BÌNH LUẬN CÁC BẢN ÁN
TRANH CHẤP BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI
HỢP ĐỒNG
VỤ VIỆC SỐ 1
Nội dung vụ án:
Nguyên đơn ông Nguyễn Văn Q trình bày:
Ông là bố đẻ của anh Nguyễn Đức Th là nạn nhân trong vụ tai nạn giao thông xảy
ra vào hồi 0h30 ngày 27/5/2007 tại ngã ba PV, phường Hoàng L, quận Hoàng M, Hà N,
giữa xe ôtô biển kiểm soát 29V - 7689 của Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) Xây
dựng, Thương Mại và Du lịch Minh L do lái xe Nguyễn Huy Th điều khiển đi đường GP
chiều ĐC hướng VĐ chuyển hướng rẽ trái vào PV về hướng YS va chạm với xe môtô
biển kiểm soát 29U2-1102 do anh Nguyễn Đức Th điều khiển phía sau chở chị Nguyễn
Thị Th và chị Nguyễn Ngọc T. Hậu quả là anh Nguyễn Đức Th chết, chị T và chị Th bị
thương, xe mô tô hư hỏng. Việc anh Th chết đã gây cho gia đình ông nhiều tồn thất về
tình cảm và tài sản, nay ông khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH Xây dựng, Thương mại và
Du lịch Minh L bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ theo quy định tại Điều
263 BLDS năm 2005 là xe ôtô biển kiểm soát 29V - 7689 gây ra dẫn đến con trai ông là
anh Nguyễn Đức Th bị chết. Yêu cầu bồi thường cụ thể như sau:
- Tiền tổn thất tinh thần: 39.000.000 đồng.
- Mai táng phí cho anh Nguyễn Văn Th: 9.870.000 đồng.
- Tiền sửa xe máy: 8.950.000 đồng.
Tổng cộng là: 57.820.000 đồng.
Bà Trần Thị M (vợ ông Q) thống nhất với trình bày của ông Q.
1
Bị đơn Công ty TNHH Xây dựng Thương mại và Du lịch Minh L do ông Đặng
Quang M đại diện uỷ quyền trình bày:
Công ty TNHH Xây dựng, Thương mại và Du lịch Minh L là chủ phương tiện xe ô
tô biển kiểm soát 29V-7689, có thuê anh Nguyễn Huy Th làm lái xe cho công ty, theo
hợp đồng lao động ký các ngày 02/01/2007; 01/04/2007; 01/07/2007; 01/10/2007 đến
do anh Nguyễn Đức Th điều khiển vượt đèn đỏ, đâm vào bánh sau xe ôtô. Hậu quả là anh
Nguyễn Đức Th chết, xe máy do anh Th điều khiển bị hỏng. Nay, gia đình ông Q có yêu
cầu Công ty TNHH Xây dựng, Thương mại và Du lịch Minh L bồi thường thiệt hại anh
không có ý kiến gì. Anh xác định trong vụ tai nạn giao thông này anh không có lỗi và yêu
cầu Toà án giải quyết theo qui định của pháp luật.
Trong quá trình giải quyết vụ án chị Nguyễn Thuỳ D gửi đơn đề nghị đến Tòa
án, trong đơn chị trình bày:
Chị và anh Nguyễn Đức Th có quan hệ tình cảm, chưa đăng ký kết hôn. Vào thời
gian anh Th bị tại nạn và bị chết, chị đã có thai được 02 tháng. Ngày 27/5/2007, anh Th
chết cho nên anh chị không kết hôn được. Ngày 20/12/2007, chị đã sinh cháu Nguyễn
Đức T. Nay chị yêu cầu Công ty TNHH Xây dựng, Thương mại và Du lịch Minh L cấp
dưỡng nuôi Nguyễn Đức T 1.200.000đồng/tháng cho đến khi cháu T trưởng thành 18
tuổi. Ngoài ra, chị còn yêu cầu Công ty TNHH Xây dựng, Thương mại và Du lịch Minh
L hoàn trả gia đình chị số tiền 5.000.000 đồng tiền chi phí cho việc giám định gien để
chứng minh cháu Nguyễn Đức T là con của anh Nguyễn Đức Th.
Tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện:
Nguyên nhân vụ tai nạn giao thông là do nạn nhân Nguyễn Đức Th điều khiển xe
môtô biển kiểm soát 29U5-1102 vượt đèn đỏ, không giảm tốc độ khi đến đường giao
nhau, chở quá số người quy định, vi phạm Điều 11, Điều 22 và Điều 28 Luật Giao thông
đường bộ. Tại Quyết định số 06 ngày 10/9/2007 Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an
quận Hoàng M quyết định không khởi tố vụ án hình sự đối với vụ án hình sự vụ tai nạn
giao thông đường bộ xảy ra tại ngã ba PV, phường HL, quận Hoàng M, Hà N ngày
27/05/2007.
3
Công
ty
mại và Du lịch Minh L bồi thường thiệt hại. Như vậy, theo tình tiết vụ án và yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn chúng ta xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là tranh
chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do tính mạng bị xâm phạm theo quy định khoản
6 Điều 25 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 608, 610 BLDS năm 2005.
Ðiều 608 BLDS năm 2005 quy định:
Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm
Trong trường hợp tài sản bị xâm phạm thì thiệt hại được bồi thường bao gồm:
1. Tài sản bị mất;
2. Tài sản bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng;
3. Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản;
4. Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại.
Ðiều 610 BLDS năm 2005 quy định:
4
Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm
1. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:
a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại trước
khi chết;
b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng;
c) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng.
2. Người xâm phạm tính mạng của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy
định tại khoản 1 Ðiều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho
những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có
những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực
tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp
tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa
không quá sáu mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.
* Về yêu cầu của chị Nguyễn Thùy D đối với Công ty TNHH Xây dựng, Thương
mại và du lịch Minh L:
5. Tranh chấp về thừa kế tài sản.
6. Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
7. Tranh chấp về quyền sử dụng đất, về tài sản gắn liền với đất theo quy định của
pháp luật về đất đai.
8. Tranh chấp liên quan đến hoạt động nghiệp vụ báo chí theo quy định của pháp
luật.
9. Tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu.
10. Tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy định của
pháp luật về thi hành án dân sự.
6
11. Tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản, thanh toán phí tổn đăng ký mua tài
sản bán đấu giá theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.
12. Các tranh chấp khác về dân sự mà pháp luật có quy định.
Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định:
Những tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của
Toà án
1. Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn.
2. Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
3. Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
4. Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ.
5. Tranh chấp về cấp dưỡng.
6. Các tranh chấp khác về hôn nhân và gia đình mà pháp luật có quy định.
Điều 163 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định:
Phạm vi khởi kiện
1. Cá nhân, cơ quan, tổ chức có thể khởi kiện một hoặc nhiều cá nhân, cơ quan, tổ
chức khác về một quan hệ pháp luật hoặc nhiều quan hệ pháp luật có liên quan với nhau
để giải quyết trong cùng một vụ án.
Huy Th điều khiển đi đường GP chiều ĐC hướng VĐ chuyển hướng rẽ trái vào PV về
hướng YS. Xe môtô đâm vào bánh sau xe ôtô; hậu quả làm anh Th bị thương nặng được
đưa đi cấp cứu tại bệnh viện, nhưng đã chết vào hồi 03h cùng ngày; chị T và chị Th bị
thương. Xe môtô bị hư hỏng nhẹ. Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an quận Hoàng M đã
xác định nguyên nhân vụ tai nạn giao thông là do nạn nhân Nguyễn Đức Th điều khiển xe
môtô biển kiểm soát 29U5-1102 vượt đèn đỏ, không giảm tốc độ khi đến đường giao
nhau, chở quá số người quy định, Do đó, tại Quyết định số 06 ngày 10/9/2007 Cơ quan
Cảnh sát Điều tra - Công an quận Hoàng M quyết định không khởi tố vụ án hình sự đối
8
với vụ tai nạn giao thông đường bộ xảy ra tại ngã ba PV, phường HL, quận Hoàng M, Hà
N ngày 27/05/2007.
Như vậy, nguyên nhân vụ tai nạn giao thông là do anh Nguyễn Đức Th điều khiển
xe môtô vượt đèn đỏ, không giảm tốc độ khi đến đường giao nhau, chở quá số người quy
định vi phạm Điều 11, Điều 24, Điều 28, khoản 1 Điều 30 Luật Giao thông đường bộ.
Anh Nguyễn Huy Th điều khiển xe ô tô không có lỗi. Ngày10/9/2007 của Cơ quan Cảnh
sát Điều tra - Công an quận Hoàng M đã ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự số 06
đối với vụ tai nạn giao thông xảy ra vào hồi 0h30 ngày 27/5/2010 tại ngã ba PV, phường
HL, quận Hoàng M. Như vậy, chúng ta cần khẳng định lỗi hoàn toàn thuộc người bị thiệt
hại là anh Nguyễn Đức Th, lái xe Nguyễn Huy Th không có lỗi, không phải là người gây
thiệt hại theo khoản 1 Điều 604 BLDS năm 2005 nên Công ty TNHH Xây dựng, Thương
mại và Du lịch Minh L không phải bồi thường. Thiệt hại về tính mạng của anh Th, thiệt
hại về tài sản của vợ chồng ông Q không phải do nguồn nguy hiểm cao độ (ôtô biển kiểm
soát 29V - 7689) gây ra mà do chính hành vi trái pháp luật của anh Nguyễn Đức Th gây
ra. Nguyễn Huy Th lái xe ô tô của Công ty TNHH Xây dựng, Thương mại và Du lịch
Minh L không có lỗi, không có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại, nên theo quy định tại
BLDS năm 2005, Công ty TNHH Xây dựng, Thương mại và Du lịch Minh L không có
trách nhiệm phải bồi thường thiệt hại về tính mạng, tài sản theo quy định tại Điều 622
BLDS năm 2005 và tiểu mục 1, phần I; tiểu mục C mục 2, Phần III Nghị quyết số
Minh L không có trách nhiệm phải bồi thường thiệt hại về tính mạng, tài sản. Do vậy,
Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex, không có trách nhiệm thanh toán bồi thường cho
người thứ ba.
Điều 9 Quy tắc bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới ban
hành theo Quyết định số 23/2003/QĐ ngày 25/2/2003 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy
định:
Trách nhiệm bảo hiểm
Trong phạm vi mức trách nhiệm bảo hiểm ghi trên Giấy chứng nhận bảo hiểm,
doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm thanh toán cho chủ xe cơ giới số tiền mà chủ xe
10
cơ giới phải bồi thường theo BLDS về những thiệt hại đã xảy ra cho người thứ ba và
hành khách chuyên chở trên xe theo hợp đồng vận chuyển do việc sử dụng xe cơ giới gây
ra cụ thể:
1. Đối với thiệt hại về người:
Bồi thường chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng phục hồi sức khoẻ, thu
nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút, bồi dưỡng, chăm sóc người bị hại trước khi chết, mai
táng phí hợp lý... theo mức độ lỗi của chủ xe cơ giới.
Chủ xe và doanh nghiệp bảo hiểm có thể thoả thuận lựa chọn phương pháp trả tiền
áp dụng theo Bảng quy định trả tiền bồi thường thiệt hại về người (Phụ lục số 3 - Bảng
quy định trả tiền bồi thường thiệt hại về người ban hành kèm theo Quyết định số
23/2003/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính).
2. Đối với thiệt hại tài sản: bồi thường thiệt hại thực tế theo mức độ lỗi của chủ xe
cơ giới.
3. Chi phí cần thiết và hợp lý nhằm ngăn ngừa, hạn chế tổn thất liên quan tới vụ tai
nạn mà chủ xe cơ giới đã chi ra;
Tổng các khoản bồi thường và chi phí nêu trên không vượt quá mức trách nhiệm
bảo hiểm ghi trong Giấy chứng nhận bảo hiểm và không vượt quá số tiền thực tế chủ xe
phải bồi thường cho nạn nhân theo hoà giải dân sự hoặc quyết định của toà án.
khống của Báo VN đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới uy tín hành nghề của Văn phòng
trước công luận và khách hàng, vi phạm nghiêm trọng Luật Báo chí.
Ngày 11/6/2007, Văn phòng luật sư ĐA và nhóm Tinh H đã gửi Văn bản số
020607/CV-VNT tới Báo VN phát biểu bằng văn bản quan điểm của Văn phòng về hành
vi trên, đồng thời yêu cầu Báo VN đăng thông tin cải chính, xin lỗi Văn phòng, nhưng
Báo VN đã không trả lời văn bản này, cũng không tiến hành đăng thông tin cải chính và
xin lỗi như yêu cầu. Hành vi đăng tin xuyên tạc, vu khống và sau đó không trả lời, không
cải chính xin lỗi Văn phòng Luật sư ĐA của Báo VN đã vi phạm nghiêm trọng quy định
12
pháp luật trong hoạt động nghiệp vụ báo chí, trực tiếp gây thiệt hại tới uy tín hành nghề
của Văn phòng luật sư ĐA và nhóm Tinh H. Vì vậy, căn cứ theo quy định của pháp luật
hiện hành và xét hành vi vi phạm có chủ ý của Báo VN, Văn phòng luật sư ĐA và nhóm
Tinh H khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Báo VN thực hiện các việc sau:
- Chấm dứt việc đăng tải thông tin một chiều, không chính xác xuyên tạc và vu
khống liên quan tới Văn phòng luật sư ĐA và nhóm Tinh H.
- Đăng thông tin cải chính xin lỗi Văn phòng luật sư ĐA và nhóm Tinh H về hành
vi xuyên tạc trên.
- Bồi thường tổn thất về tinh thần và thiệt hại do danh dự, uy tín của Văn phòng luật
sư ĐA bị hành vi xuyên tạc vu khống của Báo VN xâm hại. Mức bồi thường là
14.500.000 đồng gồm:
+ Chi lương cho nhân viên truyền thông giải quyết vụ việc là: 8.500.000 đồng.
+ Bồi thường thu nhập thực tế bị giảm do khách hàng bị tác động bởi thông tin vu
khống, xuyên tạc của Báo VN là: 3.000.000 đồng.
+ Bồi thường tổn thất về tinh thần cho cán bộ nhân viên văn phòng là: 3.000.000
đồng.
Bị đơn Báo VN trình bày:
Báo VN thống nhất với phần trình bày của nguyên đơn về thời điểm đăng bài, tiêu
đề của bài báo và thư ngỏ. Về yêu cầu của nguyên đơn, Báo có ý kiến như sau:
luật đối với quý báo để bảo vệ quyền lợi chính đáng của ông Bùi Trọng H”.
Văn phòng luật sư ĐA và nhóm Tinh H xác nhận đối với các bài “Tối hậu thư của
Văn phòng luật sư ĐA” và “Trả lời của VNT, Báo VN chỉ đăng 01 lần tại tờ Phụ trương
VNT số 23, ngoài ra không đăng lần nào khác. Thư ngỏ trả lời của Phụ trương VNT, thư
không có nội dung kết luận Văn phòng luật sư ĐA và nhóm Tinh H đe doạ khủng bố và
ngăn cản báo chí tác nghiệp, mà thư này chỉ nêu về dấu hiệu của hành vi đe dọa khủng bố
vă ngăn cản báo chí tác nghiệp.
14
Bình luận:
* Về quan hệ pháp luật tranh chấp:
Ngày 10/6/2007, Báo VN - Phụ trương VNT đã đăng thư ngỏ trên tờ phụ trương
văn nghệ trẻ 23 (550) trả lời Công văn số 060507/CV-VNT ngày 30/5/2007 của Văn
phòng luật sư ĐA và nhóm Tinh H với tiêu đề "Tối hậu thư của Văn phòng luật sư ĐA”.
Văn phòng luật sư ĐA và nhóm Tinh H cho rằng Báo VN đã có hành vi xuyên tạc
và vu khống Văn phòng Luật sư ĐA và nhóm Tinh H đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới
danh dự và uy tín hành nghề của Văn phòng trước công luận và khách hàng. Văn phòng
luật sư ĐA và nhóm Tinh H khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Báo VN phải:
- Chấm dứt việc đăng tải thông tin một chiều, không chính xác xuyên tạc và vu
khống liên quan tới Văn phòng luật sư ĐA và nhóm Tinh H.
- Đăng thông tin cải chính xin lỗi Văn phòng luật sư ĐA và nhóm Tinh H về hành
vi xuyên tạc trên.
- Bồi thường tổn thất về tinh thần và thiệt hại do danh dự, uy tín của Văn phòng luật
sư ĐA bị hành vi xuyên tạc vu khống của Báo VN xâm hại. Mức bồi thường là
14.500.000 đồng.
Như vậy, căn cứ vào các tình tiết trong vụ án và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn,
chúng ta xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là: tranh chấp liên quan đến
hoạt động nghiệp vụ báo chí theo quy định tại khoản 8 Điều 25 Bộ luật Tố tụng dân sự,
phải chấp nhận, nếu không sẽ dùng biện pháp quyết liệt. Tại Văn bản số 060507/CVVNT ngày 30/5/2007 của Văn phòng luật sư ĐA và nhóm Tinh H thể hiện nội dung như
sau: “Văn phòng luật sư ĐA và nhóm Tinh H đề nghị Báo VN phải tổ chức một buổi làm
việc trong thời gian sớm nhất giữa nhóm tác giả bài báo, biên tập viên phụ trách chuyên
mục liên quan, đại diện có thẩm quyền của quý báo, đại diện của Văn phòng luật sư ĐA
và nhóm Tinh H và ông Bùi Trọng H… trong trường hợp không nhận được ý kiến hồi
đáp của Quý báo về đề nghị nêu trên, trong thời gian 48 giờ đồng hồ kể từ thời điểm
16
nhận được văn bản này, chúng tôi rất lấy làm tiếc phải yêu cầu các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền tiến hành các thủ tục pháp lý theo quy định pháp luật đối với Quý báo để bảo
vệ quyền lợi chính đáng của ông Bùi Trọng H”.
Như vậy, đối chiếu nội dung trên của Văn bản số 060507/CV-VNT của nguyên đơn
cho thấy phù hợp với nghĩa của từ “Tối hậu thư” như đã trích dẫn ở phần trên. Trong quá
trình giải quyết vụ án, phía nguyên đơn cũng thừa nhận Báo VN không cắt xén nội dung
của Văn bản số 060507/CV-VNT của nguyên đơn. Việc Báo VN đặt tiêu đề “Tối hậu thư
của Văn phòng luật sư ĐA” là phù hợp với nội dung Văn bản số 060570/CV-VNT. Do
đó, không có căn cứ kết luận Báo VN đã xuyên tạc, bịa đặt thông tin không có thật đối
với văn bản nêu trên như Văn phòng luật sư ĐA và nhóm Tinh H nêu ra. Bởi vậy, không
có cơ sở buộc Báo VN phải đăng thông tin cải chính xin lỗi phía nguyên đơn, như yêu
cầu của nguyên đơn. Về thư ngỏ trả lời của VNT, nội dung của thư này không kết luận
Văn phòng luật sư ĐA và nhóm Tinh H đe doạ khủng bố và ngăn cản báo chí tác nghiệp,
mà thư này chỉ nêu về dấu hiệu của hành vi trên.
Vì vậy, căn cứ Điều 9 Luật Báo chí đã sửa đổi, bổ sung; Điều 4 Nghị định số
51/2002/NĐ-CP ngày 26/4/2002 của Chính phủ không có cơ sở nào cho thấy Báo VN đã
xuyên tạc nội dung văn bản số 060507/CV-VNT ngày 30/5/2007 của Văn phòng luật sư
ĐA và nhóm Tinh H nên không phải cải chính xin lỗi theo yêu cầu của nguyên đơn.
Điều 9 Luật Báo chí đã sửa đổi, bổ sung quy định:
Cải chính trên báo chí
1. Báo chí khi thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ
văn bản kết luận vào đúng vị trí với cùng một kiểu, cỡ chữ (đối với báo in, báo điện tử),
đúng chuyên mục đã phát sóng (đối với báo nói, báo hình) mà báo chí đã đăng, phát
thông tin trên.
Thời điểm đăng, phát được tính từ ngày cơ quan báo chí nhận được văn bản kết luận
như sau: năm (5) ngày đối với báo ngày, đài phát thanh, đài truyền hình; mười (10) ngày
đối với báo tuần và trong số ra gần nhất đối với tạp chí. Đối với tạp chí xuất bản trên ba
18
mươi (30) ngày/kỳ thì ngoài việc phải đăng trên tạp chí đó trong số ra gần nhất, còn phải
thông qua một tờ báo hàng ngày hoặc đài phát thanh, đài truyền hình có phạm vi phát
hành, phủ sóng tương đương với phạm vi phát hành của tạp chí mình để đăng, phát kết
luận đó và phải chịu toàn bộ phí tổn về việc cải chính.
2. Trường hợp cơ quan báo chí, tác giả tự phát hiện nội dung thông tin trên báo chí,
tác phẩm của mình có nội dung sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ
chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân thì phải cải chính, xin lỗi trên báo chí của mình
đồng thời phải gửi văn bản cải chính, xin lỗi đến tổ chức, cá nhân đó.
Thể thức cải chính, xin lỗi trên báo chí như quy định tại khoản 1 Điều này.
3. Cơ quan báo chí nhận được lời phát biểu bằng văn bản của tổ chức, cá nhân về
những nội dung đề cập trên báo chí của mình khi có căn cứ cho rằng báo chí đã thông tin
sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm đến họ thì phải đăng, phát lời phát biểu đó
đúng vị trí, chuyên mục mà báo chí đã đăng, phát thông tin. Lời phát biểu không được
vượt quá diện tích, thời lượng đã đăng, phát nội dung thông tin nói trên.
Trường hợp không nhất trí với lời phát biểu của tổ chức, cá nhân, cơ quan báo chí
có quyền thông tin tiếp làm rõ quan điểm của mình. Sau ba (3) lần đăng, phát ý kiến phát
biểu của tổ chức, cá nhân và cơ quan báo chí mà không có sự nhất trí giữa hai bên thì cơ
quan quản lý nhà nước về báo chí có quyền yêu cầu ngừng đăng, phát các thông tin của
đương sự. Tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại đến cơ quan chủ quản của báo chí đó, cơ
quan quản lý nhà nước về báo chí hoặc khởi kiện tại Tòa án theo quy định của pháp luật.
Thể thức, thời gian đăng, phát lời phát biểu của tổ chức, cá nhân như quy định tại
VỤ VIỆC SỐ 3
Nội dung vụ án:
Nguyên đơn ông Nguyễn Thiện Th trình bày:
Ông là chồng bà Nguyễn Thị Kh. Vợ chồng ông sinh được 05 người con là anh
Nguyễn Thiện X, anh Nguyễn Thiện Q, anh Nguyễn Thiện Đ, chị Nguyễn Thị L, chị
Nguyễn Thị N.
20
Bà Kh là nạn nhân trong vụ tai nạn giao thông xảy ra vào khoảng 11h ngày
24/1/2008 tại Km 32+380 tỉnh lộ 419 thuộc địa phận xóm Tiếu, xã Đại Y, huyện Chương
M, Hà N với người đi xe đạp là cháu Lương Thành Tr, sinh năm 1997 (con đẻ của anh
Lương Văn H, chị Nguyễn Thị Hải Yến). Cháu Tr đi xe đạp đã đâm vào bà Kh làm bà
ngã xuống đường bị chấn thương sọ não.
Ngay sau khi xảy ra tai nạn, gia đình đã đưa bà đi cấp cứu và điều trị tại Viện Quân
y 103 đến ngày 25/01/2008 thì bà chết. Ngoài chi phí cứu chữa, mai táng cho bà Kh, bà
chết, ông và các con ông bị đau đớn về tinh thần vì vậy ông khởi kiện yêu cầu vợ chồng
anh H, chị Y phải bồi thường cho ông và các con tiền mai táng phí; tiền chi phí cứu chữa
cho bà, tiền tổn thất về tinh thần cho ông và 5 người con của ông và bà là anh X, anh Q,
anh Đ, chị L, chị N số tiền tổng cộng là 70.320.300 đồng.
Bị
đơn
anh
Lương
Viết
7.100.000 đồng; tiền chi phí y tế, chăm sóc trong thời gian bà Kh điều trị ở Viện Quân Y
103 hết 12.200.000 đồng. Anh Nguyễn Thiện X, anh Nguyễn Thiện Q, anh Nguyễn
Thiện Đ, chị Nguyễn Thị L, chị Nguyễn Thị N đều đã đủ 18 tuổi.
Bình luận:
* Về quan hệ pháp luật tranh chấp:
Vụ tai nạn giao thông ngày 24/01/2008 giữa cháu Lương Thành Tr (con anh H và
chị Y) và bà Nguyễn Thị Kh tại Km 32+380 tỉnh lộ 419 thuộc xã Đại Y, huyện Chương
M đã dẫn đến hậu quả bà Kh bị hôn mê sâu, chấn thương sọ não và tử vong ngày
25/01/2008. Ông Th, chồng bà Kh yêu cầu anh H, chị Y phải bồi thường thiệt hại chi phí
mai táng, chi phí cứu chữa và tiền tổn thất về tinh thần cho ông và các con số tiền tổng
cộng là 70.320.300 đồng. Như vậy, theo tình tiết vụ án và yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn chúng ta xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là tranh chấp bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng do tính mạng bị xâm phạm theo quy định khoản 6 Điều 25 Bộ
luật Tố tụng dân sự và Điều 610 BLDS năm 2005.
* Ai là người gây thiệt hại?
Theo tình tiết vụ án thì khoảng 11h ngày 24/01/2008 tại Km 32+380 tỉnh lộ 419
thuộc địa phận xóm Tiếu, xã Đại Y, huyện Chương M, Hà N, bà Kh đi bộ (đi trái chiều
đường). Cháu Tr đi xe đạp đã đâm vào bà Kh làm bà ngã xuống đường bị chấn thương sọ
não. Ngay sau khi xảy ra tai nạn, bà Kh được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Viện Quân y
103 đến ngày 25/01/2008 thì bà chết.
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì nguyên nhân xảy ra tai nạn do bà Kh không đi
đúng chiều đường quy định, cháu Tr đi xe đạp đúng phần đường nhưng đã đâm vào làm
bà, ngã xuống đường gây chấn thương sọ não dẫn đến tử vong. Như vậy, trong vụ án này
cả bà Kh và cháu Tr đều có lỗi. Bà Kh do đi không đúng chiều đường quy định dẫn đến
gây thiệt hại về tính mạng cho chính mình. Phía cháu Tr mặc dù đi xe đạp đúng chiều
đường quy định nhưng do không quan sát mặt đường, khi phát hiện ra bà Kh thì khoảng
cách đã quá gần, nên cháu Tr đã không kịp xử lý để xe đạp đâm vào bà Kh, làm bà Kh bị
22
3. Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại mà có
người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi
thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường
thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh
được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi
thường.
* Về xác định thiệt hại:
Theo quy định tại Điều 610 BLDS thì thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:
Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết;
chi phí hợp lý cho việc mai táng; tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại
có nghĩa vụ cấp dưỡng; tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích
thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại (hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng);
mức tối đa không quá 60 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định. Trong vụ án này,
nguyên đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là các con bà Kh chỉ yêu cầu chi
phí cho việc cứu chữa cho bà trước khi chết; chi phí cho việc mai táng và tiền bù đắp tổn
thất về tinh thần cho chồng và các con bà Kh, do vậy, chỉ giải quyết trong phạm vi yêu
cầu của đương sự, do đó, không xem xét, giải quyết các chi phí khác. Tiền mai táng phí
cho bà Kh hết 7.100.000 đồng; tiền chi phí y tế trong thời gian bà Kh điều trị ở Viện
Quân Y 103 hết 12.200.000 đồng. Do đó, anh H, chị Y phải bồi thường thiệt hại cho cháu
Tr các thiệt hại về mai táng phí và y tế theo mức độ lỗi của cháu Tr. Về bồi thường thiệt
hại để bù đắp tổn thất tinh thần, anh H, chị Y cho rằng các con của ông Th, bà Kh đã
trưởng thành nên không đồng ý bồi thường. Tuy các con của ông Th, bà Kh là anh
Nguyễn Thiện X, anh Nguyễn Thiện Q, anh Nguyễn Thiện Đ, chị Nguyễn Thị L, chị
Nguyễn Thị N đều đã trưởng thành, nhưng việc bà Kh là vợ, là mẹ, là chỗ dựa về tình
thần cho ông Th và các con. Do đó bà Kh chết là sự mất mát không gì có thể bù đắp được
nên chấp nhận yêu cầu bồi thường thiệt hại để bù đắp tổn thất tinh thần của nguyên đơn,
buộc anh H, chị Y có trách nhiệm bồi thường cho ông Th và các con của bà Kh mỗi
24