ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN CHÍ VIỆT
SO SÁNH CHẾ ĐỊNH BỒI THƢỜNG THIỆT
HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG THEO PHÁP LUẬT
VIỆT NAM VÀ PHÁP LUẬT TRUNG QUỐC
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN CHÍ VIỆT
SO SÁNH CHẾ ĐỊNH BỒI THƢỜNG THIỆT
HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG THEO PHÁP LUẬT
VIỆT NAM VÀ PHÁP LUẬT TRUNG QUỐC
Chuyên ngành
Mã số
: Luật Dân sự và TTDS
: 60 38 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Trần Thị Huệ
THEO PHÁP LUẬT TRUNG QUỐC VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM .......................... 11
2.1. Về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng.................... 11
2.1.1. Có hành vi trái pháp luật......................................................................................................................11
2.1.2. Có thiệt hại thực tế..................................................................................................................................13
2.1.3. Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại....................................................................20
2.1.4. Có lỗi của người thực hiện hành vi...................................................................................................22
2.2. Nguyên tắc bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng........................................................... 25
2.2.1. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại theo pháp luật Trung Quốc ...................................................25
2.2.2. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại theo pháp luật Việt Nam.........................................................28
2.3. Năng lực chịu trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng .............................. 31
2.3.1. Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo pháp luật Trung Quốc.....................31
2.3.2. Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo pháp luật Việt Nam...........................37
2.4. Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng ............................ 42
2.4.1. Thời hiệu khởi kiện theo pháp luật Trung Quốc..........................................................................42
2.4.2. Thời hiệu khởi kiện theo pháp luật Việt Nam................................................................................44
2.5. Cách xác định thiệt hại ngoài hợp đồng .......................................................................... 45
2.5.1. Cách xác định thiệt hại theo pháp luật Trung Quốc ...................................................................45
2.5.2. Cách xác định thiệt hại theo pháp luật Việt Nam ........................................................................55
2.6. Thời hạn hƣởng bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng ................................................. 63
2.6.1. Thời hạn hưởng bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khoẻ bị xâm phạm theo pháp
luật Trung Quốc.................................................................................................................................................63
2.6.2. Thời hạn hưởng bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khoẻ bị xâm phạm theo pháp
luật Việt Nam ......................................................................................................................................................67
2.7. Một số khía cạnh pháp lý về bồi thƣờng thiệt hại trong trƣờng hợp cụ thể ............ 69
2.7.1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng .......69
2.7.2. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường................................71
2.7.3. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm mồ mả ...........................................................73
2.7.4. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tai nạn giao thông............................................................74
4. BTTH
: Bồi thường thiệt hại
5. TAND
: Tòa án nhân dân
6. HĐXX
: Hội đồng xét xử
7. TNDS
: Trách nhiệm dân sự
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Mỗi một lĩnh vực pháp luật đều có chức năng và phạm vi điều chỉnh riêng.
Pháp luật dân sự có chức năng quan trọng là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
chủ thể dân sự. Các quyền và lợi ích hợp pháp được pháp luật dân sự thừa nhận và
bảo vệ là nhân thân và tài sản như quyền về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân
phẩm, uy tín, tài sản.v.v..Đây là những quyền lợi cơ bản của các chủ thể dân sự.Mọi
người đều phải tôn trọng và bất khả xâm phạm tới quyền và lợi ích của người khác.
Trong xã hội ngày nay, các hành vi xâm phạm quyền, đối tượng bị xâm phạm, các
dạng thiệt hại ngày càng đa dạng và phong phú. Hệ thống các quy định hiện hành về
bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong Bộ luật dân sự, các văn bản hướng dẫn
thi hành chưa đáp ứng được nhu cầu giải quyết tranh chấp trong thực tế.
BLDS năm 2015 mới được Quốc hội ban hành và có hiệu lực từ ngày
mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và uy tín”; Luận văn thạc sỹ của Nguyễn
Minh Châu “Bồi thường thiệt hại trong trường hợp tính mạng, sức khỏe bị xâm
phạm, một số vấn đề lý luận và thực tiễn”; Luận văn thạc sỹ của Nguyễn Quỳnh
Anh “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do hành vi trái pháp luật
gây ra theo Bộ luật dân sự năm 2005”… Ngoài ra, đã có nhiều cuốn sách chuyên
khảo, bài viết khoa học liên quan đến chế định này.Ở những công trình trên, các tác
giả tiếp cận ở các góc độ khác nhau, tập trung đi sâu nghiên cứu ở những vấn đề
khác nhau trong chế định BTTHNHĐ, với những phương thức nghiên cứu khác
nhau. Tuy nhiên, đến nay chưa có công trình nào so sánh một cách tương đối toàn diện
các quy định chung của chế định theo pháp luật Việt Nam và pháp luật Trung Quốc.
Phương pháp so sánh là phương pháp hữu ích trong nghiên cứu khoa học. Việc so sánh
chế định theo pháp luật Việt Nam và Trung Quốc được xem là hướng tiếp cận mới mẻ.
Từ việc so sánh chế định, tác giả mong muốn chỉ ra những điểm tích cực của chế định
theo pháp luật Trung Quốc, thấy được hạn chế của chế định theo pháp luật Việt Nam
và đề xuất phương hướng hoàn thiện chế định theo pháp luật Việt Nam.
3. Mục tiêu nghiên cứu.
3.1. Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu toàn diện, sâu sắc, có hệ thống một số
vấn đề lý luận chung của chế định BTTHNHĐ của Pháp luật Trung Quốc và Việt
Nam. So sánh những điểm giống và khác nhau căn bản giữa các quy định chung về
2
BTTHNHĐ theo pháp luật Việt Nam và pháp luật Trung Quốc. Sau khi so sánh,
luận văn sẽ chỉ ra những điểm hạn chế của các quy định của pháp luật Việt Nam về
BTTHNHĐ.Từ đó, đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật hiện hành.
3.2. Mục tiêu cụ thể:
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra là:
- Làm rõ những vấn đề lý luận về trách nhiệm BTTHNHĐ theo pháp luật Việt
Nam và Trung Quốc.
- Chương 2: Những quy định chung về BTTHNHĐ theo pháp luật Trung
Quốc và pháp luật Việt Nam.
- Chương 3: Ưu điểm của Luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo
pháp luật Trung Quốc. Hạn chế và phương hướng hoàn thiện chế định bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng theo pháp luật Việt Nam.
Với thời gian nghiên cứu không dài, bản thân tác giả còn nhiều hạn chế về
kiến thức và kinh nghiệm trong công tác nghiên cứu khoa học, do đó luận văn
không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế. Kính mong các thầy, cô giáo và
các bạn góp ý để luận văn được hoàn chỉnh hơn.
4
Chƣơng I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM BTTHNHĐ THEO PHÁP
LUẬT TRUNG QUỐC VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM
1.1. Khái niệm và đặc điểm của trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng
Trách nhiệm dân sự có nguồn gốc phát sinh từ ý chí thỏa thuận giữa các bên
(hợp đồng) hoặc nằm ngoài ý chí của các bên (ngoài hợp đồng). Trách nhiệm ngoài
hợp đồng là loại trách nhiệm dân sự khi người nào đó có hành vi vi phạm nghĩa vụ
ngoài hợp đồng và được pháp luật quy định. Trách nhiệm BTTHNHĐ là một trong
những loại trách nhiệm ngoài hợp đồng. Trách nhiệm BTTHNHĐ được hiểu là một
loại trách nhiệm dân sự mà khi người nào có hành vi vi phạm nghĩa vụ do pháp luật
quy định ngoài hợp đồng xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác
thì phải bồi thường thiệt hại do mình gây ra. Nếu trách nhiệm BTTH theo hợp đồng
bao giờ cũng được phát sinh trên cơ sở một hợp đồng có trước thì trách nhiệm
BTTH ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm pháp lý do pháp luật quy định đối
với người có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của
người khác. Hiện nay, pháp luật Việt Nam quy định chủ yếu về trách nhiệm BTTH
ngoài hợp đồng đối với hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân
phẩm, uy tín, tài sản của các cá nhân và tổ chức khác [12].
quy định về bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra. Có lẽ xuất phát từ lý do này mà
BLDS năm 2015 đã mạnh dạn bỏ đi yếu tố lỗi làm căn cứ phát sinh trách nhiệm
BTTHNHĐ. Quan điểm thứ hai cho rằng yếu tố lỗi là yếu tố bắt buộc cấu thành
trách nhiệm BTTHNHĐ. Mặc dù khoản 1, Điều 584 BLDS 2015 không ghi nhận
yếu tố lỗi là yếu tố bắt buộc cấu thành trách nhiệm BTTHNHĐ nhưng theo quy
định chung ở phần nghĩa vụ dân sự khi xác định nghĩa vụ vẫn xem xét yếu tố lỗi.
Hơn nữa, trong các điều luật cụ thể về các trường hợp BTTHNHĐ vẫn xét đến yếu
tố lỗi. Người viết tán thành quan điểm thứ nhất, bởi chính hành vi xâm phạm quyền
đã gây ra thiệt hại thì người thực hiện hành vi phải bồi thường để bù đắp cho người
bị thiệt hại. Lỗi chỉ được xem xét để xác định mức độ BTTH của người gây thiệt
hại.Ví dụ người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi
thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh
tế của mình (khoản 2, Điều 585 BLDS 2015).Trong trường hợp nhiều người cùng
gây thiệt hại thì những người đó phải liên đới bồi thường cho người bị thiệt hại.
Trách nhiệm bồi thường của từng người cùng gây thiệt hại được xác định tương ứng
6
với mức độ lỗi của mỗi người; nếu không xác định được mức độ lỗi thì họ phải bồi
thường thiệt hại theo phần bằng nhau (Điều 587 BLDS 2015).
- Về chủ thể chịu trách nhiệm: Trách nhiệm BTTH theo hợp đồng do các bên
tham gia hợp đồng gánh chịu. Trách nhiệm BTTHNHĐ ngoài việc áp dụng đối với
chủ thể thực hiện hành vi gây thiệt hại, còn áp dụng đối với chủ thể khác. Tức người
thực hiện trách nhiệm có thể không phải là người gây thiệt hại mà là người thứ ba
như cha mẹ của người chưa thành niên, người giám hộ đối với người được giám hộ,
trường học đối với học viên, bệnh viện đối với bệnh nhân…
- Về mức độ bồi thường: Mức độ BTTH theo hợp đồng được xác định theo
thỏa thuận của các bên trong hợp đồng. Nếu các bên không thỏa thuận thì mức độ
bồi thường được xác định căn cứ vào thiệt hại thực tế trên cơ sở quy định của pháp
bên phải thực hiện, đồng thời dự liệu trước về những trường hợp phải BTTH, mức
bồi thường, phương thức bồi thường và các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
bồi thường. Nếu không có thỏa thuận thì việc xác định trách nhiệm bồi thường sẽ
được áp dụng theo quy định của pháp luật. Đôi khi việc áp dụng theo quy định của
pháp luật cũng làm cho việc tính toán toán mức bồi thường trở lên đỡ phức tạp.
Đối với trách nhiệm BTTHNHĐ, trước tiên các bên có quyền thỏa thuận về
mức bồi thường. Nếu các bên không thỏa thuận được thì mức bồi thường được xác
định dựa vào quy định của pháp luật về BTTHNHĐ. Luật dân sự luôn tôn trọng
nguyên tắc tự do thỏa thuận. Dù là BTTH theo hợp đồng hay ngoài hợp đồng thì sau
cùng các bên đều có quyền thỏa thuận về mức bồi thường. Vấn đề chỉ khác nhau ở
chỗ nếu không thỏa thuận được với nhau thì mức độ BTTHNHĐ được xác định
theo luật về BTTHNHĐ, còn mức độ BTTH theo hợp đồng trước tiên được xác
định theo hợp đồng – luật giữa các bên, sau đó mới xác định dựa theo luật định.
Thứ tư, lý do miễn trách nhiệm trách nhiệm không giống nhau. Luật hợp
đồng luôn quán triệt nguyên tắc tự nguyện. Khế ước cần được tuân thủ nghiêm ngặt.
Trong quan hệ hợp đồng, chỉ cần các bên có sự thống nhất ý chí đều chịu sự ràng
buộc của ý chí chung đó. Do đó, trong trách nhiệm hợp đồng lý do miễn trách
nhiệm dân sự rất hạn chế, thông thường chỉ giới hạn ở sự kiện bất khả kháng. Tuy
vậy, đương sự có thể dự liệu những trường hợp miễn trách nhiệm để đưa vào hợp
8
đồng. Ví dụ như trong hợp đồng khám chữa bệnh quy định vì rủi ro khách quan dẫn
đến phẫu thuật thất bại thì cơ sở khám chữa bệnh không phải chịu trách nhiện. Khi
đó, quy định này cũng là căn cứ để miễn trách nhiệm. Đối với trách nhiệm
BTTHNHĐ, pháp luật thường quy định tương đối nhiều trường hợp miễn trách
nhiệm, bao gồm các trường hợp miễn trách nhiệm thông thường và các trường hợp
miễn trách nhiệm đặc biệt [23].
Thứ năm, về chủ thể bồi thường. Chủ thể bồi thường thiệt hại theo hợp đồng
tuệ tại TAND.
1.3.2. Nguồn luật điều chỉnh theo pháp luật Trung Quốc
- Quy tắc chung Luật dân sự Trung Quốc năm 1986.
- Luật trách nhiệm xâm phạm quyền Trung Quốc năm 2010.
- Luật bồi thường nhà nước năm 2010.
- Các văn bản giải thích tư pháp của Tòa án nhân dân tối cao Trung Quốc như:
+ Ý kiến của TAND tối cao Trung Quốc về một số vấn đề liên quan tới Quy tắc
chung Luật dân sự Trung Quốc năm ban hành ngày 26/1/1988 (đã bị hủy bỏ một
phần nội dung từ ngày 24/12/2008);
+ Giải thích số 7 của TAND tối cao Trung Quốc về một số vấn đề liên quan đến xác
định trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần của hành vi xâm phạm quyền dân
sự ban hành ngày 8/03/2001;
+ Ý kiến số 3 của TAND tối cao Trung Quốc về một số vấn đề liên quan đến thụ lý
vụ án BTTH do điện giật ban hành ngày 10/1/2001
+ Giải thích tư pháp số 23 của TAND tối cao Trung Quốc về Luật trách nhiệm xâm
phạm quyền ban hành ngày 30/6/2010;
+ Giải thích tư pháp số 20 về BTTH nhân thân của TAND tối cao Trung Quốc ban
hành ngày 26/12/2003;
+ Giải thích số 19 của TAND tối cao Trung Quốc về một số vấn đề liên quan đến
giải quyết vụ án BTTH do tai nạn giao thông ban hành ngày 27/11/2012;
10
Chƣơng II: QUY ĐỊNH VỀ BỒI THỜI THƢỜNG HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG
THEO PHÁP LUẬT TRUNG QUỐC VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM
2.1. Về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng
Căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTHNHĐ của Việt Nam được ghi nhận tại
Điều 584 BLDS năm 2015. Ở Trung Quốc, Điều 6 Luật trách nhiệm xâm phạm
quyền quy định về yếu tố cấu thành trách nhiệm xâm phạm quyền như sau: “Người
bản thân hành vi để làm tiêu chuẩn phán đoán tính trái pháp luật. Học thuyết này
cho rằng cần xem xét bản thân hành vi có vi phạm nghĩa vụ chú ý thông thường
trong đời sống xã hội không? Nếu người thực hiện hành vi không vi phạm nghĩa vụ
chú ý thông thường thì dù hành vi đó có gây ra thiệt hại cũng không thể nhận định
hành vi đó trái pháp luật. Ví dụ: Một người lái xe máy tham gia giao thông không
may gây tai nạn cho người bán hàng rong. Người lái xe đã thực hiện đầy đủ luật lệ
giao thông. Theo thuyết hành vi trái luật thì trong trường hợp này có thiệt hại thực
tế xảy ra, nhưng hành vi của người lái xe không phải là hành trái pháp luật. Ngược
lại, theo học thuyết kết quả vi phạm thì hành vi gây tai nạn giao thông trong trường
hợp này đã đầy đủ cơ sở để kết luận có sự trái pháp luật. Vì người lái xe đã xâm
phạm đến sức khỏe, tính mạng của người bán hàng rong.
Hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho người khác thể hiện dưới dạng hành
động hoặc không hành động trái luật. Hành động là việc làm cụ thể của con người
nhằm một mục đích nhất định. Hành động trái luật gây thiệt hại là việc làm cụ thể
của con người xâm phạm đến quyền quyền và lợi ích của người khác. Ví dụ: Hành
động xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác. Không hành động trái
luật gây thiệt hại là việc một người không làm một việc nào đó trong khi pháp luật
quy định họ phải hành động. Việc người đó không hành động đã xâm phạm tới
quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Ví dụ: Cơ quan nhà nước, cán bộ công
chức không thực thi hoặc chậm thực thi công vụ gây thiệt hại cho tổ chức, cá nhân
liên quan.
Quy định của các quốc gia trên thế giới về phạm vi chủ thể và phạm vi quyền
lợi được pháp luật bảo vệ trước hành vi xâm phạm quyền có sự khác nhau. Khoản 1,
Điều 584 BLDS 2015 quy định: “Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức
khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người
khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có
12
13
Chủ thể bị thiệt hại chỉ được pháp luật bảo vệ khi lợi ích hợp pháp bị hành vi
trái luật xâm phạm. Theo Điều 2 Luật trách nhiệm xâm phạm quyền Trung Quốc thì
đối tượng xâm hại của hành vi xâm phạm quyền là quyền lợi tài sản và quyền lợi
nhân thân. Theo Điều 584 BLDS 2015 của Việt Nam thì đối tượng xâm hại của
hành vi xâm phạm quyền là tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài
sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác. Ý nghĩa của việc xác định đối tượng quyền và lợi
ích hợp pháp bị xâm hại là để xác định phạm vi của hành vi xâm phạm quyền, đồng
thời làm rõ các tính chất khác nhau của hành vi xâm phạm quyền. Quyền lợi và lợi
ích hợp pháp bị xâm hại là khách thể xâm hại của hành vi xâm phạm quyền. Vậy,
để xác định phạm vi xâm hại của hành vi xâm phạm quyền cần dựa vào phạm vi
quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm hại. Hay nói cách khác, hành vi gây ra thiệt hại về
quyền và lợi ích hợp pháp cho người khác là phạm vi khách thể của hành vi xâm
phạm quyền. Khi xác định được cụ thể loại quyền và lợi ích bị xâm hại sẽ xác định
được tính chất cụ thể của hành vi xâm phạm quyền. Từ đó, quyết định được sẽ phải
áp dụng điều luật nào để điều chỉnh, giải quyết như thế nào.
- Thiệt hại có tính xác định
Thiệt hại có tính xác định chỉ khả năng có thể xác định thiệt hại khách quan.
Không thể xác định thiệt hại thì không thể coi thiệt hại là yếu tố cấu thành trách
nhiệm BTTHNHĐ. Tính xác định của thiệt hại được thể hiện ở những điểm sau: (1)
Thiệt hại đã phát sinh trên thực tế. Những thiệt hại chưa phát sinh không có tính xác
định. Hành vi gây cản trở cho việc thực hiện quyền lợi của người khác tuy chưa gây
thiệt hại thực tế về tài sản cho người khác, nhưng có nguy cơ dẫn đến thiệt hại thì sẽ
làm phát sinh trách nhiệm khác, chứ không phải là trách nhiệm BTTH. Ví dụ: Hành
vi xâm phạm quyền gây nguy hiểm đến an toàn nhân thân, tài sản người khác, thì
người bị xâm phạm quyền có thể yêu cầu người xâm phạm quyền chịu trách nhiệm
xâm phạm quyền như dừng hành vi xâm hại, loại bỏ trở ngại, loại bỏ nguy hiểm
(Điều 21 Luật trách nhiệm xâm phạm quyền Trung Quốc) (2) Thiệt hại tồn tại một
hợp cụ thể để đưa ra phương án bồi thường. Người bị thiệt hại chỉ có thể đưa ra yêu
cầu bồi thường trong phạm vi pháp luật cho phép.
2.1.2.2.Phân loại thiệt hại.
Dựa vào các căn cứ khác nhau có thể chia thiệt hại thành nhiều hình thức khác
nhau. Căn cứ vào khách thể khác nhau của hành vi xâm phạm quyền, có thể phân
15
loại thiệt hại thành hai loại chính là: thiệt hại về quyền lợi tài sản và thiệt hại quyền
lợi nhân thân. Căn cứ vào hình thức thiệt hại có thể chia thiệt hại thành thiệt hại về
tài sản, thiệt hại về tinh thần. Dựa vào mối quan hệ giữa thiệt hại và hành vi gây
thiệt hại thì có thể chia thiệt hại thành thiệt hại trực tiếp (thiệt hại phát sinh do chính
sự tác động của hành vi, sự kiện gây ra) và thiệt hại gián tiếp (thiệt hại phát sinh từ
thiệt hại trực tiếp như thu nhập bị mất, hoa lợi bị thiệt hại…). Theo Nghị quyết
03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLDS năm 2005 về BTTHNHĐ thì
thiệt hại bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại do tổn thất về tinh thần. Để làm rõ
hơn các loại thiệt hại, mối quan hệ giữa hành vi xâm phạm và thiệt hại, người viết
sẽ đi phân tích hai dạng thiệt hại là thiệt hại về quyền lợi tài sản và thiệt hại về
quyền lợi nhân thân:
a) Thiệt hại về quyền lợi tài sản:
Thiệt hại về quyền lợi tài sản thường thấy là tài sản bị tổn thất, bao gồm thiệt
hại trực tiếp và thiệt hại gián tiếp. Thiệt hại trực tiếp chỉ giá trị tài sản của người bị
thiệt hại bị tổn thất hoặc giảm đi. Thiệt hại gián tiếp chỉ quyền lợi tài sản đáng ra
được hưởng bị tổn thất hoặc mất đi. Bao gồm: (1) mất đi tài sản pháp định đáng lẽ
có được hoặc tài sản sinh sôi một cách tự nhiên; (2) mất đi lợi nhuận kinh doanh
đáng lẽ có được; (3) mất đi thu nhập đáng lẽ có được, bao gồm tiền lương, tiền
thưởng.v.v..; (4) giảm thiểu hoặc làm thấp đi năng lực kiếm tiền trong tương lai của
người bị thiệt hại. Tổn thất gián tiếp có một số đặc trưng như: Khi người bị thiệt hại
tinh thần như: Bức ảnh duy nhất chụp chung với bố mẹ đã quá cố, băng ghi hình
đám cưới vợ chồng, gia phả, đồ thờ của tổ tiên nhiều đời trước để lại cho con cháu.
Từ xưa đến nay, đời sống tinh thần của con người vẫn luôn rất phong phú và ngày
càng phong phú.
b) Thiệt hại về quyền lợi nhân thân:
Trong BLDS 2015, quyền nhân thân được quy định tại mục 2, chương III
viết về cá nhân. BLDS thiết kế các quy định về quyền nhân thân theo hướng đưa ra
khái niệm chung nhất về quyền nhân thân và kèm theo các quy định cụ thể về từng
loại quyền nhân thân. Quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật này là quyền
dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường
hợp luật khác có liên quan quy định khác (Khoản 1, Điều 25 BLDS 2015). Không
17
thể phủ nhận rằng việc đưa ra khái niệm của một hiện tượng pháp lý thông qua liệt
kê những đặc trưng của hiện tượng đó là một thực tế trong khoa học pháp lý. Tuy
nhiên, trong trường hợp này các đặc trưng nêu trên của quyền nhân thân thực sự
chưa đủ để phân biệt với các quyền dân sự khác, bởi lẽ một số quyền tài sản cũng
có đặc điểm này. Vì dụ quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng giữa các thành viên trong gia
đình hoặc quyền bầu cử, ứng cử của mỗi công dân đều có những đặc điểm trên [2],
nhưng chúng đều không phải là các quyền nhân thân. Trong Quy tắc chung Luật
dân sự Trung Quốc, quyền nhân thân được quy định tại mục 4, Chương V viết về
quyền lợi dân sự. Quy tắc chung Luật dân sự Trung Quốc không đưa ra khái niệm
của quyền nhân thân, mà chỉ liệt kê các quyền nhân thân được pháp luật ghi nhận.
Có lẽ các nhà làm luật Trung Quốc nhận thấy khó có thể đưa ra một định nghĩa đầy
đủ về quyền nhân thân nên đã lựa chọn phương án liệt kê các quyền nhân thân được
pháp luật ghi nhận. Việc ghi nhận một quyền nhân thân nào đó thể hiện rằng luật
dân sự cần bảo vệ và có thể bảo vệ quyền đó. Mức độ bảo vệ còn tùy thuộc vào
nhiều yếu tố khác nhau. Quyền nhân thân trong Quy tắc chung Luật dân sự Trung
thần. Thiệt hại vô hình do hành vi xâm hại lợi ích nhân cách gây ra biểu hiện ở hai
hình thái: (1) Quyền lợi nhân cách thông thường bị xâm hại, tức nhân cách bị đánh
giá thấp, bí mật đời tư bị tiết lộ, tự do bị hạn chế, chân dung hoặc danh tính bị sử
dụng phi pháp.v.v..; (2) Hành vi xâm hại lợi ích nhân cách gây ra vết thương tinh
thần hoặc đau khổ tinh thần cho người khác. Đối với thiệt hại vô hình của lợi ích
nhân cách có thể áp dụng phương pháp trách nhiệm phi tài sản để bù đắp như xin lỗi,
cải chính công khai, khôi phục danh dự, loại bỏ ảnh hưởng.v.v... Theo pháp luật
Trung Quốc thì thiệt hại tinh thần chỉ áp dụng đối với cá nhân, còn đối với pháp
nhân thì không được yêu cầu BTTH tinh thần.
- Thiệt hại do hành vi xâm hại quyền lợi thân phận.
Thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền lợi thân phận cũng giống như thiệt hại
do hành vi xâm phạm quyền lợi nhân cách ở chỗ đều có thể dẫn đến hai loại hậu
quả thiệt hại là thiệt hại tài sản và phi tài sản. Ví dụ: Xâm hại đến quyền sinh mệnh
và quyền sức khỏe của người khác khiến họ bị chết hoặc tàn tật thì những người
đang được người đó nuôi bị mất đi quyền yêu cầu cấp dưỡng. Do đó, phải sử dụng
phương thức BTTH để bù đắp. Trong trường hợp này, cũng áp dụng nguyên tắc bồi
thường toàn bộ. Xâm hại quyền lợi nhân thân cũng có thể gây ra thiệt hại phi tài sản
19