MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
uế
Đói nghèo không chỉ xuất hiện và tồn tại lâu dài dưới các chế độ lạc hậu
trước đây, mà ngay trong thời đại ngày nay, với cuộc cách mạng khoa học- công
tế
H
nghệ hiện đại, với lực lượng sản xuất cao chưa từng thấy trong từng quốc gia, kể cả
các quốc gia phát triển nhất trên thế giới đói nghèo vẫn tồn tại một cách hiển nhiên.
Vì vậy, đói nghèo là vấn đề mang tính toàn cầu, là thách thức lớn, đòi hỏi các quốc
gia, cộng đồng quốc tế phải tập trung nỗ lực giải quyết.
h
Nước ta vốn là một nước nghèo, kém phát triển, lại trải qua nhiều cuộc chiến
in
tranh xâm lược và thường xuyên bị thiên tai tàn phá. Do đó đói nghèo đã trở thành
cK
quốc nạn kéo dài. Vì vậy, xoá đói giảm nghèo (XĐGN) là vấn đề kinh tế- xã hội vừa
cơ bản lâu dài, vừa cấp bách trước mắt. Đây cũng là một chủ trương, quyết sách lớn
của Đảng và Nhà nước ta. Ngay sau khi nước ta mới giành được độc lập, Chủ tịch Hồ
nhiều mô hình XĐGN thành công xuất hiện và được nhân rộng. Sự phối hợp lồng
1
ghép các chương trình kinh tế xã hội khác với XĐGN bước đầu đã đem lại kết quả
và theo ước tính khoảng hơn 20% hộ nghèo được hưởng lợi từ các chương trình
120, 327, 135, chương trình nước sạch nông thôn, y tế, giáo dục... Tuy vậy, công tác
XĐGN vẫn chưa được đồng đều ở các địa phương, đói nghèo vẫn là một thách thức
uế
lớn đối với nước ta, đến nay tỷ lệ đói nghèo vẫn còn khá cao (trên 13%), số này khó
giải quyết hơn vì 90% hộ nghèo sống ở nông thôn miền núi, vùng sâu, vùng xa,
tế
H
đồng bào các dân tộc thiểu số là những nơi kinh tế kém phát triển, trình độ dân trí
thấp, cơ sở hạ tầng yếu kém, nhiều nơi thường xuyên bị thiên tai tàn phá…
Tỉnh Hà Tĩnh là một tỉnh thuộc khu vực bắc miền Trung, diện tích tự
h
nhiên, dân số không lớn, kinh tế chậm phát triển và thuộc diện tỉnh nghèo, tỷ lệ
in
đói nghèo khá cao (trên 20%). Huyện Vũ Quang nằm ở phía tây tỉnh Hà Tĩnh,
Tr
luận và thực tiễn hết sức quan trọng.
Xuất phát từ tình hình đó tôi chọn đề tài "Nâng cao hiệu quả xóa đói giảm
nghèo cho các hộ nông dân trên địa bàn huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh" làm
luận văn thạc sỹ khoa học kinh tế, với mong muốn được đóng góp một phần nhỏ
trong công cuộc xoá đói giảm nghèo ở vùng nghiên cứu.
2
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1. Mục tiêu tổng quát:
Nghiên cứu đánh giá đúng thực trạng đói nghèo, xác định những vấn đề đặt
ra trong công tác xoá đói giảm nghèo của huyện, trên cơ sở đó đề xuất phương
uế
hướng và các giải pháp thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả xoá đói giảm nghèo trên
địa bàn huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh
tế
H
2.2. Mục tiêu cụ thể:
- Hệ thống hoá các vấn đề cơ bản có tính chất lý luận và phương pháp luận
để xem xét đánh giá vấn đề đói nghèo của các hộ nông dân hiện nay.
hưởng đến đói nghèo của các hộ nông dân.
- Về không gian: Nghiên cứu tình hình đói nghèo của các hộ nông dân trên
địa bàn huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tỉnh
ườ
- Về thời gian: Nghiên cứu tình hình đói nghèo từ năm 2005- 2008, điều tra
nông hộ và thu thập số liệu năm 2008, đề xuất giải pháp đến năm 2010 và những
Tr
năm tiếp theo.
3.3. Về địa điểm nghiên cứu:
- Huyện Vũ Quang được chia ra 3 vùng sinh thái như sau:
+ Vùng 1: Gồm 6 xã ven sông Ngàn Sâu thuộc huyện Đức Thọ cũ (Ân Phú,
Đức Giang, Đức Lĩnh, Đức Bồng, Đức Hương, Đức Liên)
+ Vùng 2: Gổm 2 xã thuộc vùng rừng núi, biên giới (Hương Điền, Hương Quang).
3
+ Vùng 3: Gồm 4 xã thuộc vùng bán sơn địa (Hương Thọ, Hương Minh, Sơn
Thọ và Thị trấn Vũ Quang)
- Địa điểm nghiên cứu: Chọn 3 xã đại diện cho 3 vùng sinh thái của huyện
gồm xã Đức Lĩnh đại diện cho vùng 1, xã Hương Điền đại diện cho vùng 2 và
uế
Số liệu điều tra được xử lý bằng phần mềm EVIEW và EXCELL. Các
Đ
ại
phương pháp phân tích sau đây đã được sử dụng:
- Thống kê mô tả: Số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân của các chỉ tiêu
phân tích.
ng
- Thống kê so sánh: Giữa các vùng sinh thái và các nhóm hộ.
- Phân tích kinh doanh: Phương pháp này được sử dụng để phân tích đánh
ườ
giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của các nhóm hộ.
Tr
4.3. Các chỉ tiêu phân tích
Trong quá trình nghiên cứu tôi có sử dụng một số chỉ tiêu phân tích như sau:
- Tổng giá trị sản xuất (GO): Là toàn bộ giá trị của cải vật chất và dịch vụ sản
xuất ra trong một năm.
n
GO =
VA = GO – IC
- Tỷ suất giá trị sản xuất theo chi phí (GO/IC)
- Tỷ suất giá trị tăng thêm theo chi phí (VA/IC)
5. Kết quả nghiên cứu dự kiến:
h
- Và một số chỉ tiêu khác…
tế
H
của một hoạt động sản xuất nào đó.
in
- Luận giải cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu tình hình đói nghèo ở huyện Vũ
cK
Quang, tỉnh Hà Tĩnh.
- Đánh giá một cách khách quan thực trạng nghèo đói và những kết quả đạt
được trong công tác xoá đói giảm nghèo ở huyện Vũ Quang từ năm 2005-2008. Từ
họ
đó rút ra những bài học cần thiết cho việc đẩy mạnh xoá đói giảm nghèo trong thời
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGHÈO ĐÓI
uế
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ NGHÈO ĐÓI
1.1.1. Khái niệm về nghèo đói
tế
H
Theo quan niệm chung: "Những người có thu nhập dưới 1/3 mức bình quân
của xã hội thì coi là loại nghèo khổ". Ở Inđônêxia quy định cụ thể hơn: "Ai có thu
nhập quy ra gạo bình quân đầu người 285kg/ năm trở xuống được coi là nghèo khổ.
Cơ quan hợp tác phát triển Quốc tế Thụy Điển- SIDA mô tả: "Hộ gia đình nghèo là
in
h
hộ có ít tài sản, túp lều, ngôi nhà hoặc mái nương thân của gia đình đó làm bằng
gỗ, tre, bùn, cỏ, lá, hoặc bằng bẹ cọ và chỉ có ít đồ đạc bên trong như chiếu, ổ lá
cK
làm chỗ ngủ, gia đình không có đất hoặc có mảnh đất không đảm bảo cuộc sống
mong manh hoặc đất thuê mướn hoặc cấy rẽ. Gia đình có ít vốn và nguồn lương
thực ít ỏi, không chắc chắn và lệ thuộc thời vụ, thu nhập của gia đình thường rất
- Nghèo đói tuyệt đối:
cK
Cần phân biệt 2 dạng nghèo: Nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối
Theo David O.Dapice, Viện phát triển quốc gia Har vald: "Nghèo khổ tuyệt
đối là không có khả năng mua một lượng sản phẩm tối thiểu để sống".
họ
Nghèo đói tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng
thoả mãn các nhu cầu tối thiểu để duy trì cuộc sống. Trên thực tế, một bộ phận dân
Đ
ại
cư nghèo tuyệt đối rơi vào tình trạng đói và thiếu đói.
Giới hạn nghèo đói (tiêu chí nghèo đói) có thể được xác định hoặc căn cứ
vào chi phí ước tính cho một khối lượng hàng hóa cơ bản theo giá cả hợp lý hoặc
ng
căn cứ vào tiêu chuẩn dinh dưỡng chẳng hạn như lượng calo và chất đạm cần phải
cung cấp cho cơ thể. Tuy vậy đều có những vấn đề về định nghĩa cũng như đo
ườ
lường. Ví dụ: Cơ cấu những hàng hóa cơ bản lại phụ thuộc vào tính chất văn hóa, xã
hội của dân cư cũng như yếu tố khí hậu. Yêu cầu về lượng calo thay đổi tùy theo
hoặc từ vùng này sang vùng khác, nghèo khổ tương đối cũng là một hình thức biểu
h
hiện sự bất bình đẳng trong phân phối và trong thu nhập.
in
Đánh giá nghèo tương đối phụ thuộc rất nhiều vào chính sách và giải pháp
cK
phát triển của từng nơi. Ngày nay, nghèo tương đối còn được chú trọng nhiều hơn
để có giải pháp thu hẹp sự khác biệt giữa người giàu và người nghèo. Ngoài ra, xem
xét nghèo tương đối còn có ý nghĩa lớn khi áp dụng các giải pháp phát triển. Những
họ
nhóm người khác nhau trong một vùng có tình trạng nghèo khổ khác nhau thì chính
sách và giải pháp phải khác nhau cho từng đối tượng.
Vấn đề nghèo đói thường đi đôi với phân phối thu nhập, sự phân phối thu
Đ
ại
nhập không đồng đều thường dẫn đến sự gia tăng nghèo đói. Do vậy, vấn đề XĐGN
có liên quan mật thiết với tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội.
1.1.2.Tiêu chuẩn phân định nghèo đói
ng
định, bởi lẽ chỉ số trung bình cao về tổng thu nhập quốc gia (GNI) hay tổng sản phẩm
quốc nội (GDP) là hết đói nghèo. Chỉ tiêu này được ngân hàng thế giới (WB) đưa ra
tế
H
để tính mức độ giàu nghèo của các quốc gia theo 2 phương pháp sau:
+ Theo phương pháp Atlas được phân ra làm 5 loại về sự giàu nghèo của các
nước (lấy mức thu nhập năm 1990)
h
Trên 25.000 USD/năm là nước giàu
in
Từ 10.000 USD/ năm đến dưới 25.000 USD/ năm là nước khá giàu
Từ 2.500 USD/ năm đến dưới 10.000 USD/ năm là nước trung bình
cK
Từ 500 USD/ năm đến dưới 2.500 USD/ năm là nước nghèo
Dưới 500 USD/ năm là nước cực nghèo
họ
(Theo cách này, Việt Nam xếp thứ 153/158 nước tại thời điểm nghiên cứu)
9
Từ sự phân tích định tính đến phân tích định lượng, các nhà xã hội học cũng
như các nhà kinh tế học đưa ra 2 cách tính như sau:
Cách thứ nhất: Giới hạn nghèo khổ được xác định tương đương với mức
thu nhập của những người làm dịch vụ xã hội trong những năm đầu thập niên 60.
uế
Cách thứ hai: Lấy số liệu chi tiêu cho lương thực, thực phẩm đủ sống cho
một gia đình nhân với 3 sẽ ra mức giới hạn nghèo khổ (nay còn gọi là mức thu nhập
tế
H
tối thiểu của đời sống) theo tiêu chuẩn này thế giới hiện nay còn hơn 1,3 tỷ người
nghèo đói.
- Ngoài ra chỉ số HDI (chỉ số phát triển con người) chỉ số PQLI (chỉ số chất
lượng vật chất của cuộc sống) cũng được người ta sử dụng. Chỉ số này đề cập đến
in
h
các vấn đề như tuổi thọ bình quân, trình độ học vấn, tăng trưởng kinh tế và một số
chỉ tiêu về khả năng đảm bảo tự do và phát triển cá nhân.
Tr
về đói nghèo theo mấy chỉ tiêu chính sau đây:
- Chỉ tiêu thu nhập và chi tiêu
Mức thu nhập của các đối tượng khác nhau thì sẽ khác nhau. Chẳng hạn công
nhân viên chức có thu nhập chính từ lương, còn nông dân có thu nhập chính từ sản
xuất nông nghiệp, dịch vụ. Ở Việt Nam do đặc điểm ngoài môt số cán bộ công nhân
viên chức và một số lao động ở thành thị còn lại khoảng 80% dân số là nông thôn
10
nên thu nhập chủ yếu là từ sản xuất nông nghiệp. Do đó để tránh sự biến động giá
cả theo thời gian là sự chênh lệch giữa các địa phương người ta dùng gạo để làm
đơn vị tính toán và so sánh độ nghèo đói.
+ Tổng cục Thống kê đã đưa ra giới hạn đói nghèo mức thu nhập bình quân
: 13kg/ người/ tháng
Mặc và ở
: 2,1kg/ người/ tháng
tế
H
Chi cho ăn
uế
đã đưa ra cách phân loại như sau:
Hộ nghèo:
ng
Ở thành thị có thu nhập 70.000đ/ người/ tháng
Ở nông thôn có thu nhập 50.000đ/ người/ tháng
ườ
Hộ đói:
Ở thành thị 50.000đ/ người/ tháng
Tr
Ở nông thôn 30.000đ/ người/ tháng
Theo cách này cuối năm 1993 cả nước có khoảng 3 triệu hộ nghèo đói chiếm
khoảng 23% tổng số hộ, trong đó có khoảng 60 vạn hộ đói chiếm khoảng 4,2 %
tổng số hộ.
+ Thời kỳ 1997- 1998, Bộ LĐTB & XH đưa ra tiêu chuẩn đánh giá nghèo đói
trên cơ sở điều chỉnh một số chỉ tiêu đã đưa ra năm 1993 như sau:
11
Hộ đói: Thiếu ăn từ 3- 6 tháng, dụng cụ gia đình hầu như không đáng kể,
con cái thất học, nhà ở dột nát, thu nhập bình quân người trong hộ 13kg/ tháng
họ
tăng trưởng cao. Đời sống mọi mặt của nhân dân được nâng lên rõ rệt. Vì vậy, nhà
nước tiếp tục điều chỉnh chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006- 2010 như sau:
Đ
ại
Khu vực nông thôn dưới 200.000đ/ người/ tháng
Khu vực thành thị: Dưới 260.000đ/ người/ tháng
ng
Bảng 1.1: Hộ nghèo đói theo tiêu chuẩn của Bộ LĐTB&XH
ườ
Nhóm hộ
Tr
1. Hộ đói
(thời kỳ 1997- 1998, 2001-2005 và 2006-2010)
1997-1998
Gạo (kg)
Tiền (đ)
2001-2005
150.000
260.000
2. Hộ nghèo
(Nguồn số liệu từ tài liệu của bộ LĐTB&XH)
12
+ Chuẩn mực từ 2006- 2010 được áp dụng cho tất cả các địa phương và các
vùng trong cả nước, tuy nhiên căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế xã hội và kết
quả thực hiện xóa đói giảm nghèo địa phương nào có đủ điều kiện sau đây có thể
đưa ra chuẩn đói nghèo cao hơn chuẩn đói nghèo nêu trên.
uế
Thu nhập BQ đầu người cao hơn thu nhập BQ đầu người của cả nước
Có tỷ lệ hộ nghèo đói thấp hơn tỷ lệ bình quân chung của cả nước
tế
H
Có nguồn lực cân đối cho các giải pháp hỗ trợ xóa đói giảm nghèo.
Tóm lại, ở nước ta xác định chuẩn đói nghèo dựa vào chỉ tiêu thu nhập bình
quân đầu người, có nhiều quan điểm khác nhau, nhưng hiện nay các địa phương
Chỉ một số rất hữu hạn có TLSX khá nhưng do kém hiểu biết, không có kinh
ườ
nghiệm hoặc lười nhác cũng bị rơi vào tình cảnh nghèo đói.
Tr
- Chỉ tiêu về vốn
Thông thường đã lâm vào cảnh nghèo đói không có vốn để dành họ thường
vay mượn để mua lương thực cứu đói, hoặc đầu tư sản xuất. Người nghèo thường bị
động trong cuộc sống, phải bán lúa hoặc hoa màu non, gán ruộng vườn, vay mượn
với lãi suất cao, phải làm thuê để trả nợ, kiếm sống qua ngày; một bộ phận dân cư
dễ rơi vào các tệ nạn xã hội như trộm cắp, cướp dật, mại dâm. Nếu không có các
13
chính sách xã hội để trợ giúp cho những người nghèo thì dễ làm cho mâu thuẫn xã
hội trở nên gay gắt thậm chí rối loạn.
Qua việc xem xét đánh giá các chỉ tiêu trên, chúng ta nhận diện vấn đề nghèo
đói rõ ràng hơn nhất là tính chất kinh tế- xã hội của hiện tượng đói nghèo các hậu
uế
quả tiêu cực của đói nghèo xét từ bình diện xã hội, đều bắt nguồn và phát sinh trực
tiếp từ căn nguyên kinh tế.
tế
Báo cáo năm 2006 của Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc về thực hiện chương
trình hành động đối với các nước chậm phát triển nhất thế giới, đã khẳng định mặc
ng
dù viện trợ phát triển từ năm 2002 đã tăng nhưng tỷ lệ đói nghèo ở các nước này
vẫn không được cải thiện. Báo cáo cho biết ở các nước chậm phát triển nhất, tỷ lệ
ườ
đói nghèo vẫn tiếp tục tăng và chỉ số an ninh xã hội vẫn rất đáng lo ngại. Nạn
nghèo đói kinh niên tiếp tục làm trầm trọng thêm những căn bệnh thế kỷ như
Tr
HIV/AIDS và suy thoái môi trường. Tuổi thọ trung bình của dân số ở 7 trong 50
nước chậm phát triển nhất thế giới đang giảm nhanh vì dịch bệnh HIV/AIDS. Báo
cáo còn chỉ rõ bức tranh về tình nghèo đói trên thế giới vẫn cho thấy tình trạng
không đồng đều trên phạm vi khu vực. Thành tích giảm nghèo chủ yếu diễn ra ở
các nước Đông Á, vùng Thái Bình Dương và Nam Á là những khu vực có nhiều
khả năng đạt được mục tiêu XĐGN trên phạm vi quốc gia vào năm 2015. Theo
14
Liên Hợp Quốc mỗi ngày có khoảng 30.000 trẻ em chết vì nguyên nhân nghèo
khổ. Phần lớn những người này sống ở Châu Á. Các thành viên Liên Hợp Quốc
trong cuộc họp thiên niên kỷ năm 2000 đã nhất trí với mục tiêu đến năm 2015
giảm một nửa số người có ít hơn 1 USD. Nhưng theo thông tin WB vào tháng
Hệ số
giàu/
Thị
thôn
Gini
nghèo
24
19,1
26
0,34
4,81
13,4
5,3
18,6
0,464
15,8
37
9,0
45
0,357
5,51
38,6
26,9
41
0,304
4,21
Cămpuchia
36
25,4
40
Xingapo
ng
Thailan
Việt Nam
ườ
Lào
Tr
ch. lệch
(Nguồn số liệu tập huấn cho cán bộ của Bộ LĐTB&XH)
Ở khu vực Đông Á, mặc dù đã đạt nhiều tiến bộ trong xóa đói giảm nghèo,
nhưng thực trạng nghèo đói vẫn còn khá nghiêm trọng và thách thức lớn đối với các
nước này. Chênh lệch giữa 20% nghèo nhất trong ASEAN cũng khá lớn, trầm trọng
nhất là Thái lan (15,8 lần), Philipin (hơn10 lần), Singapo (hơn 7 lần) [5].
15
Ở Áo theo số liệu của Bộ Xã hội (báo cáo về tình trạng xã hội 2003-2004)
năm 2003 hơn 1 triệu người nghèo (13,2%), năm 2002 có 900.000 người (12,%),
năm 1999 là 11% dân số nghèo. Ranh giới nguy cơ nghèo là 60% của thu nhập
họ
Euro cho phía đông nước Đức.
Theo số liệu từ "Báo cáo giàu và nghèo lần thứ hai" do Chính phủ Liên bang
Đ
ại
Đức đưa ra trong tháng 3 năm 2005 thì năm 2003 có 13,5% dân số nghèo. Năm
2002 là 12,7% năm 1998 là 12,1% hơn 1/3 những người nghèo là những người nuôi
con một mình, vợ chồng có hơn 3 con chiếm 19% trong số người nghèo.
ng
Trẻ em và thanh niên ở Đức có nguy cơ nghèo cao, 15% trẻ em dưới 15 tuổi
và 19,1% từ 16-24 tuổi thuộc vào diện này. Số trẻ em sống nhờ vào trợ cấp xã hội ở
ườ
Đức tăng thêm 64.000 lên đến 1,08 triệu năm 2003 và đạt đến 1,45 triệu trong 20042005. Theo UNICEF, trẻ em nghèo ở Đức tăng hơn so với phần lớn các nước công
Tr
nghiệp. Thêm vào đó nghèo có ảnh hưởng lớn đến cơ hội giáo dục (theo nghiên cứu
của hội từ thiện công nhân).
Ngược lại thì nạn nghèo ở người già tại Đức giảm từ 13,3% năm 1998 xuống
11,4% trong năm 2003. Thế nhưng nạn nghèo ở đây dự đoán sẽ tăng vì những
1.2.2. Thực trạng nghèo và chương trình chống đói nghèo ở Việt Nam
cK
1.2.2.1. Thực trạng nghèo đói ở nước ta
- Thực trạng đói nghèo ở Việt Nam theo chuẩn nghèo giai đoạn 2001-2005
Theo tài liệu tập huấn giảm nghèo của Bộ LĐTB&XH năm 2007, từ sau năm
họ
2000 tỷ lệ hộ nghèo đã giảm nhanh: Báo cáo phát triển Việt Nam năm 2004 đã ghi
nhận những thành tựu giảm nghèo của Việt Nam là một trong những câu chuyện
Đ
ại
thành công nhất trong phát triển kinh tế'. Tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh trong vòng 5
năm từ 17,2% năm 2001 (2,8 triệu hộ) xuống dưới 7% năm 2005 (1,1 triệu hộ), bình
quân mỗi năm giảm khoảng 34 vạn hộ. Tính đến cuối năm 2005 cả nước có:
ng
+ 12 tỉnh thành phố không còn hộ nghèo (tỷ lệ dưới 3%)
+ 14 tỉnh tỷ lệ hộ nghèo từ 3-5%
ườ
+ 25 tỉnh tỷ lệ hộ nghèo từ 5-10%
+ 12 tỉnh tỷ lệ hộ nghèo từ 10-15%
126.790
6,27
16,08
2.Tây Bắc
33,96
57.828
11,41
22,55
3. ĐB Sông Hồng
9,76
206.545
4,77
4. Bắc Trung Bộ
25,64
211.928
tế
H
4,99
16,41
14,75
11,86
13,04
4,07
4,81
5,67
8,51
6,53
10,65
h
7,59
in
ườ
Kiều chiếm 60,3%; PaKô 58,5% và H.Mông 35% (số liệu năm 2003).
Tr
Bảng 1. 4: Tỷ lệ hộ dân tộc thiểu số nghèo trong tổng số hộ nghèo
Dân tộc
1992
1998
2005
Dân tộc thiểu số
21
29
36
Dân tộc Kinh
79
71
64
nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006-2010 như sau:
h
Đối với khu vực nông thôn, những hộ có thu nhập bình quân đầu người
một tháng từ 200.000 đồng trở xuống.
in
Đối với khu vực thành thị, những hộ có thu nhập bình quân đầu người một
cK
tháng từ 260.000 đồng trở xuống.
Những hộ có thu nhập bình quân đầu người thấp hơn hoặc bằng chuẩn nghèo
được xác định là hộ nghèo. Theo chuẩn nghèo nêu trên, ước tính cuối năm 2005 cả
họ
nước có 3,9 triệu hộ nghèo, chiếm 22% số hộ toàn quốc. Vùng có tỷ lệ hộ nghèo
cao nhất là vùng Tây Bắc (42%) và Tây Nguyên (38%), thấp nhất là vùng Đông
Đ
ại
Nam Bộ (9%)...
Biểu đồ 1.1. Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn giai đoạn 2006 - 2010 năm 2005
9
TB
ĐB
ĐBSH
BTB DHNTB TN
ĐNB ĐBSCL
BQ
19
1.2.2.2. Chương trình xoá đói giảm nghèo của Việt Nam
Ngay từ khi nước ta mới giành được độc lập (1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
quan tâm ngay đến nhiệm vụ chống đói nghèo. Người coi đói nghèo là một thứ "giặc"
như "giặc dốt", "giặc ngoại xâm". Người khẳng định phải làm sao cho dân “ai cũng có
uế
cơm no, mặc ấm, ai cũng được học hành”. Người chủ trương "làm cho người nghèo thì
đủ ăn, người đủ ăn thì khá giàu, người khá giàu thì giàu thêm". Tư tưởng này của Chủ
tế
H
ng
chức tài chính cung cấp tín dụng chủ yếu cho nông dân.
Để tập trung nguồn lực, hỗ trợ trực tiếp các xã nghèo, hộ nghèo, tạo điều
ườ
kiện và môi trường xoá đói giảm nghèo bền vững, ngày 14/1/2008, Thủ tướng
Chính phủ đã ban hành quyết định số 5/1998- QĐ-TTg về quản lý CTMTQG,
Tr
theo đó xoá đói giảm nghèo được nâng lên thành 1 trong 7 CTMTQG trọng
điểm. Ngày 23/7/1998, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 133/1998/QĐTTg phê duyệt CTMTQG về XĐGN giai đoạn 1998- 2000, chương trình này
nhằm tạo ra những điều kiện thuận lợi, phù hợp để hỗ trợ cho người nghèo sản
xuất, tăng thu nhập XĐGN. Tổng nguồn vốn đầu tư thực hiện chương trình này
khoảng 10.000 tỷ đồng.
20
Ngày 4/5/2001, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt các CTMTQG giai đoạn
2001-2005. Từ đây, các hoạt động XĐGN được lồng ghép thêm chương trình hỗ trợ
tạo việc làm, trở thành CTMTQG về XĐGN và hỗ trợ việc làm. Mục tiêu của
chương trình này là: Phấn đấu đến 2005 sẽ giảm tỷ lệ hộ nghèo (theo tiêu chí giai
uế
đoạn này) của Việt Nam xuống dưới 10% bình quân mỗi năm giảm từ 1,5-2%
Đ
ại
dựng mô hình XĐGN ở các vùng khó khăn…) và nhóm các dự án XĐGN cho các
Tiếp tục thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ trước mà nước ta đã
ng
cam kết [26], Chính phủ đã phê duyệt CTMTQG về XĐGN giai đoạn 2006-2010
theo quyết định số 20/2007/QĐ-TTg ban hành ngày 05/02/2007. Mục tiêu cụ thể
ườ
của chương trình là giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 22% năm 2005 xuống còn 10-11% năm
2010, thu nhập của nhóm hộ nghèo tăng 1,45 lần so với năm 2005 và 50% số xã đặc
Tr
biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo thoát khỏi tình trạng đặc biệt khó
khăn. Chương trình này sẽ áp dụng với những đối tượng là người nghèo, hộ nghèo,
xã đặc biệt khó khăn, xã nghèo, ưu tiên đối tượng hộ nghèo mà chủ hộ là phụ nữ, hộ
nghèo là dân tộc thiểu số, hộ nghèo có đối tượng bảo trợ xã hội (người già, người
tàn tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt). Đến năm 2010, đối với các xã đặc biệt khó
khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo cơ bản xây dựng đủ các công trình hạ tầng
21
nay các chương trình XĐGN đang tiếp tục được đẩy mạnh rộng khắp trong các địa
họ
phương cả nước, tỷ lệ đói nghèo ngày càng giảm, đời sống của nhân dân không
ngừng được cải thiện và nâng lên rõ rệt.
Đ
ại
1.2.2.3. Đặc điểm của những người nghèo đói
Đặc điểm nghèo đói ở nông thôn khác ở thành thị. Hộ nghèo nông thôn chủ
yếu dựa vào đất đai và lao động, thu nhập chính dựa vào năng suất, sản lượng của
ng
SXNN mà trong đó chủ yếu là trồng trọt và chăn nuôi. Còn ở thành thị hộ nghèo
phải đi làm thuê, bán sức lao động để kiếm sống. Ở nông thôn hộ nghèo thường ở
ườ
những nơi hẻo lánh, xa cộng đồng, canh tác trên những vùng đất bạc màu cằn cỗi,
thiếu đầu tư chăm sóc nên năng suất thấp. Cơ hội để có thu nhập ngoài sản xuất
Tr
nông nghiệp rất hiếm, với nhu cầu lao động nông nghiệp phụ thuộc vào thời vụ sản
xuất nông nghiệp đã tác động mạnh đến đời sống hộ nông dân khi vào những tháng
giáp hạt. Tại các vùng đồng bằng người nghèo có tài nguyên khá hơn nhưng lại
thiếu các dịch vụ xã hội, chính sách hỗ trợ, cơ sở hạ tầng và hướng dẫn kỹ thuật.
- Người nghèo khó tiếp cận giáo dục- đào tạo. Đối với những hộ nghèo, thu
cK
nhập của họ thường đủ để trang trải cho các nhu cầu về ăn uống và sinh hoạt. Các
chi phí về giáo dục là một gánh nặng trong gia đình. Theo điều tra hộ gia đình năm
họ
2002, chi phí trực tiếp cho giáo dục là rất đáng kể, nó có thể lên đến 270 nghìn
đồng/ năm chọ một học sinh tiểu học, 455 nghìn đồng/ năm cho học sinh THCS.
Mặt khác đối với rất nhiều hộ nghèo, sức lao động của trẻ em có giá trị hơn nhiều so
Đ
ại
với việc để chúng đến trường. Lợi ích dài hạn của giáo dục không thể bù đắp được
những tổn thất về thu nhập trong ngắn hạn của gia đình. Để có thêm thu nhập, trẻ
em và những em đã đến tuổi lao động (từ 15-18 tuổi) phải bỏ học để lao động sản
ng
xuất hoặc đi làm thuê. Các số liệu thống kê cho thấy người nghèo thường có trình
độ học vấn thấp hơn đại bộ phận dân cư, khoảng 90% người nghèo có trình độ phổ
ườ
thông cơ sở hoặc thấp hơn. Tác giả Kim Thị Dung khi nghiên cứu vai trò của tài
chính vi mô đối với XĐGN ở các tỉnh miền núi phía bắc đã bất ngờ phát hiện ra
h
nặng nhọc, độc hại dễ bị tai nạn nghề nghiệp gây biến động mạnh đến thu nhập của
gia đình đặc biệt nếu xảy ra đối với lao động chính trong gia đình.
cK
Trong sản xuất kinh doanh, đặc biệt là SXNN những bất lợi về thời tiết
thường gây mất mùa, thu hoạch không đủ ăn, người nông dân trở nên thiếu đói.
Điều này dễ nhận ra đối với người nông dân ở các tỉnh miền Trung là vùng có khí
họ
hậu khắc nghiệt, thời tiết thất thường, không thuận lợi cho SXNN. Đặc biệt mất
mùa hoặc thiệt hại trong đầu tư bằng vốn vay trong chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi
Đ
ại
tôm...là những nguy cơ làm cho người nông dân trở nên nghèo khó.
Người nghèo còn dễ bị tổn thương trước những biến động về giá cả thị
trường. Do khối lượng sản phẩm hạn chế, khi giá cả thị trường biến động người
ng
nghèo không đủ để bù đắp chi phí. Sản phẩm làm được bán ra thì rẻ, nhưng sản
phẩm tiêu dùng hàng ngày mua vào lại hết sức đắt đỏ.
ườ
nghèo đói. Do nguồn thu nhập bấp bênh, khả năng tích lũy kém nên họ khó có khả
năng chống chọi với những biến cố xảy ra trong cuộc sống như mất mùa, mất việc
làm, thiên tai, mất sức lao động... Với khả năng kinh tế mong manh của các hộ gia
h
đình nghèo trong khu vực nông thôn, những đột biến này sẽ tạo ra những đột biến
in
lớn trong cuộc sống của họ. Những vùng khí hậu khắc nghiệt, thiên tai, bão lụt, hạn
hán, đất đai cằn cỗi, địa hình phức tạp, giao thông khó khăn, kinh tế chậm phát
cK
triển, hậu quả chiến tranh để lại có tỷ lệ hộ nghèo cao hơn. Theo thống kê tỷ lệ hộ
nghèo năm 2002 ở Tây Nguyên là 51,8% ở miền núi phía bắc và bắc Trung bộ
sông Cửu Long 23,4%.
họ
43,9% cao hơn nhiều so với vùng đồng bằng sông Hồng 22,4% và vùng đồng bằng
+ Rủi ro cũng là một nguyên nhân làm cho người dân trở nên nghèo đói, đặc
Đ
ại
biệt là ốm đau và tai nạn. Nhiều rủi ro trong cuộc sống, sản xuất mà chưa có các