VỀ QUY ĐỊNH BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO
DANH DỰ, NHÂN PHẨM, UY TÍN BỊ XÂM
PHẠM TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM
VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN
PHẠM KIM ANH
ThS. Phó trưởng Khoa Luật Dân sự, ĐH luật
TP.HCM
I. Khái niệm danh dự nhân phẩm
Trong đời sống hàng ngày, thiệt hại về tài sản, tính
mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm của công dân;
tài sản, danh dự, uy tín của các tổ chức, có thể xảy ra
do nhiều tác động khác nhau. Đó có thể là những tác
động khách quan song cũng có thể do các hành vi trái
pháp luật của cá nhân mang lại. Do đó, Nhà nước ta
đã phải sử dụng nhiều biện pháp pháp luật khác nhau
để ngăn chặn và khắc phục những hậu quả đó. Điều
609 Bộ luật Dân sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam quy định: “Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi
vô ý mà xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh
dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền, lợi ích hợp
pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài
sản của pháp nhân hoặc các chủ thể khác mà gây thiệt
hại thì phải bồi thường”. Điều 615 Bộ luật Dân sự có
đề cập đến thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín
nhưng không nêu rõ khái niệm thế nào là danh dự,
nhân phẩm, uy tín. Điều này có thể dẫn đến nhiều
cách hiểu khác nhau trong thực tế. Do đó, cần xác
định rõ thế nào là danh dự, nhân phẩm, uy tín và hành
vi nào được coi là xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy
tín.
Nhân phẩm là phẩm giá con người, là giá trị tinh thần
của một cá nhân với tính cách là một con người. Chà
đạp lên nhân phẩm của người khác cũng là xúc phạm
đến danh dự người đó.
Danh dự của một tổ chức là sự đánh giá của xã hội và
sự tín nhiệm của mọi người đối với hoạt động của tổ
chức đó.
Nhưng cần phân biệt mặc dù nhân phẩm cũng là một
yếu tố của danh dự, song giữa danh dự và nhân phẩm
cũng có những điểm khác nhau nhất định:
Nếu danh dự được hình thành qua nhiều năm tháng
của cuộc đời và được xã hội đánh giá theo những tiêu
chuẩn và nguyên tắc đạo đức xã hội chủ nghĩa thì
nhân phẩm lại có từ khi con người mới sinh ra. Danh
dự có thể của một cá nhân hay tổ chức, nhưng nhân
phẩm chỉ là một khái niệm được áp dụng đối với cá
nhân. Mặc dù danh dự của một con người được hình
thành từ những hành vi và cách cư xử, từ công lao và
thành tích của người đó có được qua nhiều năm tháng
của cuộc đời và được thừa nhận, nhưng mọi người
dân đều có quyền được bảo vệ danh dự và nhân phẩm
như nhau không phân biệt vào công lao, công tác và
những đặc điểm riêng của người có quyền; những
người không có năng lực hành vi dân sự, những
người mất năng lực hành vi dân sự cũng có quyền
bảo vệ danh dự và nhân phẩm như mọi cá nhân khác.
Cũng giống như những quyền dân sự khác, quyền
được bảo vệ danh dự và nhân phẩm của cá nhân
chấm dứt khi cá nhân đó chết. Tuy nhiên, cũng có
trường hợp vì lợi ích của xã hội đòi hỏi phải phục hồi
nhục thì cố ý dùng những lời lẽ khinh bỉ, thiếu văn
hóa hay những hành động có tính chất thóa mạ để
làm nhục người khác.
Song vì danh dự và nhân phẩm của cá nhân còn bị
tổn thương ngay cả trong trường hợp người loan
truyền những sự kiện sai sự thật, xúc phạm đến người
khác do sơ suất mà tin rằng nó đúng sự thật. Hậu quả
là sự xúc phạm ở đây là làm cho người ta đánh giá sai
về một người nào đó, hoặc là hình dung sai về tư
cách, đạo đức, năng lực của người đó. Sự hình dung
sai hay đánh giá sai này bắt nguồn từ một tin tức sai
sự thật không phụ thuộc vào việc người đưa ra những
tin tức đó vô tình hay cố ý. Trong những trường hợp
đó, danh dự và nhân phẩm của cá nhân, uy tín của
một tổ chức vẫn được khôi phục bằng những biện
pháp dân sự.
Tuy nhiên cần hiểu rõ việc loan truyền những tin tức
sai sự thật này phải thuộc về việc làm, xử sự hay
trong một chừng mực nào đó phải có động cơ cá nhân
làm cho hành vi ấy trở nên xấu xa thì mới phải cải
chính. Còn những đánh giá thông thường thì tuy có
thể không đúng về thực chất và là một việc không
nên làm xét theo nguyên tắc đạo đức xã hội chủ nghĩa
nhưng không phải là những nhận xét tổng hợp gây
cho người ta một ấn tượng quá xấu về một người nào
đó thì không thể yêu cầu cải chính được. Chẳng hạn
người ta có thể nói “Thơ Bút Tre chẳng ra gì”, nhưng
không thể nhận xét về một người là thằng đầu trộm
đuôi cướp, một thằng tham ô… thì người đó có
quyền yêu cầu cải chính và nếu bị thiệt hại thì còn có
bị xâm phạm.
Như vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại sẽ bao
gồm bồi thường thiệt hại về vật chất và bồi thường
thiệt hại về tinh thần. Khái niệm thiệt hại vật chất đã
được quy định rõ trong khoản 2 Điều 310 Bộ luật
Dân sự, nhưng thiệt hại về tinh thần thì chưa được Bộ
luật Dân sự quy định cụ thể. Khoản 3 Điều 310 chỉ
quy định: “Người gây thiệt hại về tinh thần cho người
khác do xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh
dự, nhân phẩm, uy tín của người khác thì ngoài việc
chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công
khai còn phải bồi thường một khoản tiền cho người bị
hại”.
Vấn đề đặt ra, thế nào là thiệt hại về tinh thần và căn
cứ để ấn định mức bồi thường thiệt hại?
Theo chúng tôi, tinh thần là tổng thể nói chung những
ý nghĩ, tình cảm… những hoạt động thuộc về đời
sống nội tâm của con người và thiệt hại về tinh thần
là thiệt hại gây ra đối với tâm trạng của con người,
thể hiện bằng việc con người phải chịu những lo lắng,
đau đớn về tinh thần. Ví dụ như: đau đớn do người
thân bị mất, băn khoăn lo lắng do uy tín, nhân phẩm,
danh dự bị xâm phạm, mặc cảm do bị tàn phế, do bị
bôi nhọ, làm nhục, bắt giam khi không có tội… Thậm
chí chỉ một xâm phạm nhỏ như gán cho một tên gọi
rất xấu hoặc cưỡng ép kết hôn hay “quấy nhiễu” sau
khi ly hôn cũng làm cho người ta rất khổ tâm. Đây
chính là những đau đớn, dằn vặt của nội tâm mà
người ta phải chịu. Sự đau khổ này biểu hiện cũng
không giống nhau. Những thiệt hại về tinh thần do bị