Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người chưa thành niên từ thực tiễn tỉnh quảng nam - Pdf 39

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN TẤN LONG

XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2016


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN TẤN LONG

XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số:
60. 38. 01. 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC


2.2. Thực tiễn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người chưa thành niên tại
tỉnh Quảng Nam .............................................................................................. 39
Kết luận Chương 2 .......................................................................................... 57
CHƯƠNG 3. CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM XÉT XỬ SƠ THẨM ĐÚNG
VỤ ÁN ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN .................................... 58
3.1. Dự báo tình hình tội phạm do người chưa thành niên thực hiện và phương
hướng, nhiệm vụ của TAND hai cấp tỉnh Quảng Nam .................................. 58
3.2. Các giải pháp bảo đảm xét xử sơ thẩm đúng đối với người chưa thành
niên phạm tội ................................................................................................... 62
Kết luận Chương 3 .......................................................................................... 74
KẾT LUẬN .................................................................................................... 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLDS

: Bộ luật Dân sự

BLHS

: Bộ luật Hình sự

BLLĐ

: Bộ luật Lao động

BLTTHS

: Bộ luật Tố tụng hình sự


: Trách nhiệm hình sự

VKS

: Viện kiểm sát

VKSNDTC

: Viện kiểm sát nhân dân Tối cao


DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu
bảng
2.1.

Tên bảng

Trang

Số lượng và tỷ lệ vụ án đưa ra xét xử sơ thẩm có bị cáo là

33

người chưa thành niên trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
2.2.

Số lượng và tỷ lệ bị cáo là người chưa thành niên bị đưa ra


biểu
2.1.

bị cáo bị đưa ra xét xử sơ thẩm trên địa bàn tỉnh Quảng
Nam
2.2.

So sánh tỷ lệ số lượng bị cáo là người chưa thành niên
phạm các tội phổ biến trên địa bàn tỉnh Quảng Nam

36


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời đã nói:"Thiếu niên, nhi đồng là người chủ
tương lai của nước nhà, thanh thiếu niên là bộ phận quan trọng của dân tộc".
Người xác định:"Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người".
Tư tưởng của Bác thể hiện sự quan tâm và bảo vệ thế hệ trẻ, bởi họ sẽ là chủ nhân
của đất nước trong tương lai.
Người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể chất
và tinh thần, họ là người đang ở giai đoạn hình thành cũng như phát triển về nhân
cách và chưa thể có suy nghĩ chín chắn khi quyết định hành vi của mình như những
người đã thành niên. Do tư duy chưa được hoàn thiện nên họ nhận thức chưa đầy
đủ, toàn diện về hệ quả và những tác động do hành vi của mình gây ra. Nhiều trường
hợp người chưa thành niên không ý thức được hành vi của mình là hành vi phạm tội.
Bởi vậy, khi hiểu ra họ rất ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của mình. Nhưng, đồng
thời đây cũng là lứa tuổi dễ bị tổn thương và thường có những phản ứng tiêu cực
trước sự tác động chủ quan và khách quan bằng những hành vi nhất thời, thiếu suy

Thạc sĩ cho mình là:“Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người chưa thành niên
từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam”.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Chính sách hình sự đối với người chưa thành niên luôn là đề tài nóng thu hút
sự quan tâm của các nhà nghiên cứu lý luận khoa học pháp lý và hoạt động thực tiễn
áp dụng pháp luật. Những quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật
trong việc xử lý người chưa thành niên phạm tội đã được nhiều tác giả, nhà khoa
học chọn làm đề tài nghiên cứu cho mình trong thời gian qua như “Quyết định hình
phạt đối với người chưa thành niên phạm tội” của ThS. Nguyễn Khắc Quang đăng
trên Tạp chí Tòa án nhân dân (TANDTC), số 24/2011;“Mấy vấn đề về áp dụng pháp
luật đối với người chưa thành niên phạm tội bị xử phạt tù” của tác giả Quách Thành
Vinh đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân (TANDTC) số 6/2011...
Ngoài ra, cũng có nhiều tác giả chọn để làm đề tài luận văn Thạc sĩ cho mình
như:"Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội từ thực tiễn
2


tỉnh Quảng Nam", Luận văn Thạc sĩ của tác giả Phạm Quốc Bảo (khóa 3 - 2012), tại
Học viện khoa học xã hội; “Quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên
phạm tội từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam”, Luận văn Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Quốc
Thiện (khóa 4-2015) tại Học viện khoa học xã hội ….
BLHS 2015 và BLTTHS 2015 được Quốc Hội nước cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 27/11/2015 có nhiều quy
định mới, nhiều nguyên tắc mới theo tính hướng thiện hơn trong việc xét xử người
chưa thành niên phạm tội; nhưng chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào, Luận
văn thạc sĩ nào đề cập đến, bởi tất cả các công trình nghiên cứu khoa học, Luận văn
thạc sĩ trong thời gian qua đều tập trung nghiên cứu theo quy định của BLHS 1999
và BLTTHS 2003.
Trong phạm vi đề tài của mình, tác giả đi sâu nghiên cứu cả về pháp luật Hình sự
và pháp luật Tố tụng hình sự mới ban hành năm 2015 và thực tiễn áp dụng BLHS 1999

4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định tại giai đoạn xét xử sơ thẩm đối
với người chưa thành niên (người dưới 18 tuổi) phạm tội vừa theo quy định của
BLHS 1999 và của BLTTHS 2003, vừa theo quy định của BLHS 2015 và BLTTHS
2015. Thực tiễn xét xử sơ thẩm trong phạm vi tỉnh Quảng Nam, giai đoạn từ năm
2011 đến năm 2015 và những quy định mới mang tính đổi mới, tiến bộ từ BLHS
2015 và BLTTHS 2015 có liên quan đến việc xử lý người chưa thành niên phạm tội.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn này được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác
- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với người
chưa thành niên phạm tội và những quy định của pháp luật có liên quan đến người
chưa thành niên.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp so sánh,
phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê hình sự...
Các phương pháp nghiên cứu này được vận dụng một cách đan xen, linh hoạt để đạt
được hiệu quả cao.
4


6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn này là một đề tài nghiên cứu vừa có ý nghĩa về mặt lý luận nhưng đồng
thời cũng có ý nghĩa về mặt thực tiễn áp dụng pháp luật trong quá trình xét xử sơ thẩm
vụ án hình sự đối với người chưa thành niên.
6.1. Ý nghĩa lý luận: Luận văn có thể dùng làm tài liệu giảng dạy, tuyên
truyền pháp luật liên quan đến hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự liên quan
đến người chưa thành niên phạm tội của TAND. Đồng thời, có thể sử dụng luận
văn này để làm tài liệu tham khảo trong quá trình học tập cũng như nghiên cứu
khoa học.

Theo từ điển tiếng Việt thì khái niệm người chưa thành niên được định nghĩa
như sau:“Người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể
lực, trí tuệ, tinh thần cũng như chưa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân” [45].
Tại Điều 1 Thông tư liên tịch số: 01/2011/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCABTP-BLĐTBXH ngày 12/7/2011 của VKSNDTC, TANDTC, Bộ Công an, Bộ Tư
pháp, Bộ Lao động - Thương binh và xã hội, hướng dẫn thi hành một số quy định
của BLTTHS đối với người tham gia tố tụng là người chưa thành niên, thì: "Người
chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần, là những
đối tượng dễ bị tổn thương, đặc biệt là khi họ tham gia tố tụng trong quá trình giải
quyết các vụ án.." [22].
Hầu hết, các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành của Nhà nước ta có liên
quan đến người chưa thành niên chỉ quy định về độ tuổi làm ranh giới để phân định
giữa người chưa thành niên với người đã thành niên và đều xác định người chưa
thành niên là người dưới 18 tuổi. Ví dụ: Điều 68 BLHS năm 1999 quy định: “Người
chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình
sự theo những quy định của Chương này, đồng thời theo những quy định khác của
6


Phần chung Bộ luật không trái với những quy định của Chương này” [13]. Điều 18
BLDS năm 2005 quy định: “Người từ đủ mười tám tuổi trở lên là người thành niên.
Người chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên” [15]. Điều 161 BLLĐ
năm 2012 quy định:“Người lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18
tuổi” [16]. Như vậy, có thể khẳng định người chưa thành niên là người dưới 18
tuổi. Tuỳ theo quá trình phát triển về thể chất, tinh thần hay phát triển về tâm, sinh
lý của từng dân tộc và các điều kiện phát triển về kinh tế - xã hội, môi trường sống
khác nhau mà pháp luật của mỗi quốc gia quy định độ tuổi của người chưa thành
niên khác nhau. Ví dụ: Việt Nam quy định độ tuổi thành niên là 18 tuổi, còn Hàn
Quốc là 19 tuổi và Nhật Bản là 20 tuổi....
Theo như quy định tại Điều 12 của BLHS năm 1999 thì chỉ những người chưa
thành niên từ đủ 14 tuổi trở lên mới phải chịu TNHS về hành vi phạm tội, còn

án quyết định đưa ra xét xử”.
Có thể rút ra những đặc điểm cơ bản của bị cáo là người chưa thành niên như
sau:
- Thứ nhất, về mặt pháp lý, người chưa thành niên là người chưa có đầy đủ
quyền và nghĩa vụ công dân. Trong pháp luật Tố tụng hình sự, đặc điểm pháp lý của
bị cáo là người chưa thành niên được thể hiện thông qua địa vị pháp lý của họ khi
tham gia tố tụng, tức là những quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của bị
cáo là người chưa thành niên. Đặc điểm nổi bật nhất của bị cáo chưa thành niên là ở
chỗ họ được pháp luật quy định nhiều quyền hơn so với bị cáo đã thành niên, đồng
thời lại thực hiện ít nghĩa vụ hơn so với bị cáo đã thành niên. Ngoài ra, thủ tục tố
tụng đối với bị cáo là người chưa thành niên cũng được quy định chặt chẽ hơn so
với bị cáo đã thành niên. Quy định này được xây dựng dựa trên cơ sở đặc điểm về
tâm, sinh lý của bị cáo là người chưa thành niên và chính sách nhân đạo của Nhà
nước ta trong việc xử lý TNHS đối với người chưa thành niên phạm tội. Và, mục
đích chủ yếu là nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh
và trở thành người công dân có ích cho xã hội.
- Thứ hai, dưới góc độ tâm, sinh lý, bị cáo chưa thành niên là người chưa phát
triển đầy đủ, toàn diện về thể chất và tinh thần, họ là người đang ở giai đoạn hình
thành cũng như phát triển về nhân cách và chưa thể có suy nghĩ chín chắn khi quyết
8


định hành vi của mình như người đã thành niên. Đây là lứa tuổi chưa có đủ những
kinh nghiệm trong cuộc sống, quá trình nhận thức còn bị hạn chế; còn chủ quan,
nông cạn khi phân tích, đánh giá hay nhìn nhận các sự vật, hiện tượng và dễ bị tác
động bởi các yếu tố của môi trường sống. Do tư duy chưa hoàn thiện nên họ nhận
thức chưa đầy đủ, toàn diện về hệ quả và những tác động do hành vi của mình gây
ra. Nhiều trường hợp bị cáo chưa thành niên không ý thức được hành vi của mình là
hành vi phạm tội, bởi vậy khi hiểu ra họ rất ăn năn, hối hận về việc làm của mình. Mặt
khác, bị cáo chưa thành niên, nhất là lứa tuổi mới lớn thường có những chuyển biến

Tòa án kết tội bằng một bản án đã có hiệu lực pháp luật.
Xét xử vụ án hình sự nói chung và xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói riêng là
một giai đoạn tố tụng rất quan trọng, đây là giai đoạn có tính chất quyết định để
chứng minh bị cáo có tội hay không có tội, nếu có tội thì đó là tội gì. Hoạt động
điều tra ở giai đoạn điều tra cũng nhằm mục đích chứng minh tội phạm nhưng chủ
yếu là thu thập chứng cứ, còn xét xử là hoạt động chủ yếu để kiểm tra lại những
chứng cứ do CQĐT, VKS thu thập trong quá trình điều tra, truy tố. Trong giai đoạn
xét xử, mọi chứng cứ, tài liệu mà CQĐT, VKS thu thập trong quá trình điều tra,
truy tố được xem xét một cách công khai, những người tham gia tố tụng được tranh
luận, đối đáp với nhau trước Tòa án. Hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự có
những đặc điểm:
- Là việc Tòa án có thẩm quyền nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam ra quyết định về trách nhiệm hình sự, về tội phạm và hình phạt trong hoạt
động xét xử của Tòa án.
- Là những hoạt động được tiến hành công khai, dân chủ theo trình tự thủ tục
trên cơ sở các quy định của pháp luật mà biểu hiện tập trung nhất là tại phiên tòa cụ
thể cho từng vụ án.
- Là hoạt động nhằm xác định sự thật khách quan về tội phạm, hành vi, hậu
quả, người thực hiện tội phạm, quyết định trách nhiệm hình sự và hình phạt cùng
các biện pháp tư pháp đối với người phạm tội.
Theo BLTTHS 2003 và BLTTHS 2015 thì thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án hình
sự đối với người chưa thành niên về cơ bản cũng giống như thủ tục xét xử sơ thẩm
vụ án hình sự nói chung, tức là cũng bao gồm các giai đoạn: Thủ tục bắt đầu phiên
10


tòa, thủ tục xét hỏi tại phiên tòa, tranh luận tại phiên tòa, nghị án và tuyên án. Tuy
nhiên, do bị cáo là người chưa thành niên nên việc xét xử của Tòa án đòi hỏi phải
tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của BLHS đối với người chưa thành niên phạm
tội như: Nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội, các biện pháp tư

được chính xác ngày, tháng, năm sinh của bị cáo thì tuổi của bị cáo được xác định
như sau:
+ Trường hợp xác định được tháng sinh cụ thể nhưng không xác định
được ngày sinh trong tháng đó thì lấy ngày cuối cùng của tháng đó làm ngày
sinh của bị cáo;
+ Trường hợp xác định được quý cụ thể của năm, nhưng không xác định được
ngày tháng nào trong quý đó thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong quý
đó làm ngày sinh của bị cáo;
+ Trường hợp xác định được cụ thể nửa đầu năm hay nửa cuối năm, nhưng
không xác định được ngày tháng nào trong nửa đầu năm hoặc nửa cuối năm đó thì
lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong nữa năm đó làm ngày, tháng sinh;
+ Trường hợp xác định được năm sinh cụ thể nhưng không xác định được
ngày tháng sinh của bị cáo thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong năm đó
làm ngày, tháng sinh của bị cáo;
+ Trường hợp không xác định được năm sinh của bị cáo là người chưa thành
niên thì phải tiến hành giám định để xác định tuổi.
Tòa án chỉ xét xử khi có đủ căn cứ xác định khi thực hiện hành vi phạm tội, bị
cáo đã đủ tuổi chịu TNHS theo quy định của BLHS. Do vậy, việc xác định đúng độ
tuổi của bị cáo khi xét xử vụ án hình sự là hết sức cần thiết.
Ngoài việc phải xác định đúng độ tuổi của bị cáo, đòi hỏi khi xét xử Tòa án
còn phải xác định rõ trình độ phát triển về thể chất, tinh thần cũng như mức độ
nhận thức về hành vi phạm tội của bị cáo là người chưa thành niên, để từ đó đưa
ra phán quyết phù hợp, tạo điều kiện giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành
mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội. Mức độ phát triển về thể chất, tinh
thần có ảnh hưởng không nhỏ đến hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, trong quá
trình xét xử vụ án hình sự, Tòa án phải làm rõ tại thời điểm phạm tội thể chất, tinh
thần của bị cáo phát triển ở mức độ nào và nó có ảnh hưởng như thế nào đến việc
12





bỏ học là gì? Đối với trường hợp, khi phạm tội bị cáo đang còn đi học thì cần xem
xét đến kết quả học tập và thái độ của họ trong quá trình học tập thông qua các tài
liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án hoặc thông qua việc triệu tập thầy, cô giáo của
họ, đại diện của nhà trường đến phiên tòa để xét hỏi.
+ Trước lần phạm tội này người chưa thành niên có bị truy cứu trách nhiệm
hình sự hoặc bị xử phạt hành chính lần nào chưa.
- Có hay không có người thành niên xúi giục: Trong thực tế cuộc sống, có
không ít trường hợp người chưa thành niên thực hiện hành vi phạm tội là do người
đã thành niên xúi giục, kích động. Bởi do khả năng nhận thức, phân tích, đánh giá
vấn đề còn hạn chế cho nên bản thân người chưa thành niên thường chịu sự tác
động của các yếu tố ngoại cảnh. Những kẻ xấu thường lợi dụng sự nhẹ dạ, cả tin,
sự bồng bột, thiếu hiểu biết cùng với sự non kém về kinh nghiệm sống của người
chưa thành niên để dụ dỗ, lôi kéo, thậm chí ép buộc họ thực hiện hành vi phạm tội.
Kẻ xấu thường sử dụng những thủ đoạn rất mưu mô, xảo quyệt để đánh vào điểm
yếu của người chưa thành niên như: đe dọa, cưỡng bức, chi phối về mặt vật chất
hoặc tinh thần để buộc họ trở thành người giúp sức cho mình trong quá trình phạm
tội. Trường hợp người chưa thành niên phạm tội do sự xúi giục của người thành
niên ngày càng phổ biến, nhất là trong việc vận chuyển, mua bán trái phép các
chất ma túy, trộm cắp tài sản, cướp giật tài sản... Trong quá trình xét xử vụ án hình
sự đối với người chưa thành niên, Tòa án cần phải xác định có hay không có
người thành niên xúi giục, nhằm để giải quyết vụ án được khách quan, toàn diện,
đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và tránh bỏ lọt người phạm tội (đồng phạm).
- Nguyên nhân và điều kiện phạm tội: Các nguyên nhân và điều kiện của tội
phạm cụ thể là những nhân tố xã hội thuộc về cá nhân và những tình huống, môi
trường bên ngoài trong sự tương tác lẫn nhau của chúng quyết định sự hình thành
động cơ và sự quyết tâm thực hiện tội phạm [50, tr.102]. Môi trường sống và đặc
điểm tâm, sinh lý của lứa tuổi chưa thành niên có tác động qua lại lẫn nhau một
cách biện chứng làm phát sinh tội phạm ở người chưa thành niên. Những cảnh sống

phải đang có hiệu lực pháp luật và có giá trị pháp lý cao nhất. Khi định tội cần
phải bám sát các dấu hiệu cấu thành tội phạm sau:
+ Khách thể của tội phạm: là những quan hệ xã hội được các quy phạm pháp
luật hình sự bảo vệ bị tội phạm xâm hại đến.
15


+ Mặt khách quan của tội phạm: là những biểu hiện ra bên ngoài của tội
phạm, bao gồm: hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả nguy hiểm cho xã hội và
mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả.
+ Chủ thể của tội phạm: là con người cụ thể đã thực hiện hành vi nguy hiểm
cho xã hội và họ có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Trường hợp người chưa
thành niên phạm tội thì yếu tố chủ thể tội phạm cần được xem xét xác định chính
xác về độ tuổi và loại tội mà họ thực hiện.
+ Mặt chủ quan của tội phạm: là thái độ, diễn biến tâm lý bên trong của
người phạm tội đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả do hành vi đó
gây ra, bao gồm: lỗi, động cơ, mục đích phạm tội. Để xác định chính xác thái độ,
diễn biến tâm lý bên trong của người chưa thành niên phạm tội cần xác định rõ độ
tuổi, trình độ phát triển về thể chất và tinh thần, mức độ nhận thức về hành vi
phạm tội của người chưa thành niên.
- Quy định trách nhiệm hình sự và trách nhiệm dân sự: đây là giai đoạn
quyết định hình phạt, là một nội dung áp dụng pháp luật hình sự thể hiện ở việc
Tòa án lựa chọn và mức hình phạt cụ thể được quy định trong điều luật theo một
thủ tục nhất định để áp dụng đối với người phạm tội.
Khi QĐHP đối với người chưa thành niên phạm tội, ngoài việc căn cứ vào quy
định tại Điều 45 BLHS 1999 ( Điều 50 BLHS 2015), đòi hỏi Tòa án còn phải áp
dụng đúng các nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội được quy
định tại Điều 69 BLHS 1999 ( Điều 91 BLHS 2015). Sở dĩ, BLHS quy định các
nguyên tắc riêng khi xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội là do họ chưa
phát triển đầy đủ về thể chất, tinh thần nên chưa thể nhận thức đầy đủ tính chất

mới.
- Trước hết BLHS 1999 đã quy định những nguyên tắc:
+ Mục đích chủ yếu của việc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội là
nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công
dân có ích cho xã hội. Do vậy, trong những trường hợp cần thiết phải áp dụng hình
phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, Tòa án phải xác định rõ mục đích của
việc áp dụng hình phạt và quyết định lựa chọn loại hình phạt, mức hình phạt sao cho
đảm bảo việc giáo dục, giúp đỡ họ nhận thấy, sửa chữa những sai lầm để trở thành
17


người tốt, chứ không nhằm mục đích trừng trị như trường hợp người đã thành niên
phạm tội. Để đạt được mục đích nêu trên, đòi hỏi khi xét xử, Tòa án phải làm rõ khả
năng nhận thức của người chưa thành niên phạm tội về tính chất, mức độ nguy hiểm
cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện phạm tội. Chính từ việc
xác định rõ khả năng nhận thức của họ về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội
của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện phạm tội giúp cho Tòa án lựa chọn
đường lối giải quyết sao cho phù hợp để đạt được mục đích xử lý đối với người
chưa thành niên.
+ Chỉ trong trường hợp cần thiết mới truy cứu TNHS đối với người chưa
thành niên phạm tội và áp dụng hình phạt đối với họ. Nếu trong trường hợp cần
thiết phải truy cứu TNHS đối với người chưa thành niên phạm tội thì cũng không
nhất thiết phải áp dụng hình phạt đối với họ mà có thể áp dụng các biện pháp tư
pháp mang tính giáo dục, phòng ngừa quy định tại Điều 70 BLHS.
+ Nếu người chưa thành niên phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng,
gây hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS và được gia đình hoặc cơ
quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục thì có thể miễn TNHS cho họ.
+ Để truy cứu TNHS và áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên
phạm tội, Tòa án phải căn cứ vào tính chất của hành vi phạm tội, đặc điểm về nhân
thân và yêu cầu của việc đấu tranh phòng ngừa tội phạm. Sau khi cân nhắc kỹ càng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status