Đề bài: "Anh (chị) hãy nêu những chính sách pháp luật tố tụng hình sự trong
các Nghị quyết của Đảng về cải cách tư pháp thể hiện trong Bộ luật Tố tụng
hình sự 2015".
BÀI LÀM
Trước nhiệm vụ phát triển và bảo vệ đất nước, xây dựng Nhà nước
pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Đảng ta đã đề ra nhiều chủ trương
cải cách tư pháp được ghi nhận trong các văn bản quan trọng như: Nghị
quyết 08-NQ/TW ngày 01/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ
trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới; Nghị quyết số 49 – NQ/TW
ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm
2020; Nghị quyết số 48 – NQ/TW ngày 24/4/2005 của Bộ Chính trị về chiến
lược xây dựng pháp luật đến năm 2020… Những văn bản trên thể hiện khá
đầy đủ chính sách pháp luật tố tụng hình sự trong các Nghị quyết của Đảng
về cải cách tư pháp thể hiện trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sau đây
viết tắt là BLTTHS).
I. Khái quát chung về chính sách pháp luật tố tụng hình sự ở
nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Chính sách pháp luật TTHS được hiểu là những đường định hướng,
phương châm cho việc đấu tranh phòng tội phạm, thông qua đó góp phần
phòng ngừa tội phạm, góp phần khôi phục và bảo vệ công lý; bảo vệ quyền
con người, lợi ích xã hội, trật tự pháp luật và phòng ngừa tội phạm thông qua
việc xây dựng, thực thi và giáo dục ý thức pháp luật tố tụng hình sự. Như
vậy, chính sách pháp luật tố tụng hình sự có các đặc điểm: là một bộ phận
của chính sách hình sự; chính sách pháp luật tố tụng hình sự xác định những
thông tin cơ bản về tổ chức đấu tranh, xử lý tội phạm trong hoạt động xây
dựng và thực thi pháp luật tố tụng hình sự hướng tới làm rõ sự thật khách
quan vụ án, bảo đảm công bằng, dân chủ trong quá trình giải quyết vụ án và
chính sách pháp luật tố tụng hình sự hướng tới bảo vệ con người.
Ở nước ta, chính sách pháp luật tố tụng hình sự được thể hiện trong
đường lối, Nghị quyết của Đảng; trong Hiến pháp; trong các chương trình,
dự án của Nhà nước… Trong giai đoạn hiện nay thì chính sách tố tụng hình
kịp thời, chống bỏ lọt tội phạm, chống làm oan người vô tội. Mà trước tiên
là việc định hướng về các cơ quan, thiết chế trong tổ chức đấu tranh xử lý tội
phạm. Nghị quyết 49 đã chỉ ra “Tổ chức các cơ quan tư pháp và các chế định
bổ trợ tư pháp hợp lý, khoa học và hiện đại về cơ cấu tổ chức và điều kiện,
phương tiện làm việc; trong đó, xác định tòa án có vị trí trung tâm và xét xử
là hoạt động trọng tâm; xã hội hóa mạnh mẽ hoạt động bổ trợ tư pháp”.
Trong quá trình tổ chức, sắp xếp các cơ quan tư pháp cần “xác định rõ chức
năng, nhiệm vụ, thẩm quyền” của từng cơ quan, tránh chồng chéo, mâu
thuẫn trên cơ sở xác định hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Tòa án là
trọng tâm.
Đối với Viện kiểm sát, Nghị quyết 49 định hướng “Trước mắt, Viện
kiểm sát vẫn giữ nguyên chức năng như hiện nay là thực hiện quyền công tố
và kiểm sát hoạt động tư pháp” và “nghiên cứu chuyển Viện kiểm sát thành
Viện Công tố”. Như vậy, trước mắt, Viện kiểm sát vẫn có hai chức năng
thực hành quyền công tố và kiểm sát tuân theo pháp luật trong TTHS, sau
năm 2020 nghiên cứu chuẩn bị để Viện kiểm sát chỉ giữ lại chức năng thực
hiện quyền công tố. Thực hiện chủ trương này, chức năng thực hành quyền
công tố của Viện kiểm sát được BLTTHS năm 2015 quy định sớm hơn so
2
với thể được tiến hành từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm mà
không phải từ khi khởi tố vụ án như hiện nay với nhiều thẩm quyền như: (1)
Phê chuẩn, không phê chuẩn việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp, gia
hạn tạm giữ; phê chuẩn, không phê chuẩn các biện pháp khác hạn chế quyền
con người, quyền công dân trong việc giải quyết nguồn tin về tội phạm theo
quy định của Bộ luật này; (2) Khi cần thiết đề ra yêu cầu kiểm tra, xác minh
và yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm thực
hiện; (3) Quyết định gia hạn thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm,
kiến nghị khởi tố; quyết định khởi tố vụ án hình sự; (4) Yêu cầu Cơ quan
3
bạch được xác định trước hết và trọng tâm ở thủ tục phiên tòa, Nghị quyết
49 nêu rõ “Đổi mới việc tổ chức phiên tòa xét xử, xác định rõ hơn vị trí,
quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố
tụng theo hướng bảo đảm tính công khai, dân chủ, nghiêm minh; nâng cao
chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của
hoạt động tư pháp”. Để đảm bảo tranh tụng trong xét xử, Nghị quyết 08 đưa
ra những điều kiện đảm bảo sau: “nâng cao chất lượng công tố của Kiểm sát
viên tại phiên tòa, đảm bảo tranh tụng dân chủ với luật sư, người bào chữa
và những người tham gia tố tụng khác”; “việc phán quyết của Tòa án phải
căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy
đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của người bào chữa, bị
cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp
pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và
trong thời hạn luật quy định” và cuối cùng là “các cơ quan tư pháp có trách
nhiệm tạo điều kiện để luật sư tham gia tham gia vào quá trình tố tụng: tham
gia hỏi cung bị can, nghiên cứu hồ sơ vụ án, tranh luận dân chủ tại phiên
tòa”.
Nhằm bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử và quyền của người
bị buộc tội phải được Tòa án xét xử công bằng, LTTHS năm 2015 quy định:
Ngoài cơ quan tố tụng có quyền thu thập chứng cứ như hiện nay, bổ sung
người bị buộc tội và người bào chữa có quyền thu thập, cung cấp chứng cứ
(các điều 58, 59, 60, 61, 73); Quy định người bị buộc tội, người bào chữa có
quyền trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu
người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá; Bổ sung quy định
về trách nhiệm của Tòa án trong việc giải quyết yêu cầu, đề nghị của Kiểm
sát viên và những người tham gia tố tụng trước khi mở phiên tòa như: yêu cầu
cung cấp, bổ sung chứng cứ; yêu cầu triệu tập người làm chứng và những
(4) Đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ,
giám định bổ sung, giám định lại, định giá lại tài sản; (5) Đề nghị thay đổi,
huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế.
- BLTTHS năm 2015 bổ sung các cơ chế để người bào chữa thực hiện
tốt việc bào chữa như: Quy định trách nhiệm của các cơ quan tố tụng phải
thông báo trước cho người bào chữa thời gian và địa điểm tiến hành các hoạt
động tố tụng mà họ có quyền tham gia; Quy định cụ thể thủ tục gặp người bị
buộc tội đang bị bắt, tạm giữ, tạm giam, thủ tục giao nộp chứng cứ, thủ tục
đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án. Nhằm tăng cường trách
nhiệm của người bào chữa, BLTTHS năm 2015 bổ sung nghĩa vụ của người
bào chữa phải có mặt theo yêu cầu của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát;
không được tiết lộ thông tin mà mình biết được khi tham gia các hoạt động
tố tụng liên quan đến vụ án hoặc liên quan đến người mà mình bào chữa cho
những người không có trách nhiệm giải quyết vụ án.
Đồng thời quy định cụ thể thủ tục mời, cử người bào chữa (Điều 75):
bảo đảm quyền của người bị buộc tội, nhất là người bị buộc tội đang bị bắt,
tạm giữ, tạm giam, BLTTHS năm 2015 quy định: (1) Bổ sung người thân
thích của người bị buộc tội có quyền mời người bào chữa; (2) Quy định cụ thể
thủ tục và trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, cơ quan
quản lý người bị tạm giữ, tạm giam khi tiếp nhận được yêu cầu nhờ người bào
từ người buộc tội phải chuyển yêu cầu này hoặc thông báo cho người bào
chữa được họ nhờ biết; có trách nhiệm tạo điều kiện cho người bào chữa liên
hệ với người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam để thỏa thuận về việc nhờ bào chữa.
b. Áp dụng biện pháp ngăn chặn:
5
Nghị quyết 08 yêu cầu “Tăng cường công tác kiểm sát bắt, giam, giữ
bảo đảm đúng pháp luật”, đồng thời cần xác định rõ căn cứ tạm giam; hạn
chế việc áp dụng tạm giam đối với một số loại tội phạm. Theo đó, BLTTHS
thành phố trực truộc trung ương, Cục trưởng Cục trinh sát Bộ đội biên
phòng, Cục trưởng Cục phòng chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng,
Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên
phòng; Tư lệnh vùng Cảnh sát biển, Cục trưởng Cục nghiệp vụ và pháp luật
Cảnh sát biển; Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống tội phạm ma túy
Cảnh sát biển; Chi cục trưởng Chi cục Kiểm ngư Vùng.
6
- Quy định chặt chẽ căn cứ tạm giam ( điều 119): Thể chế hóa chủ
trương của Đảng về hạn chế việc áp dụng biện pháp tạm giam, BLTTHS quy
định chặt chẽ căn cứ tạm giam, theo đó, đối với bị can, bị cáo bị khởi tố, điều
tra, truy tố, xét xử về tội phạm nghiêm trọng, tội phạm ít nghiêm trọng mà Bộ
luật hình sự quy định hình phạt tù trên 02 năm thì cụ thể hóa căn cứ cản trở
điều tra, truy tố, xét xử bằng các căn cứ cụ thể như: Có hành vi mua chuộc,
cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự
thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản
liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại,
người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này.
Đối với tội phạm ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định mức
phạt tù đến 02 năm nhưng bỏ trốn, BLTTHS năm 2015 quy định chỉ có thể
tạm giam đối tượng này nếu họ tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn và bị bắt theo
lệnh truy nã.
Và rút ngắn thời hạn tạm giam theo hướng: trong giai đoạn điều tra,
đối với tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng: chỉ cho phép gia hạn một lần
thay vì gia hạn hai lần như hiện nay; đối với tội đặc biệt nghiêm trọng, chỉ
cho phép gia hạn hai lần thay vì gia hạn ba lần như hiện nay. Theo đó, rút
ngắn thời hạn tạm giam 01 tháng đối với tội ít nghiêm trọng; 02 tháng đối
với tội rất nghiêm trọng; 04 tháng đối với tội đặc biệt nghiêm trọng. Đồng
thời, để đáp ứng yêu cầu đấu tranh với các tội xâm phạm an ninh quốc gia
pháp trong hoạt động tố tụng tư pháp theo hướng tăng quyền và trách
nhiệm cho điều tra viên, kiểm sát viên và thẩm phán để họ chủ động trong
thực thi nhiêm vụ, nâng cao tính độc lập và chịu trách nhiệm trước pháp
luật về các hành vi và quyết định tố tụng của mình”.
Quan điểm này đã được BLTTHS 2015 thể chế hóa bằng các quy định
tại Điều 36, 37, 41, 42, 44, 45. Theo đó, trong lĩnh vực được phân công phụ
trách, cấp phó không chỉ được giao thẩm quyền tiến hành tố tụng như
BLTTHS 2003, mà còn được giao thẩm quyền quản lý hành chính tư pháp.
Phân định thẩm quyền giữa Thủ trưởng cơ quan tiến hành tố tụng với người
trực tiếp tiến hành tố tụng theo hướng những thẩm quyền có tính chất quyết
định việc “đóng, mở” một giai đoạn tố tụng, những thẩm quyền liên quan
đến việc hạn chế quyền con người, quyền công dân giao cho Thủ trưởng Cơ
quan điều tra, Viện trưởng Viện kiểm sát quyết định; hầu hết những thẩm
quyền có tính chất phát hiện hoặc làm sáng tỏ sự thật vụ án giao cho Điều tra
viên, Kiểm sát viên trực tiếp quyết định. Tăng cơ bản thẩm quyền cho Thẩm
phán được phân công chủ tọa phiên tòa. Cụ thể việc tăng thẩm quyền cho
Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán được quy định cụ thể như sau:
- Tăng cho Điều tra viên các thẩm quyền: (1) Yêu cầu hoặc đề nghị cử,
thay đổi người bào chữa; yêu cầu cử, thay đổi người phiên dịch, người dịch
thuật; (2) Triệu tập và lấy lời khai người tố giác, báo tin về tội phạm, người
bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân;
(3) Quyết định áp giải người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt,
bị tạm giữ; quyết định dẫn giải người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố,
bị hại; (4) Quyết định giao người dưới 18 tuổi cho cơ quan, tổ chức, cá nhân
có trách nhiệm giám sát; (5) Quyết định thay đổi người giám sát người dưới
18 tuổi phạm tội; (6) Thi hành lệnh phong tỏa tài khoản.
- Tăng cho Kiểm sát viên các thẩm quyền: (1) Trực tiếp giải quyết và
lập hồ sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm; (2) Triệu tập và lấy lời khai
8
Ngoài các nguyên tắc đã được ghi nhận trong BLTTHS 2003 như:
Bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự; Tôn trọng và bảo
vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân; Bảo đảm quyền
bình đẳng trước pháp luật; Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể,
chỗ, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, gia đình…; Bảo hộ tính mạng, sức
khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản…; Bảo đảm quyền bào chữa của người bị
buộc tội, bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự… thì BLTTHS
2015 đã bổ sung 05 nguyên tắc mới nhằm bảo đảm tốt hơn quyền con người,
quyền công dân theo định hướng các chính sách hình sự trong các Nghị quyết
của Đảng và theo quy định của Hiến pháp năm 2013, gồm: Công dân Việt
9
Nam không thể bị trục xuất, giao nộp cho nhà nước khác (Điều 11); suy đoán
vô tội (Điều 13); không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm (Điều 14); tranh
tụng trong xét xử được bảo đảm (Điều 26); bảo đảm sự kiểm tra, giám sát
trong hệ thống từng cơ quan tố tụng và kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan
tiến hành tố tụng (Điều 33);
Bảo vệ quyền con người thông qua quy định của BLTTHS về các biện
pháp ngăn chặn: nhằm tránh việc lợi dụng của các cơ quan THTT và người
THTT khi áp dụng biện pháp ngăn chặn xâm hại đến quyền con người,
BLTTHS 2015 quy định phần này tập trung, thống nhất, chặt chẽ trong
chương VII, mục I; từng biện pháp được điều chỉnh bởi năm yếu tố: căn cứ
áp dụng, thẩm quyền quyết định, trình tự, thủ tục và thời hạn tiến hành: Về
biện pháp bắt (Điều 109); Về biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn
cấp (Điều 110); Bổ sung và quy định chặt chẽ những người có thẩm quyền
bắt khẩn cấp, tạm giữ (các điều 110, 117); Quy định cụ thể những việc cần
làm ngay sau khi bắt người hoặc nhận người bị bắt (Điều 114); Quy định
chặt chẽ căn cứ tạm giam và rút ngắn thời hạn tạm giam (các điều 119,
173):