánh
mối quan hệ kinh tế- xã hội mới, không còn áp bức giai cấp; thay vào đó
là quan hệ bình đẳng, tự do, là yêu cầu giải phóng con người một cách
triệt để.
Mặt khác, nội dung đạo đức của lối sống theo quan niệm mácxít
cũng đòi hỏi phải giải quyết một cách hài hoà mối quan hệ giữa cá nhân
và tập thể. Và ngược lại, sự phát triển của tập thể phụ thuộc vào chất
lượng của từng cá nhân. ở đây không có chỗ cho tư tưởng đề cao quá
mức chủ nghĩa cá nhân, tách rời và đi tới đối lập với lợi ích tập thể. Một
trong những nguyên tắc của đạo đức cộng sản chính là ý thức tập thể, nó

19
biểu hiện ở thái độ, nghĩa vụ và trách nhiệm của mỗi cá nhân trước tập
thể. ở đây mọi cá nhân đều coi lao động vừa là trách nhiệm vừa là nghĩa
vụ và đồng thời cũng là vinh dự của bản thân mình trước xã hội. Đấu
tranh chống lại tư tưởng ăn bám và bóc lột, chống những biểu hiện của
chủ nghĩa cá nhân là một hành vi xuyên suốt thời kỳ quá độ trong lối
sống theo quan niệm mácxít. Bởi vì trong thời kỳ quá độ, sự đan xen

sản xuất thì đồng thời con người cũng tạo ra những giá trị văn hoá (vật
thể) đầu tiên của mình. Tuy nhiên, một trong những đặc tính cơ bản của
con người là không chỉ thoả mãn nhu cầu vật chất mà còn hướng đến
thoả mãn nhu cầu về tinh thần. Hơn nữa, con người không bao giờ chấp
nhận sự đơn điệu, lối mòn trong hưởng thụ các giá trị văn hoá tinh thần.
Một đời sống tinh thần đa dạng và phong phú luôn là mục đích hướng
tới của con người, và vì vậy sáng tạo và phát triển các giá trị văn hoá
nói chung trong hoạt động hiện thực của con người là một động lực cơ
bản thúc đẩy văn hoá phát triển. Sự đa dạng trong hoạt động thực tiễn
quy định sự đa dạng của đời sống văn hoá tinh thần. Đúng như C.Mác
và Ăngghen viết: “…rõ ràng là sự phong phú thực sự về tinh thần của cá
nhân là hoàn toàn phụ thuộc vào sự phong phú của những liên hệ hiện
thực của họ ” [14, tr.94].
Mặt khác, khi con người là chủ thể sáng tạo các giá trị văn hoá
tinh thần, thì đồng thời con người cũng chính là đối tượng của văn hoá
giáo dục.
Với mục tiêu giải phóng con người và tạo điều kiện cho con người
phát triển một cách toàn diện, hài hoà, quan niệm mácxít yêu cầu phải
xây dựng một hệ thống giáo dục mới khác hẳn về chất so với các nền
giáo dục khác. Nội dung của nền giáo dục mới - nền giáo dục XHCN sẽ
tác động sâu sắc đến lối sống của con người. Với một nội dung giáo dục
sâu sắc, tính định hướng về tư tưởng chính trị XHCN, mối liên hệ chặt

21
chẽ giữa giáo dục và thực tiễn, kết hợp giữa lý thuyết với thực hành…
đó là những nguyên tắc cơ bản của nền giáo dục XHCN.
Văn hoá trong lối sống XHCN còn biểu hiện ở thái độ học tập của
con người. Học tập không chỉ dừng lại ở việc “Tu thân” mà còn là nghĩa
vụ. Lênin khẳng định “Không có sách thì không có tri thức, không có tri
thức thì không có XHCN” .Người cũng yêu cầu “Học, học nữa và học

dựng lối sống mới.
Quan niệm mácxít cũng phê phán tư tưởng bảo thủ, cực đoan
trong việc kế thừa các giá trị truyền thống dân tộc. Những giá trị được
kế thừa không chỉ phù hợp với sự phát triển của dân tộc mà nó còn phải
phù hợp xu thế chung của văn minh nhân loại. Mặt khác phải biết kế
thừa và phát huy tinh hoa văn hoá nhân loại. Báo cáo chính trị Đại đại
biểu toàn quấc lần thứ V của Đảng có viết: “Nền văn hoá mới vừa kết
tinh và nâng cao lên một tầm cao mới những gì tốt đẹp trong truyền
thống hơn bốn nghìn năm của dân tộc Việt Nam của văn hóa Việt Nam,
vừa hấp thụ có chọn lọc những thành quả văn minh của loài người,
những thành tựu văn hoá, khoa học hiện đại” [7, tr.93].
Như vậy, sự kết hợp truyền thống dân tộc và văn minh hiện đại sẽ
làm cho lối sống của chúng ta vốn xuất phát từ nền sản xuất thấp kém sẽ
được phát triển và hoàn thiện hơn trong quá trình xây dựng CNXH.
Đồng thời, điều đó cũng trở thành động lực cơ bản để đấu tranh đẩy lùi
những truyền thống lạc hậu trong lối sống manh mún, nhỏ hẹp mang
tính đặc trưng của người Việt Nam.
Thứ năm
: Lý tưởng sống, một yếu tố cơ bản của lối sống theo
quan niệm mácxít.
Mặc dù không đưa ra một định nghĩa nào về lý tưởng, nhưng
thông qua các tác phẩm của mình đặc biệt là “Tuyên ngôn của Đảng
cộng sản” các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin đã đề cập đến

23
một lý tưởng cao cả, đó là sự giải phóng con người khỏi áp bức bóc lột,
là mưu cầu hạnh phúc cho mọi người.
Tiến sĩ Triết học (Nga) Ivanop định nghĩa: “Lý tưởng là cái vì nó
mà người ta sống, dưới ánh sáng của nó người ta thấy ý nghĩa của cuộc
đời” [16, tr.57]. Hồ Chí Minh cũng viết: “Suốt đời tôi, tôi chỉ có một


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status