BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG - Pdf 30

1 Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

2 Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Thiệt hại ngoài hợp đồng là những thiệt hại gây ra không phải do vi phạm nghĩa vụ có thoả thuận

hại về tính mạng, sức khoẻ.
+ Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm uy tín bị xâm hại bao gồm chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc
phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm hại.
+ Thiệt hại do bị tổn thất về tinh thần. Bộ luật Dân sự quy định: Toà án có thể buộc người xâm
3

hại "bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại, người thân
thích gần gũi của nạn nhân".
Những quy định này chỉ định hướng nhưng chưa có tính định lượng trong việc bồi thường thiệt
hại. Bởi vậy, Toà án là người phải xác định trong trường hợp nào được bồi thường, bồi thường
bao nhiêu, bồi thường cho ai
Ví dụ: Thiệt hại về tài sản, biểu hiện cụ thể là mất tài sản, giảm sút tài sản, những chi phí để
ngăn chặn, hạn chế, sửa chữa thay thế, những lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác công
dụng của tài sản. Đây là những thiệt hại vật chất của người bị thiệt hại.
- Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật:
Quyền được bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, tài sản là một quyền tuyệt đối của mọi
công dân, tổ chức. Mọi người đều phải tôn trọng những quyền đó của chủ thể khác, không được
thực hiện bất cứ hành vi nào "xâm phạm" đến các quyền đó. Bởi vậy, Điều 609 Bộ luật Dân sự
năm 2005 quy định về thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm. Việc "xâm phạm" mà gây thiệt hại có
thể là hành vi vi phạm pháp luật hình sự, hành chính, dân sự, kể cả những hành vi vi phạm
đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, vi phạm các quy tắc sinh hoạt trong từng cộng đồng
dân cư
- Có lỗi của người gây thiệt hại:
Người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm dân sự khi họ có lỗi. Xét về hình thức lỗi là thái độ
tâm lý của người có hành vi gây thiệt hại, lỗi được thể hiện dưới dạng cố ý hay vô ý.
Cố ý gây thiệt hại là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho
người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc không mong muốn, nhưng để mặc cho thiệt
hại xảy ra.
Vô ý gây thiệt hại là một người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây ra thiệt hại
mặc dù phải biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây ra

phạt đối phương, hoặc bắt đối phương làm nô lệ, hay lấy tài sản của họ. Chế độ này còn được gọi
là chế độ tư nhân phục thù.
Trong giai đoạn thứ hai, người gây ra sự tổn hại có thể nộp một số tiền chuộc hay thục kim cho
nạn nhân để tránh trả thù. Chế độ này còn được gọi là chế độ thục kim. Chế độ thục kim đã trải
qua hai giai đoạn phát triển: 1) Khi chưa có sự can thiệp của pháp luật, các bên tự thoả thuận với
nhau về tiền chuộc, đó là chuộc lỗi tự nguyện; 2) Nhờ sự can thiệp của chính quyền, các bên
tranh chấp bắt buộc phải giải quyết tranh chấp bằng cách trả cho nhau số tiền chuộc lỗi theo
ngạch giá do pháp luật quy định, đó là chế độ thục kim bắt buộc. Tiền thục kim này có thể coi
như vừa là một hình phạt, vừa có tính chất bồi thường thiệt hại. Vào thời kỳ Luật 12 bảng, Cổ
luật La Mã mới bắt đầu chuyển từ chế độ tự ý thục kim sang bắt buộc thục kim.
Giai đoạn thứ ba, chứng kiến sự phân biệt hai trách nhiệm hình sự và dân sự . Chính quyền,
trước hết, can thiệp để trừng phạt những tội phạm chỉ liên quan đến trật tự xã hội, không liên hệ
đến cá nhân. Sự can thiệp này rất cần thiết, vì nếu không có sự thanh trừng của xã hội, những vụ
phạm pháp này không được chú ý tới vì không làm hại trực tiếp đến quyền lợi của tư nhân. Sự
can thiệp của chính quyền dần dần được nới rộng đến sự phạm pháp liên quan đến quyền lợi của
các cá nhân như các vụ ẩu đả, trộm cắp. Về phương diện hình sự, cá nhân mất hết quyền phục
thù và chỉ còn quyền xin bồi thường tổn hại của mình về dân sự.
Tuy trong một số trường hợp, Luật La Mã đã tiến tới sự phân biệt hai trách nhiệm hình sự và dân
sự, nhưng nhà làm luật chưa quy định được hẳn một nguyên tắc trách nhiệm tổng quát, bắt buộc
người gây ra sự tổn thất phải bồi thường thiệt hại bất luận trường hợp nào.
Ở Việt Nam, cổ luật cũng không tách biệt trách nhiệm BTTH là một loại trách nhiệm thuộc luật
tư và cũng chỉ giải quyết các vấn đề thuộc trật tự công. Vì vậy, các điều luật trong bộ luật cổ như
bộ Quốc triều Hình luật của nhà Lê hay Hoàng Việt Luật lệ của Gia Long đều quy định các điều
khoản trách nhiệm về luật hình ví dụ: Điều 582 Quốc triều hình luật đã quy định “Nếu những súc
vật và chó đã húc, đá và cắn người mà cách làm hiệu và ràng buộc không đúng phép – (theo
đúng phép vật nào hay húc người thì phải cắt hai sừng, đá người thì phải buộc hai chân, cắn
người thì phải cắt hai tai)- hay là chó dại mà không giết thì người chủ phải phạt 60 lượng. Nếu
vì cớ trên, có người chết hay bị thương thì phải tội quá thất. Nếu cố ý thả ra để làm cho người
chết hay bị thương thì phải tội kém tội đánh người bị thương hay đánh chết người một bậc.
5

người vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình gây tổn hại cho người khác phải bồi thường những tổn
thất mà mình gây ra.
2.2. Đặc điểm của trách nhiệm BTTH
Là một loại trách nhiệm pháp lý nên ngoài những đặc điểm của trách nhiệm pháp lý nói chung
như do cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng, áp dụng đối với người có hành vi vi phạm
pháp luật, luôn mang đến hậu quả bất lợi cho người bị áp dụng, được đảm bảo thực hiện bằng
cưỡng chế nhà nước…. thì trách nhiệm BTTH còn có những đặc điểm riêng sau đây:
6

- Về cơ sở pháp lý: Trách nhiệm BTTH là một loại trách nhiệm Dân sự và chịu sự điều chỉnh của
pháp luật Dân sự. Khi một người gây ra tổn thất cho người khác thì họ phải bồi thường thiệt hại
và bồi thường thiệt hại chính là một quan hệ tài sản do Luật Dân sự điều chỉnh và được quy định
trong BLDS ở Điều 307 và Chương XXI và các văn bản hướng dẫn thi hành BLDS.
- Về điều kiện phát sinh: trách nhiệm BTTH chỉ đặt ra khi thoả mãn các điều kiện nhất định đó
là: Có thiệt hại xảy ra, có hành vi vi phạm nghĩa vụ dân sự (nghĩa vụ theo hợp đồng hoặc ngoài
hợp đồng), có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại với thiệt hại xảy ra, có lỗi của
người gây thiệt hại (không phải là điều kiện bắt buộc). Đây là những điều kiện chung nhất để xác
định trách nhiệm của một người phải bồi thường những thiệt hại do mình gây ra. Tuy nhiên,
trong một số trường hợp đặc biệt trách nhiệm BTTH có thể phát sinh khi không có đủ các điều
kiện trên điển hình là các trường hợp bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra.
- Về hậu quả: trách nhiệm BTTH luôn mang đến một hậu quả bất lợi về tài sản cho người gây
thiệt hại. Bởi lẽ, khi một người gây ra tổn thất cho người khác thì tổn thất đó phải tính toán được
bằng tiền hoặc phải được pháp luật quy định là một đại lượng vật chất nhất định nếu không sẽ
không thể thực hiện được việc bồi thường. Do đó, những thiệt hại về tinh thần mặc dù không thể
tính toán được nhưng cũng sẽ được xác định theo quy định của pháp luật để bù đắp lại tổn thất
cho người bị thiệt hại. Và cũng chính vì vậy, thực hiện trách nhiệm bồi thường sẽ giúp khôi phục
lại thiệt hại cho người bị thiệt hại.
- Về chủ thể bị áp dụng trách nhiệm: Ngoài người trực tiếp có hành vi gây thiệt hại thì trách
nhiệm BTTH còn được áp dụng cả đối với những chủ thể khác đó là cha, mẹ của người chưa
thành niên, người giám hộ của người được giám hộ, pháp nhân đối với người của pháp nhân gây

- Chủ thể gây thiệt hại và người bị thiệt hại chính là các bên trong quan hệ hợp đồng đó. Bồi
thường thiệt hại theo hợp đồng được áp dụng khi hành vi gây thiệt hại là hành vi vi phạm nghĩa
vụ theo hợp đồng. Hành vi vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng chỉ có thể làm ảnh hưởng đến lợi ích
của các bên tham gia trong hợp đồng đó. Do đó, nếu người thứ ba có lỗi để gây ra thiệt hại cho
một bên trong hợp đồng hoặc một bên trong hợp đồng gây ra thiệt hại cho người thứ ba thì trách
nhiệm dân sự phát sinh chỉ có thể là trách nhiệm ngoài hợp đồng. Trường hợp này không áp
dụng đối với hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba bởi lẽ đây là trường hợp ngoại lệ vì người thứ
ba cũng là người có quyền lợi liên quan và được đề cập đến trong hợp đồng.
* Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được hiểu là một loại trách nhiệm dân sự mà
khi người nào có hành vi vi phạm nghĩa vụ do pháp luật quy định ngoài hợp đồng xâm phạm đến
quyền và lợi ích hợp pháp của người khác thì phải bồi thường thiệt hại do mình gây ra.
Nếu trách nhiệm BTTH theo hợp đồng bao giờ cũng được phát sinh trên cơ sở một hợp đồng có
trước thì trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm pháp lý do pháp luật quy
định đối với người có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người
khác. Hiện nay, pháp luật Việt Nam quy định chủ yếu về trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng đối
với hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản của các cá
nhân và tổ chức khác.
So với trách nhiệm BTTH theo hợp đồng thì trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng có một số khác
biệt như sau:
- Về cơ sở phát sinh trách nhiệm: Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm
dân sự phát sinh trên cơ sở do pháp luật quy định. Khác với các loại trách nhiệm pháp lý khác thì
trách nhiệm dân sự có thể phát sinh trên cơ sở sự thoả thuận của các bên. Tuy nhiên, trách nhiệm
phát sinh trên cơ sở thoả thuận của các bên chỉ có thể là trách nhiệm theo hợp đồng ví dụ như
buộc phải thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng, phạt vi phạm và/ hoặc BTTH.
8

- Về điều kiện phát sinh trách nhiệm: Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng chỉ phát sinh khi có đủ
các điều kiện do pháp luật quy định. Các điều kiện đó là: Có thiệt hại xảy ra, có hành vi trái phát
luật, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra, có lỗi. Tuy nhiên,
BTTH theo hợp đồng, do cơ sở phát sinh trách nhiệm là do các bên bên thoả thuận nên các bên

pháp luật dân sự đã cụ thể hoá những nghĩa vụ do pháp luật quy định vào trong hợp đồng và thoả
thuận đó có thể khác pháp luật thì pháp luật vẫn sẽ tôn trọng sự thoả thuận của họ nếu thoả thuận
đó là không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Chính vì vậy khi phát
sinh trách nhiệm thì các bên cũng chỉ có thể áp dụng một phương thức là kiện yêu cầu BTTH
theo hợp đồng chứ không thể tự do lựa chọn phương thức có lợi nhất cho mình. Ví dụ hành
khách bị thiệt hại về tính mạng mà theo hợp đồng vận chuyển hành khách các bên có thoả thuận
mức bồi thường thấp hơn mức bồi thường do pháp luật quy định về BTTH ngoài hợp đồng trong
9

trường hợp bị xâm phạm về tính mạng thì bên bị thiệt hại cũng chỉ có thể yêu cầu bồi thường
theo hợp đồng mà thôi.
3.2. Trách nhiệm BTTH vật chất và trách nhiệm BTTH về tinh thần
Căn cứ vào lợi ích bị bị xâm phạm và những thiệt hại xảy ra mà trách nhiệm BTTH được phân
thành trách nhiệm BTTH về vật chất và trách nhiệm bù đắp tổn thất về tinh thần.
Trách nhiệm BTTH về vật chất là trách nhiệm bồi thường tổn thất vật chất thực tế được tính
thành tiền do bên vi phạm gây ra, bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn
chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút.
Trách nhiệm BTTH về tinh thần được hiểu là người gây thiệt hại cho người khác do xâm phạm
đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người đó thì ngoài việc chấm dứt hành
vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai còn phải bồi thường một khoản tiền để bù đắp những tổn
thất về tinh thần cho người bị thiệt hại như sự buồn rầu, lòng đau thương…
Việc phân biệt hai loại trách nhiệm này có ý nghĩa trong việc xác định nghĩa vụ chứng minh và
mức bồi thường: Về nguyên tắc, người bị thiệt hại phải có nghĩa vụ chứng minh thiệt hại xảy ra
và mức bồi thường sẽ bằng mức thiệt hại. Tuy nhiên, nguyên tắc này chỉ có thể áp dụng đối với
trường hợp đó là trách nhiệm BTTH về vật chất còn trong trường hợp BTTH về tinh thần thì rõ
ràng những tổn thất về tinh thần là những tổn thất không thể nhìn thấy, không thể tính toán và
không thể chứng minh được. Chính vì vậy, trong trường hợp này pháp luật cần quy định một
mức nhất định để cơ quan Nhà nước có thẩm quyền áp dụng trong trường hợp một người có hành
vi xâm phạm đến các quyền nhân thân của người khác.
3.3. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi của con người gây ra và trách nhiệm bồi

thuộc quyền nắm giữ, quản lý và kiểm soát của những người này.
3.4. Trách nhiệm liên đới và trách nhiệm riêng rẽ
Căn cứ vào mối liên hệ giữa quyền và nghĩa vụ của các chủ thể, trách nhiệm BTTH được phân
loại thành trách nhiệm liên đới và trách nhiệm riêng rẽ.
BTTH liên đới được hiểu là trách nhiệm nhiều người mà theo đó thì mỗi người trong số những
người có trách nhiệm phải chịu trách nhiệm đối với toàn bộ thiệt hại và mỗi người trong số
những người có quyền đều có quyền yêu cầu người gây thiệt hại phải bồi thường toàn bộ cho
mình.
BTTH riêng rẽ là trách nhiệm nhiều người mà theo đó thì mỗi người có trách nhiệm chỉ phải chịu
trách nhiệm đối với phần thiệt hại do mình gây ra và mỗi người trong số những người có quyền
cũng chỉ có quyền yêu cầu người gây thiệt hại bồi thường những tổn thất mà mình phải gánh
chịu.
Việc phân loại này có ý nghĩa trong việc xác định cách thức thực hiện nghĩa vụ, căn cứ phát sinh,
chấm dứt nghĩa vụ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên. Đối với trách nhiệm liên đới
thì khi một bên thực hiện xong phần nghĩa vụ của mình trách nhiệm vẫn chưa chấm dứt mà họ
còn phải chịu trách nhiệm đối với toàn bộ thiệt hại. Khi một người gây thiệt hại đã thực hiện
trách nhiệm bồi thường thì sẽ phát sinh nghĩa vụ hoàn lại giữa những người có trách nhiệm khác
với người đó và khi một người trong số những người bị thiệt hại đã yêu cầu người gây thiệt hại
bồi thường toàn bộ thiệt hại cho mình thì phải hoàn lại phần tương ứng cho những người bị thiệt
hại khác.
Đối với trách nhiệm riêng rẽ thì khi một người thực hiện xong phần nghĩa vụ của mình hoặc khi
một người có quyền yêu cầu đã yêu cầu người có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ đối với mình thì
quan hệ nghĩa vụ của họ với người khác sẽ chấm dứt.
3.5. Trách nhiệm hỗn hợp và trách nhiệm độc lập.
11

Căn cứ vào yêú tố lỗi và mức độ lỗi của cả người gây thiệt hại và người bị thiệt hại, trách nhiệm
bồi thường thiệt hại có thể được phân thành trách nhiệm hỗn hợp và trách nhiệm độc lập.
Trách nhiệm hỗn hợp là trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà trong đó cả người gây thiệt hại và
người bị thiệt hại đều có lỗi.

đặc thù Nhà nước là một chủ thể đặc biệt thực hiện việc quản lý Nhà nước, quản lý xã hội; tiền
bồi thường thuộc ngân sách Nhà nước do đó việc thực hiện trình tự, thủ tục bồi thường cũng
12

không giống với trách nhiệm bồi thường thiệt hại thông thường. Trong thời gian tới, khi Luật Bồi
thường Nhà nước được ban hành sẽ quy định một cách rõ ràng, cụ thể hơn về vấn đề này.
Ngoài ra, nếu căn cứ vào lĩnh vực bồi thường thì trách nhiệm BTTH có thể được phân loại thành
bồi thường trong lĩnh vực hành chính, hình sự, tố tụng hình sự, sở hữu trí tuệ; căn cứ vào số
lượng chủ thể chịu trách nhiệm có thể phân trách nhiệm BTTH thành trách nhiệm một người và
trách nhiệm nhiều người; căn cứ vào điều kiện lỗi có thể phân thành trách nhiệm BTTH có yếu
tố lỗi và bồi thường thiệt hại không cần có yếu tố lỗi; căn cứ các yếu tố có liên quan đến pháp
luật nước ngoài hay không có thể phân trách nhiệm BTTH thành trách nhiệm BTTH trong nước
và trách nhiệm BTTH có yếu tố nước ngoài … Tuy nhiên, những cách phân loại này không có
nhiều ý nghĩa nên không được đề cập đến trong phạm vi bài viết này./.

[1] Vũ Văn Mẫu, Việt Nam Dân luật lược khảo, quyển 2, nghĩa vụ và khế ước, in lần 1, 1963,Bộ
quốc gia giáo dục xuất bản, tr. 437 và cuốn Từ điển Bách khoa toàn thư
SOURCE: ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ
NỘI “TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ DO TÀI SẢN GÂY THIỆT HẠI – VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VÀ THỰC TIỄN”, MÃ SỐ: LH-08-05/ĐHL. HÀ NỘI NĂM 2009
Ý NGHĨA, ĐẶC ĐIỂM VÀ XÁC ĐỊNH CHỦ THỂ CỦA TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ DO
TÀI SẢN GÂY RA
Posted on 05/04/2010 by Civillawinfor
PGS.TS. ĐINH VĂN THANH – Toà án nhân dân tối cao
1.Ý nghĩa, đặc điểm của trách nhiệm dân sự do tài sản gây ra
Theo quy định chung của pháp luật thì công dân và pháp nhân có quyền được bảo vệ tài sản, các
lợi ích hợp pháp… Tại Điều 1, Sắc lệnh 97/SL ngày 22.5.1950 đã ghi nhận :"Những quyền dân
sự đều được luật bảo vệ khi người ta hành sử nó đúng với quyền lợi của nhân dân". Trong Hiến
Pháp 1992 (Đạo luật cơ bản của Nhà nước) đối với tài sản của công dân đã được ghi nhận cụ thể:
"Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân”.

dẫn chứng lỗi của người gây thiệt hại; ngoài ra họ còn có trách nhiệm chứng minh sự thiệt hại
(những tổn thất thực tế) do người có hành vi vi phạm pháp luật gây ra phải gánh chịu khi do
chính lỗi của người đó gây ra. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra đã mở ra một
hướng giải quyết tranh chấp, theo đó, khi tài sản gây ra thiệt hại, chủ sở hữu, người đang quản lý
tài sản đương nhiên bị coi là có lỗi.
Với quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra, quyền lợi của người bị thiệt
hại được bảo đảm. Việc xác định trách nhiệm trên nguyên tắc lỗi và trách nhiệm chứng minh của
người có quyền, lợi ích bị xâm phạm nhiều khi rất phức tạp và có thể còn có những bất lợi cho
người bị thiệt hại. Nhiều trường hợp tai nạn xảy ra do cây đổ, nhà cửa công trình bị sụp đổ hoặc
do gia súc gây ra… nhưng không có ai chứng kiến, hoặc thiệt hại thực tế đã xảy ra nhưng không
do lỗi của ai cả (do máy móc, cây cối, nhà cửa, gia súc… gây ra). Vì vậy, trong những trường
hợp này, nếu bắt buộc người bị thiệt hại phải dẫn chứng lỗi tức là đã gián tiếp hạn chế quyền
được đòi bồi thường của họ, nhất là những trường hợp không phải do con người gây ra mà chỉ do
tài sản gây ra.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra cũng nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm của
chủ sở hữu, người quản lý tài sản. Chủ sở hữu, người quản lý tài sản có nghĩa vụ trông coi, quản
lý, không để tài sản của mình gây thiệt hại cho người khác. Để thực hiện nghĩa vụ đó, họ phải
tuân thủ các quy tắc trong việc sử dụng, bảo quản, sử dụng…, kịp thời phát hiện nguy cơ tài sản
có thể gây thiệt hại cho những người xung quanh để có biện pháp phòng ngừa, khắc phục thích
hợp. Khi tài sản gây ra thiệt hại, chủ sở hữu, người quản lý tài sản bị suy đoán là có lỗi, trừ
trường hợp họ chứng minh được lỗi thuộc về người khác.
14

Các quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cũng góp phần làm minh thị
các quy định pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
* Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra
- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra là loại trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng
phát sinh khi có sự kiện gây thiệt hại trái pháp luật của tài sản. Trách nhiệm này phát sinh khi tài
sản là nguyên nhân gây ra thiệt hại như hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại, cây
cối đổ gẫy gây ra thiệt hại, nhà công trình xây dựng bị sụt, đổ gây thiệt hại, gia súc gây thiệt

vi phạm. Lỗi là một trong các điều kiện bắt buộc để áp dụng trách nhiệm do hành vi vi phạm
pháp luật gây ra theo nguyên tắc chung đã phân tích ở phần trên. Chính vì vậy mà quy định về
15

căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại, yếu tố lỗi được đưa vào Điều 604 Bộ luật dân
sự; sau đó là các trường hợp ngoại lệ quy định tại khoản 3, Điều 623 Bộ luật dân sự năm 2005.
(Lưu ý rằng, vấn đề lỗi quy định tại Điều 604 Bộ luật dân sự áp dụng trong trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng, còn lỗi trong trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ được quy
định tại Điều 308 Bộ luật dân sự áp dụng cho việc vi phạm trong các quan hệ hợp đồng. Khoản
1, Điều 308 đã quy định: “Người không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự thì
phải chịu trách nhiệm dân sự khi có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý trừ trường hợp có thoả thuận khác
hoặc pháp luật có quy định khác”).
2. Trách nhiệm dân sự do tài sản gây ra và các điều kiện xác định trách nhiệm.
Trong thực tế của đời sống xã hội, có những thiệt hại phát sinh không phải do lỗi trực tiếp từ con
người mà là do các tài sản, thậm chí do súc vật gây ra. Ví dụ: tường rào đổ, xe bị hỏng phanh,
cây tự nhiên gẫy, ngựa đá, trâu lồng, chó cắn… hay các thiệt hại phát sinh từ việc kinh doanh sản
xuất do máy móc gây ra.
Vậy, trong những trường hợp như thế, rất khó chính xác và hợp lý khi dựa vào những nguyên tắc
có tính chất truyền thống để áp dụng và xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại dân sự thuần
túy. Dù rằng một số điều luật tại mục 3, Chương XXI Bộ luật dân sự 2005 đã quy định việc bồi
thường thiệt hại trong một số trường hợp cụ thể như: Điều 625 quy định bồi thường thiệt hại do
súc vật gây ra; Điều 626 quy định bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra; Điều 627 quy định bồi
thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra… Đây được xem là trách nhiệm
bồi thường thiệt hại có tính đặc thù riêng. Vì vậy, việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại
cũng có những yêu cầu riêng với những đặc trưng riêng.
Các thiệt hại phát sinh được nhiều luật gia cho là do lỗi vô ý gián tiếp của chủ sở hữu các tài sản
gây thiệt hại đó và việc xác định trách nhiệm dân sự trong các trường hợp này hiện vẫn đang là
một trong những vấn đề hết sức phức tạp và chưa đáp ứng được trong thực tiễn yêu cầu bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong cuộc sống. Mặc dù pháp luật dân sự coi lỗi là
một trong những điều kiện bắt buộc để áp dụng trách nhiệm dân sự nhưng lại không đưa ra định

thì vẫn phát sinh trách nhiệm dân sự về bồi thường. Trong các trường hợp xác định được chủ thể
là cá nhân, pháp nhân thì phải xây dựng khái niệm lỗi dựa trên sự quan tâm, chu đáo của chủ thể
trong khi thực hiện nghĩa vụ của mình. Một cá nhân hay pháp nhân, được coi là không có lỗi nếu
khi áp dụng tất cả mọi biện pháp khi thực hiện nghĩa vụ đã biểu hiện sự quan tâm chu đáo mà
tính chất của nghĩa vụ và điều kiện của đời sống dân sự yêu cầu đối với họ.
Trách nhiệm dân sự phát sinh từ các thiệt hại do tài sản (có chủ sở hữu) gây ra cho bên có quyền
được coi đó là lỗi vô ý nếu như chủ thể không nhìn thấy trước được những gì mà mọi người chu
đáo, cẩn thận có thể nhìn thấy trong hoàn cảnh tương tự. Thiệt hại phát sinh khi chủ sở hữu đã
không thực hiện sự quan tâm phải có như khi thể hiện nó trong công việc của mình.
Ví dụ, một người là chủ sở hữu cho người khác (không có bằng lái xe) mượn ô tô nhưng không
hỏi người này có bằng lái hay chưa. Khi người mượn xe lưu thông trên đường đã gây tai nạn.
Trong trường hợp này, người cho mượn xe ô tô được coi là có “lỗi gián tiếp” và đương nhiên
theo luật thì người cho mượn xe này phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại cùng
người mượn xe.
Một ví dụ khác, một người đang đi bộ trên vỉa hè bỗng nhiên bức tường rào của ngôi nhà ven
đường đổ sập xuống hoặc cây cối trong vườn tự nhiên đổ làm gẫy chân, hư hỏng tài sản khác của
người đi bộ đó.
Xem xét trách nhiệm của từng bên đối với thiệt hại thực tế đã xảy ra ta thấy rằng: Người đi bộ
trên vỉa hè và là người bị thiệt hại đương nhiên không có lỗi (trừ khi có biển cảnh báo nguy
hiểm, cấm không được qua lại và vẫn cố tình đi ngang qua). Bức tường rào hoặc cây cối bị đổ
cũng không do một lực tác động trực tiếp của một chủ thể nào. Vậy ai sẽ phải chịu trách nhiệm
bồi thường bồi thường cho người bị gẫy chân và tài sản hư hỏng của người đó (nếu có) ? Trong
trường hợp này, nếu người chủ sở hữu của bức tường rào hoặc cây cối đã mua bảo hiểm trách
nhiệm dân sự, thì việc bồi thường cho người bị thiệt hại sẽ được thực hiện theo hợp đồng bảo
hiểm; hoặc trong trường hợp người bị thiệt hại đã mua bảo hiểm thân thể, thì cơ quan bảo hiểm
sẽ chịu trách nhiệm bồi thường. Nhưng ở Việt Nam thực tế về bảo hiểm này ít xảy ra. Thông
17

thường người ta chỉ mua bảo hiểm cho tài sản mà có sự bắt buộc phải mua, ví dụ mua bảo hiểm
cho xe ô tô (thân xe, vỏ xe, máy…) hoặc mua bảo hiểm trách nhiệm dân sự.

hoặc là những chi phí những thu nhập thực tế bị giảm sút hay bị mất do có sự thiệt hại về tính
mạng, sức khoẻ đưa đến. Hoặc là những lợi ích vật chất thực tế khác bị mất đi do người vi phạm
đã gây ra cho người bị thiệt hại. Một số luật gia Sài Gòn trước đây và một số luật gia phương tây
cho rằng việc xác định thiệt hại phải có đủ ba điều kiện sau đây:
- Sự thiệt hại phải là sự đụng chạm đến quyền lợi chính đáng. Tức là quyền lợi đó phải phù hợp
với pháp luật, không phi pháp.
18

- Sự thiệt hại phải chắc chắn hoặc có đủ các yếu tố để ước lượng nó là có thật hoặc sẽ có trên
một cơ sở khoa học.
- Sự thiệt hại phải trực tiếp, vì rằng pháp luật không thể bắt buộc người gây thiệt hại phải gánh
chịu tất cả hậu quả của hành vi của mình một cách vô tận (không có giới hạn) mà chỉ là thiệt hại
trực tiếp do kết quả của hành vi có lỗi và trái pháp luật.
Một số án lệ của Pháp còn xác định thiệt hại thành một số tiền nhất định và người có hành vi
động chạm đến các giá trị tinh thần như: tôn giáo, tín ngưỡng phải bồi thường. Tuy nhiên, quan
điểm này cũng bị dư luận xã hội chỉ trích nhiều (* Xem thêm: Vũ Văn Mẫu, Dân luật Việt Nam
lược khảo, Tủ sách Đại học Sài Gòn 1971).
Pháp luật Việt Nam hiện hành coi người có hành vi xâm phạm đến các lợi ích nhân thân như uy
tín, danh dự, nhân phẩm… là trái pháp luật. Trước đây, việc bồi thường trong các trường hợp này
chưa được quy định cụ thể và cũng chưa được áp dụng trong thực tiễn. Sau khi ban hành Bộ luật
dân sự năm 1995, một số bản án đã xét xử coi đây là việc khắc phục tổn thất về tinh thần và buộc
người có hành vi vi phạm bồi thường một số tiền nhất định. Điều 608 Bộ luật dân sự năm 2005
xác định thiệt hại do tài sản bị xâm phạm cụ thể bao gồm: Tài sản bị mất; bị huỷ hoại hoặc bị hư
hỏng; lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản; chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và
khắc phục thiệt hại.
Các thiệt hại về: sức khoẻ được quy định trong Điều 609 Bộ luật dân sự; thiệt hại về tính mạng
bị xâm phạm được quy định trong Điều 610 Bộ luật dân sự; thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy
tín bị xâm phạm được quy định trong Điều 611 Bộ luật dân sự…
Ngoài việc bồi thường cho những đối tượng trực tiếp bị thiệt hại về sức khoẻ, tính mạng, tài sản,
còn có những thiệt hại gián tiếp, có những thiệt hại chưa phát sinh ngay mà ảnh hưởng về lâu dài

Quan hệ nhân quả có ý nghĩa quan trọng trong việc quy kết trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Do
vậy, khi xem xét và đánh giá mối quan hệ nhân quả cần phân biệt nguyên nhân với điều kiện,
nguyên nhân trực tiếp và nguyên nhân gián tiếp. Chỉ khi nào xác định được rõ ràng rằng hành vi
trái pháp luật của người gây thiệt hại có ý nghĩa quyết định trong việc làm phát sinh thiệt hại
thực tế, thì người đó mới phải chịu trách nhiệm bồi thường.
= > Người gây thiệt hại có lỗi.
Theo truyền thống khoa học luật dân sự: lỗi được hiểu là yếu tố chủ quan nói lên thái độ tâm lý
của con người có khả năng đánh giá và nhận thức được hành vi của mình là đúng hay sai và hậu
quả của hành vi đó. Lỗi là một trong bốn điều kiện của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng và có ý nghĩa quan trọng trong việc quyết định mức độ trách nhiệm bồi thường. Dưới
góc độ khoa học luật dân sự nói chung khi người có hành vi trái pháp luật, xâm phạm đến quyền
tuyệt đối của chủ thể khác sẽ bị suy đoán là có lỗi.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cũng được coi là một trong những công cụ
pháp lý có ý nghĩa thực tế quan trọng bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp cho công dân và pháp
nhân. Vì vậy, Trong Luật Hình sự lỗi được coi là dấu hiệu của cấu thành tội phạm. Xác định
đúng tính chất và mức độ lỗi của tội phạm là một trong những điều kiện cần thiết để định tội
danh và quyết định hình phạt. Vì rằng, có những trường hợp cùng có những biểu hiện khách
quan về hành vi như nhau, nhưng tính chất và mức độ lỗi khác nhau sẽ có kết luận khác nhau về
tội danh và hình phạt.
Trong luật dân sự cũng có sự phân biệt tính chất và mức độ lỗi (mức độ lỗi cố ý và vô ý. Trong
lỗi vô ý có vô ý nặng và vô ý nhẹ). Sự phân biệt này, tuy nhiên chỉ có ý nghĩa trong một số tr-
ường hợp nhất định. Đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng người có hành vi
trái pháp luật bị coi là có lỗi khi xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.
20

Vì vậy, có những trường hợp xảy ra ngoài ý chí mong muốn của người có hành vi trái pháp luật
như: bão, lụt do thiên tai hoặc những trở lực khách quan khác mà con người không có khả năng
để khắc phục. Do đó, tuỳ từng hoàn cảnh điều kiện cụ thể mà có thể giảm hoặc miễn trách nhiệm
bồi thường thiệt hại cho người có hành vi trái pháp luật trên cơ sở xác định lỗi.
Theo nguyên lý chung, các điều kiện xác định trách nhiệm dân sự do tài sản gây ra, về cơ bản

Vedan trên sông Thị Vải gần đây là một ví dụ. Nếu nhìn hiện tượng thì thiệt hại dường như là do
21

máy móc gây ra, nhưng con người vẫn có thể kiểm soát và kiềm chế được thiệt hại này nhưng đã
cố ý không làm hoặc bỏ mặc ! (xem Báo Tuổi trẻ số 258/2008 (5581) số ra ngày thứ bảy,
20/9/2008).
Việc xác định chủ thể trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra cũng có những
điểm khác biệt. Nếu xác định chính xác chủ sở hữu đối với tài sản, thì chủ sở hữu phải chịu trách
nhiệm bồi thường là công bằng và hợp lý. Nhưng sẽ rất phức tạp nếu “người đó’ chỉ có quyền
quản lý mà không phải là chủ sở hữu. Chẳng hạn, việc quản lý cây cối của công ty công viên và
cây xanh. Thực tế đã có những thiệt hại loại này xảy ra, nhưng việc quy kết trách nhiệm cho chủ
thể phải bồi thường là rất phức tạp. Không ít trường hợp có thiệt hại xảy ra nhưng không quy kết
được trách nhiệm bồi thường cho ai! Trong những trường hợp này đương nhiên chủ thể bị thiệt
hại phải chịu thiệt thòi.
Vì vậy, để bảo đảm sự công bằng, cần xác định theo tiêu chí sau:
- Tài sản đó xác định rõ chủ sở hữu và chủ sở hữu đang trực tiếp chiếm hữu, thì chủ sở hữu phải
bồi thường.
- Nếu tài sản được chủ sở hữu chuyển giao cho người khác quyền chiếm hữu, sử dụng (thông qua
hợp đồng thuê tài sản, thuê khoán…) theo ý chí của chủ sở hữu cần xác định: Nếu có lỗi của
người chiếm hữu, sử dụng, thì người chiếm hữu sử dụng có trách nhiệm bồi thường; nếu người
chiếm hữu, sử dụng không có lỗi mà thiệt hại do chính tài sản gây ra (mà người sử dụng không
thể biết và luật cũng không buộc phải biết) như đổ nhà, sập trần, xe ô tô bị bất ngờ gẫy khung
xe… thì chủ sở hữu phải bồi thường.
- Chủ sở hữu hoặc người được chủ sở hữu giao trách nhiệm quản lý, thì những người này có
trách nhiệm bồi thường. Trong trường hợp này cần quy định là trách nhiệm liên đới để bảo đảm
việc khắc phục được nhanh chóng, bảo đảm lợi ích cho người bị thiệt hại.
Cần lưu ý rằng, Điều 626 và Điều 627 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định hai trường hợp không
phải bồi thường là: thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại hoặc do sự kiện bất
khả kháng. Đây cũng là một thực tế rất phức tạp, vì rằng nếu vì sự vô ý của chủ sở hữu hoặc của
người được giao quản lý thì cũng rất khó quy kết trách nhiệm bồi thường. Ví dụ: cây bị mục rễ tự

ra trên thực tế. Để xác định được một cách tương đối chuẩn xác và đầy đủ các thiệt hại do đồ tài
sản gây ra, thông lệ và kinh nghiệm quốc tế cho thấy cần phải áp dụng nhiều phương pháp, cách
thức khác nhau phù hợp với tính chất và mức độ của thiệt hại.
SOURCE: ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ
NỘI “TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ DO TÀI SẢN GÂY THIỆT HẠI – VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VÀ THỰC TIỄN”, MÃ SỐ: LH-08-05/ĐHL. HÀ NỘI NĂM 2009
CÁM ƠN TS. TRẦN THỊ HUỆ – CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI ĐÃ CHIA SẺ BÀI VIẾT
VIỆC SỬ DỤNG LẠI BÀI VIẾT PHẢI NHẬN ĐƯỢC SỰ ĐỒNG Ý CỦA TÁC GIẢ
CÁC CHUYÊN ĐỀ THUỘC ĐỀ TÀI

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG CÓ YẾU TỐ
NƯỚC NGOÀI
Posted on 07/04/2010 by Civillawinfor
TS. NGUYỄN HỒNG BẮC – Khoa Pháp luật Quốc tế, Đại học Luật Hà Nội
1. Khái niệm về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do tài sản gây ra trong
Tư pháp quốc tế
23

Vấn đề bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là trách nhiệm dân sự về quan hệ bồi thường thiệt
hại mà trước khi xảy ra thiệt hại, các bên chủ thể là bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại không có
thoả thuận hoặc hợp đồng nào. Các bên nói trên vẫn có trách nhiệm với nhau trong việc bồi
thường thiệt hại trước sự kiện gây ra thiệt hại ngoài dự kiến về tài sản hoặc về tinh thần. Cụ thể
người gây thiệt hại là người duy nhất phải thực hiện trách nhiệm trước người bị hại và người bị
hại có quyền yêu cầu người gây hại phải thực hiện những hành vi nhất định nhằm đảm bảo lợi
ích của mình.
Khác với trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng, vấn đề bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng được giải quyết không trên cơ sở của hợp đồng dân sự (vì không có hợp đồng) mà chỉ giải
quyết trên cơ sở của pháp luật quy định là thiệt hại thực tế đã gây ra.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong Tư pháp quốc tế được hiểu là quan hệ
trách nhiệm có yếu tố nước ngoài. Quan hệ trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có

hậu quả thực tế tuỳ theo hoàn cảnh cụ thể pháp luật nước nào có lợi hơn khi áp dụng.
2.1.2. Theo pháp luật Việt Nam
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài theo hệ thống pháp luật
Việt Nam được quy định trong Bộ Luật Dân sự Việt Nam (Điều 773), Nghị định số 138 – CP
ngày 15.12.2005 của Chính phủ và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan.
Trước hết, vấn đề trách nhiệm bồi thường nói trên được quy định tại Điều 773 Bộ Luật Dân sự.
Cụ thể, việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài được xác định theo pháp
luật của nước nơi xảy ra hành vi gây thiệt hại hoặc nơi phát sinh hậu quả thực tế của hành vi gây
hại.
Trong trường hợp tổ chức, cá nhân nước ngoài gây thiệt hại cho Nhà nước, tổ chức và cá nhân
Việt Nam hoặc tổ chức, cá nhân Việt Nam gây thiệt hại cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tại vùng
trời, vùng biển thuộc quyền tài phán của Việt Nam thì việc bồi thường thiệt hại được xác định
theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Bên cạnh việc áp dụng pháp luật của nước nơi xảy ra hành vi vi phạm pháp luật (Lex loci delicti
commisi), pháp luật Việt Nam quy định áp dụng hệ thuộc luật quốc tịch của các bên đương sự
tức bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại và hệ thuộc luật quốc tịch của phương tiện. Cụ thể: Điều
773 khoản 3: Trong trường hợp hành vi gây thiệt hại xảy ra ở ngoài lãnh thổ của Việt Nam mà
người gây thiệt hại và người bị thiệt hại đều là công dân hoặc pháp nhân Việt Nam, thì áp dụng
pháp luật Việt Nam (Lex Nationalis). Việc bồi thường thiệt hại do tàu bay, tàu biển gây ra ở
không phận quốc tế hoặc biển cả được xác định theo pháp luật của nước mà tàu bay, tàu biển
mang quốc tịch (lex banderae), trừ trường hợp pháp luật về hàng hải, pháp luật về hàng không
của Việt Nam có quy định khác ( Điều 773 khoản 2 ).
Như vậy, trong việc điều chỉnh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Luật Tư pháp
quốc tế Việt Nam áp dụng pháp luật nơi xảy ra hành vi vi phạm pháp luật với việc kết hợp cả hai
quan điểm là theo pháp luật của nước nơi xảy ra hành vi gây thiệt hại hoặc theo pháp luật của
nước nơi phát sinh hậu quả thực tế của hành vi gây thiệt hại và áp dụng pháp luật quốc tịch của
các đương sự.
2.1.3. Theo điều ước quốc tế
Trong việc giải quyết bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài, bên cạnh giải
quyết theo pháp luật Việt Nam như đã nêu trên, Tư pháp quốc tế còn có cách giải quyết khác

các đương sự thường trú trên lãnh thổ nước kí kết kia thì áp dụng pháp luật của nuớc ký kết kia”.
Điều 23 Hiệp định tương trợ tư pháp với Lào cũng có nội dung tương tự như vậy.
Qua các quy định trên cho thấy, trong việc điều chỉnh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng, Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với các nước thường áp dụng hệ thuộc luật nơi
xảy ra hành vi vi phạm pháp luật (Lex loci delicti Commissi) hoặc Luật nhân thân (Lex
Personalis) trong đó hoặc áp dụng luật quốc tịch (Lex Nationalis ) hoặc áp dụng luật nơi cư trú
(Lex Domicilli).
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài việc được quy định trong điều ước quốc tế song phương
còn được ghi nhận trong điều ước quốc tế đa phương. Một số điều ước quốc tế đáng chú ý đã
được xây dựng như:

Trích đoạn Trách nhiệm bồi thường thuộc về ai? Xác định thiệt hại do hành vi trái pháp luật củaB gây ra Những trường hợp nào chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ không phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra? Ai phải bồi thường thiệt hại chiếc xe máy của khách mà Q làm hư hỏng? Cơ quan nào có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho T?
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status