đặc san về sửa đổi, bổ sung bộ luật dân sự
12 Tạp chí luật học
ThS. Trần Thị Huệ *
rong thc tin i sng hng ngy,
thit hi v ti sn, tớnh mng, sc
kho, danh d, nhõn phm, uy tớn ca
cụng dõn; ti sn, danh d, uy tớn ca
cỏc t chc xy ra do nhiu nguyờn nhõn
khỏc nhau, cú th l do lc lng t nhiờn
gõy ra (phng tin c gii, sỳc vt, cõy ci,
ng t, nỳi la, bóo lt); cú th do hnh
vi ca con ngi gõy ra, trong ú phn ln l
do hnh vi trỏi phỏp lut ca con ngi gõy
ra. bo v li ớch ca Nh nc, li ớch
ca tp th, quyn v li ớch hp phỏp ca
cụng dõn v cỏc ch th khỏc, B lut dõn s
(BLDS) quy nh trỏch nhim bi thng
thit hi vi t cỏch l ch nh dõn s c
lp nhm khụi phc li nhng li ớch b xõm
phm v bự p nhng thit hi xy ra cho
ngi b thit hi.
BLDS quy nh v bi thng thit hi
tng i y , cú h thng ó úng gúp
mt phn to ln trong vic iu chnh cỏc
hoc l ngi b thit hi cựng cú li (theo
iu 620, 621, 610 BLDS thỡ khi xỏc nh
mc bi thng u phi da vo mc
li). Bi th trong BLDS cn quy nh c th
v mc li vụ ý nh v li vụ ý nng. Vic
quy nh ny l ht sc cn thit, bi vỡ mt
ngi vụ ý nng gõy thit hi thỡ khụng nờn
t ra vn gim mc bi thng theo quy
nh ti khon 2 iu 610 BLDS. Bn thõn
ThS T
T
* Ging viờn chớnh Khoa lut dõn s
Trng i hc lut H Ni đặc san về sửa đổi, bổ sung bộ luật dân sự
Tạp chí luật học 13
ngi gõy thit hi hon ton cú kh nng
thy trc mc hu qu cú th xy ra dự
mong mun hoc khụng mong mun nhng
mc cho thit hi xy ra.
iu 610 BLDS quy nh cỏc nguyờn tc
bi thng thit hi trong ú khon 2 quy
nh nguyờn tc xem xột mc li v kh
nng kinh t trc mt v lõu di ca ngi
gõy ra thit hi gim mc bi thng.
Khỏi nim "thit hi quỏ ln" cũn l khỏi
nim m. Vic c th hoỏ thit hi quỏ ln
+ Sc kho b gim sỳt hoc hi phc so
vi thi im to ỏn n nh mc bi thng.
Khi gii quyt thay i mc bi thng
dự tng hay xung s khụng d dng i vi
ngi c yờu cu thay i mc bi thng
(ngi gõy thit hi cng nh ngi b thit
hi), vỡ vic chng minh s gp rt nhiu khú
khn. Cú thay i c hay khụng? thay i
theo hng no? Vo thi im no thỡ cú th
yờu cu thay i mc bi thng.
Thụng thng, yờu cu thay i phỏt sinh
khi phỏn quyt ca to ỏn cha cú hiu lc
phỏp lut nhng nu bn ỏn ó cú hiu lc
phỏp lut v cỏc bờn ó thi hnh bn ỏn hoc
ó thi hnh tho thun trong quyt nh ho
gii ca to ỏn thỡ cú thay i mc bi
thng c khụng? Do vy, vn bn phỏp
lut hng dn v thi im yờu cu thay i
mc bi thng thit hi cng cn phi quy
nh vic thay i mc bi thng c t
ra khi mc bi thng ó n nh khụng cũn
phự hp. Vn ny cú ý kin cho rng ch
c ỏp dng trong trng hp bi thng
theo nh kỡ hng thỏng hoc hng quý m
khụng th ỏp dng trong trng hp mt ln
(bi thng ton b mt ln). Bi vỡ, bi
thng mt ln l cú th khc phc c
ngay hu qu vo thi im thc hin bi
thng. Bi th, yờu cu thay i khụng cũn
ỏp ng, mc ớch bi thng khụng cũn ý
được tính cụ thể như thế nào? Được bồi
thường theo tháng, theo quý, theo năm hay
bồi thường một lần?… Đặc biệt là việc xác
định mức cấp dưỡng, đây là vấn đề khó khăn,
phức tạp trong hoạt động xét xử của toà án
khi giải quyết về bồi thường thiệt hại do sức
khoẻ, tính mạng bị xâm phạm. Theo chúng
tôi, khi xác định mức cấp dưỡng phải dựa
trên mức thực tế của những người mà người
bị thiệt hại phải cấp dưỡng đang được hưởng.
Đồng thời, dựa vào khoản chênh lệch giữa
thu nhập thực tế của người bị thiệt hại và chi
phí cần thiết tối thiểu của bản thân người ấy
hàng tháng (không quá 50% mức lương tối
thiểu của người có nghĩa vụ cấp dưỡng).
Về khoản tiền cấp dưỡng, khoản 2 Điều
613 đã xác định thu nhập thực tế bị mất hoặc
bị giảm sút của người bị thiệt hại là khoản
tiền mà người gây thiệt hại phải bồi thường.
Tiếp đến khoản 3 Điều 613 lại quy định rằng
người gây thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng
cho những người mà người bị thiệt hại có
nghĩa vụ cấp dưỡng. Việc quy định của hai
khoản trên đây tại Điều 613 đã buộc người
gây thiệt hại phải bồi thường đến hai lần cho
một thiệt hại xảy ra trên thực tế, bởi lẽ một
người khi thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho
người mình có nghĩa vụ cấp dưỡng thì mức
cấp dưỡng phải lấy trong thu nhập của người
đó. Điều này không phù hợp với nguyên tắc
không được đặt ra;
- Tuy người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp
dưỡng đối với những người được cấp dưỡng
nhưng trên thực tế họ lại không thực hiện
nghĩa vụ này. Trong khi đó, người gây thiệt
hại bị buộc phải thực hiện nghĩa vụ này thì
hoàn toàn không hợp lí.
Với thực tế này, pháp luật cần quy định
người gây thiệt hại chỉ phải bồi thường khoản
tiền khi người bị thiệt hại có thu nhập và đang
thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng bằng thu nhập
của mình đối với người được cấp dưỡng và
chỉ những người thực tế bị mất khoản cấp
dưỡng khi người bị thiệt hại mất khả năng lao
động hoặc chết thì người gây thiệt hại mới có
nghĩa vụ cấp dưỡng. Giải quyết theo hướng
này mới bảo đảm được quyền lợi chính đáng
của các chủ thể. Việc xác định chính xác thiệt
hại không chỉ đảm bảo quyền lợi cho người
bị thiệt hại mà còn đảm bảo cho cả người gây
thiệt hại (vì thiệt hại xảy ra thường nằm
ngoài mong muốn của họ).
Thời hạn được bồi thường, hiện nay, tại
Điều 616 BLDS chỉ mới quy định thời hạn
được hưởng bồi thường cho trường hợp
người bị thiệt hại mất hoàn toàn khả năng lao
động mà không quy định thời hạn được
hưởng bồi thường cho người bị thiệt hại mất
một phần khả năng lao động. Có rất nhiều
trường hợp người bị thiệt hại có tổn hại vĩnh
hơn. Đặc biệt trong những trường hợp người
phải cấp dưỡng không có khả năng về kinh
tế. Ngược lại, phương thức này gây ra một số
khó khăn cho người có nghĩa vụ cấp dưỡng
như thời gian đi lại, chi phí phương tiền tàu
xe… của người gây thiệt hại khi hai bên chủ
thể trong quan hệ có nơi cư trú cách nhau quá
xa. Hiện nay, có toà án giải quyết theo
phương thức bồi thường một lần, có toà án lại
giải quyết theo phương thức cấp dưỡng định
kì theo tháng hoặc theo quý và tách từng
phần tương ứng với từng người được hưởng.
Chúng tôi cho rằng văn bản hướng dẫn cần ®Æc san vÒ söa ®æi, bæ sung bé luËt d©n sù
16 T¹p chÝ luËt häc
quy định theo hướng này.
Điều 618 quy định bồi thường thiệt hại
trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình
thế cấp thiết. Nếu nguyên nhân đưa đến hành
vi gây thiệt hại trong trường hợp phòng vệ
chính đáng chỉ có thể do con người chủ động
gây ra thì nguyên nhân đưa đến tình thế cấp
thiết có thể do hành vi trái pháp luật của con
người gây ra, có thể do yếu tố tự nhiên gây ra
như động đất, lũ lụt , bão tố, cháy rừng.
Hành vi gây thiệt hại chỉ được coi là tình
thường thuộc về ai “người đã gây ra tình thế
cấp thiết dẫn đến thiệt hại xảy ra thì phải bồi
thường cho người bị thiệt hại” (khoản 3 Điều
618 BLDS) nhưng sẽ không đơn giản khi xác
định trách nhiệm bồi thường của hành vi gây
hại lại vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết
(thiệt hại gây ra lớn hơn thiệt hại cần ngăn
chặn). Đặc biệt trong trường hợp người nào
đó gây ra tình thế cấp thiết buộc người khác
phải hành động để bảo vệ lợi ích đang bị đe
doạ trực tiếp nhưng người này đã hành động
vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết nên
phải bồi thường cho người bị thiệt hại.
Khoản 3 Điều 618 BLDS chỉ quy định:
“… người gây hại phải bồi thường cho người
bị thiệt hại” mà không quy định cụ thể việc
bồi thường như thế nào trong trường hợp cụ
thể trên đây. Việc quy định như vậy dẫn đến
có nhiều cách hiểu khác nhau:
Thứ nhất, quy định này được hiểu là
người có hành vi gây thiệt hại vượt quá yêu
cầu của tình thế cấp thiết phải bồi thường
toàn bộ thiệt hại (tức là cả phần thiệt hại phải
hi sinh để ngăn ngừa thiệt hại lớn hơn cộng
với phần thiệt hại vượt quá), nếu vậy thì
người gây ra tình thế cấp thiết không phải
gánh chịu một hậu quả pháp lí nào cả.
Thứ hai, trách nhiệm bồi thường của
người gây ra tình thế cấp thiết và người gây
hại vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết là
nhiệm này cần thiết phải đưa ra khái niệm
chung về nguồn nguy hiểm cao độ.
Nguồn nguy hiểm cao độ là những thiết
bị máy móc, các loại hoá chất, thú dữ… luôn
chứa đựng, tiềm ẩn những nguy hiểm khách
quan những nguy cơ gây thiệt hại lớn, bất
ngờ cho những người xung quanh mà trong
quá trình chiếm hữu, sử dụng, khai thác con
người không thể kiểm soát được một cách
tuyệt đối. Như vậy, nguồn nguy hiểm cao độ
có hai đặc điểm sau:
- Hoạt động của nó gây ra nguy hiểm đối
với những người xung quanh;
- Con người không thể kiểm soát được
một cách tuyệt đối quá trình hoạt động thì sẽ
bị coi là nguồn nguy hiểm cao độ và áp dụng
trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn
nguy hiểm cao độ gây ra nếu chúng gây thiệt
hại trong quá trình hoạt động;
Theo quy định tại Điều 627 BLDS thì khi
có thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây
ra, việc bồi thường được xác định như sau:
- Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ
phải bồi thường (nếu nguồn nguy hiểm gây ra
thiệt hại trong thời gian đang do mình chiếm
hữu, sử dụng);
- Người đang chiếm hữu, sử dụng hợp
pháp nguồn nguy hiểm mà nguồn nguy hiểm
gây ra thiệt hại thì người đó phải bồi thường;
- Nguồn nguy hiểm cao độ đang bị chiếm