ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TẠ THỊ MINH LOAN
NHỮNG NGUYÊN TẮC CỦA TRỌNG TÀI THƢƠNG MẠI
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số
: 60 38 50
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Lan Hƣơng
HÀ NỘI - 2007
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
MỞ ĐẦU
1
Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận về nguyên tắc của trọng tài thƣơng mại
Sự cần thiết phải có trọng tài thƣơng mại - trọng tài phi chính
phủ ở Việt Nam
12
1.2.
Khái luận về nguyên tắc của trọng tài thƣơng mại
15
1.2.1.
Khái niệm và vai trò nguyên tắc của trọng tài thƣơng mại
15
1.2.1.1. Khái niệm nguyên tắc của trọng tài thƣơng mại
15
1.2.1.2. Vai trò của nguyên tắc của trọng tài thƣơng mại
16
1.2.2.
18
Nguyên tắc của trọng tài thƣơng mại
1.3.2.
Yêu cầu của giải quyết tranh chấp thƣơng mại
28
1.3.3.
Yếu tố thuộc tính trong bản chất của trọng tài thƣơng mại
31
1.4.
Cơ chế thực hiện nguyên tắc của Trọng tài thƣơng mại theo
pháp luật Việt Nam
32
1.4.1.
Cụ thể hóa các nguyên tắc trong pháp luật trọng tài
32
1.4.2.
Hoạt động của trọng tài, trọng tài viên
38
2.1.2.
Quy định về công nhận trọng tài viên
40
2.1.3.
Quy định về quan hệ giữa tòa án và trọng tài
41
2.1.4.
Quy định về nguyên tắc độc lập của trọng tài trong pháp luật
trọng tài một số quốc gia khác
44
2.2.
Quy định về nguyên tắc thỏa thuận trong pháp luật trọng tài
Việt Nam
48
2.2.1.
2.3.2.
Quyền bình đẳng giữa các bên
61
2.3.3.
Quy định về nguyên tắc công bằng trong pháp luật trọng tài một
số quốc gia khác
63
2.4.
Quy định về nguyên tắc tính hợp pháp của phán quyết trọng tài
trong pháp luật trọng tài Việt Nam
65
2.4.1.
Quy định về phán quyết của trọng tài
65
2.4.2.
Thi hành phán quyết trọng tài
Đánh giá về nguyên tắc độc lập của trọng tài
77
3.1.3.
Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả nguyên tắc độc lập
của trọng tài
78
3.2.
Nguyên tắc thỏa thuận
80
3.2.1.
Nhận thức về nguyên tắc thỏa thuận
80
3.2.2.
Đánh giá về nguyên tắc thỏa thuận
85
3.2.3.
3.4.
Nguyên tắc tính hợp pháp của phán quyết trọng tài
93
3.4.1.
Nhận thức về nguyên tắc tính hợp pháp của phán quyết trọng tài
93
3.4.2.
Đánh giá về nguyên tắc tính hợp pháp của phán quyết trọng tài
96
3.4.3.
Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của nguyên tắc tính
hợp pháp của phán quyết trọng tài
97
3.5.
Nâng cao nhận thức và ý thức pháp luật trọng tài thƣơng mại
98
tế từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về trọng tài là việc làm có ý
nghĩa cả về lý luận và thực tiễn đối với sự phát triển của phƣơng thức này tại Việt
Nam. Đề tài: "Những nguyên tắc của trọng tài thƣơng mại theo pháp luật Việt
Nam" đƣợc thực hiện nhằm góp phần đạt đƣợc mục đích đó.
2. Tình hình nghiên cứu
Liên quan đến pháp luật về trọng tài thƣơng mại đã có một số công trình
nghiên cứu dƣới các góc độ và mức độ khác nhau. Có các công trình nhƣ: "Hoàn
thiện pháp luật giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta hiện nay" Của TS. Đào Văn
Hội (Nxb chính trị quốc gia, 2004); TS.LS Nguyễn Chúng với "Kinh nghiệm thực
tế giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại - hàng hải" (Nxb chính trị quốc gia);
T.S. Phan Chí Hiếu có bài "Thủ tục giải quyết các yêu cầu liên quan đến hoạt động
trọng tài thương mại Việt Nam" trong Luật học số Đặc san về Bộ luật tố tụng dân
sự năm 2004; PGS.TS Dƣơng Đăng Huệ có bài "Pháp lệnh trọng tài thương mại
năm 2003 - Động lực mới cho sự phát triển của trọng tài phi chính phủ ở nước ta".
Ngoài ra, có một số luận văn cao học và luận án tiến sĩ luật học tập trung
nghiên cứu về trọng tài thƣơng mại nhƣ: "Pháp luật về giải quyết tranh chấp đầu
tư trực tiếp nước ngoài bằng trọng tài" (Luận văn thạc sĩ của Đỗ Thanh Hà năm
2006); "Hoàn thiện pháp luật trọng tài thương mại của Việt Nam trong điều kiện
hội nhập quốc tế " (Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Đình Thơ năm 2007). Các bài
viết, công trình nghiên cứu nói trên đã đề cập vấn đề trọng tài ở nhiều khía cạnh và
mức độ khác nhau. Có công trình mang tính tổng hợp về phƣơng thức trọng tài, có
công trình chỉ đề cập một phần của phƣơng thức này. Tuy nhiên chƣa có công trình
nghiên cứu mang tính hệ thống về những nguyên tắc của trọng tài thƣơng mại Việt
Nam
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích
Luận văn tập trung làm sáng tỏ bản chất, cơ sở lý luận của các nguyên tắc
cơ bản trong hoạt động trọng tài; đánh giá thực trạng áp dụng các nguyên tắc, từ đó
- Làm rõ nội dung, cơ sở khoa học của các nguyên tắc trong tổ chức và hoạt
động của phƣơng thức trọng tài; vai trò của các nguyên tắc này đối với sự tồn tại
và phát triển của trọng tài.
- Chỉ ra vƣớng mắc, bất cập trong thực tiễn vận dụng các quy định pháp
luật về những nguyên tắc trong tổ chức và hoạt động trọng tài.
- Đề xuất các kiến nghị nhằm quán triệt và áp dụng hiệu quả những nguyên
tắc cơ bản trong hoạt động trọng tài.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội
dung của luận văn gồm ba chƣơng:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về nguyên tắc của trọng tài thƣơng mại.
Chương 2: Nguyên tắc của trọng tài thƣơng mại theo pháp luật Việt Nam.
Chương 3: Nhận thức về nguyên tắc trọng tài thƣơng mại ở Việt Nam và
một số kiến nghị.
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC
CỦA TRỌNG TÀI THƢƠNG MẠI
1.1. TRỌNG TÀI - PHƢƠNG THỨC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƢƠNG MẠI
QUAN TRỌNG TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG
1.1.1. Khái niệm, bản chất, ƣu thế của trọng tài trong giải quyết tranh
chấp thƣơng mại
1.1.1.1. Khái niệm trọng tài thƣơng mại
Thƣơng mại phát triển kéo theo hệ quả các tranh chấp thƣơng mại cũng
Trọng tài chủ yếu đƣợc sử dụng trong lĩnh vực tƣ cụ thể là lĩnh vực thƣơng
mại. Với những đặc điểm đó trọng tài rất phù hợp để giải quyết các tranh chấp
thƣơng mại. Pháp lệnh Trọng tài thƣơng mại năm 2003 đƣa ra khái niệm "hoạt
động thƣơng mại" gồm hầu nhƣ toàn bộ các hoạt động của thƣơng nhân nhằm mục
đích lợi nhuận. Khái niệm này bao quát đƣợc nội dung tƣơng tự khái niệm thƣơng
mại trong Luật mẫu của UNCITRAL về thƣơng mại và tạo điều kiện cho trọng tài
mở rộng thẩm quyền trong giải quyết tranh chấp thƣơng mại
Nhƣ vậy, có thể khẳng định:
Trọng tài thương mại là một phương thức giải quyết tranh chấp, mà ở đó
các bên thỏa thuận đưa tranh chấp ra trước một bên thứ ba độc lập xem xét và
quyết định vụ việc. Phán quyết của trọng tài có tính chung thẩm, bắt buộc thi hành
và được cưỡng chế bởi cơ chế thi hành án của Nhà nước.
1.1.1.2. Bản chất của trọng tài thƣơng mại
Trọng tài thƣơng mại là sản phẩm tất yếu của kinh tế thị trƣờng và sự phát
triển của phƣơng thức giải quyết tranh chấp này chịu sự tác động lớn từ trình độ
phát triển của nền kinh tế. Khác với toà án, trọng tài thƣơng mại là tổ chức phi
chính phủ, có tƣ cách pháp nhân. Quyền lực của trọng tài thƣơng mại đƣợc tạo
dựng bởi ý chí của các bên tranh chấp - đây là quyền lực mang tính đại diện do các
bên thỏa thuận trao cho. Phán quyết của trọng tài không mang tính quyền lực của
Nhà nƣớc mà mang tính quyền lực hợp đồng. Bản chất của trọng tài đã thể hiện sự
độc lập của nó trong hệ thống các phƣơng thức giải quyết tranh chấp thƣơng mại.
Vậy bản chất của trọng tài đƣợc thể hiện qua những yếu tố chủ yếu nào?
Trước hết, trọng tài có đặc trƣng là bắt nguồn từ sự thỏa thuận. Căn cứ
quyền năng của trọng tài đƣợc bắt nguồn từ sự đồng nhất ý chí của hai bên thông
qua một thỏa thuận đƣợc qui định ở đa số pháp luật trọng tài quốc gia, tổ chức
trọng tài quốc tế phải bằng hình thức văn bản để xác nhận chắc chắn ý muốn của cả
hai bên trao cho trọng tài quyền phán quyết đối với vụ việc. Thỏa thuận trọng tài là
cơ sở cho mọi hoạt động tố tụng trọng tài, thông qua nó các bên đặt niềm tin vào sự
theo qui định của pháp luật vì các bên tranh chấp là những nhà kinh doanh dễ dàng
chấp nhận nó hơn.
Nhƣ vậy, bản chất của trọng tài thƣơng mại có sự kết hợp giữa hai yếu tố
thỏa thuận và tài phán. Thỏa thuận làm tiền đề cho phán quyết và phán quyết phải
đƣợc đƣa ra trên cơ sở những vấn đề đã đƣợc thỏa thuận. Thẩm quyền của trọng tài
không bị giới hạn bởi yếu tố địa lý, hệ thống pháp luật hay chế độ chính trị. Tuy
vậy, Nhà nƣớc vẫn giành cho mình quyền năng xét xử trong những lĩnh vực nhất
định nhằm bảo vệ không chỉ quyền lợi của các bên trong tranh chấp mà còn bảo vệ
trật tự công cộng, quyền lợi của những ngƣời liên quan, đa số các quốc gia trên thế
giới chỉ qui định thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài trong lĩnh vực luật
tƣ.
Bản chất của trọng tài thƣơng mại theo pháp luật Việt Nam thể hiện đầy đủ
những thuộc tính nêu trên và phù hợp với thông lệ quốc tế.
Khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh Trọng tài thƣơng mại năm 2003 khẳng định:
''Tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài nếu trước hoặc sau khi xảy ra tranh
chấp các bên có thỏa thuận trọng tài"
Điều 6 Pháp lệnh Trọng tài thƣơng mại năm 2003 khẳng định: "Quyết định
trọng tài là chung thẩm, các bên phải thi hành trừ trường hợp tòa án hủy quyết
định trọng tài theo qui định của Pháp lệnh này".
Việc công nhận trọng tài thƣơng mại là tổ chức phi chính phủ là bƣớc tiến
trong lịch sử phát triển của trọng tài Việt Nam. Đồng thời tạo ra cơ hội cho trọng
tài thƣơng mại đƣợc phát triển mạnh mẽ và có khả năng hội nhập với xu hƣớng
chung của trọng tài trên thế giới.
1.1.1.3. Ƣu thế của trọng tài trong giải quyết tranh chấp thƣơng mại
Xuất phát từ bản chất, trọng tài thƣơng mại có những ƣu thế nổi bật so với
các phƣơng thức giải quyết tranh chấp thƣơng lƣợng, hòa giải, tòa án nhƣ sau:
Thứ nhất, trọng tài có tính chất linh hoạt với quyền tự do định đoạt của các
bên cao hơn hẳn so với hình thức giải quyết tranh chấp bằng tòa án. Nếu nhƣ tòa
quyết của trọng tài là rất hạn chế, pháp luật qui định chặt chẽ giới hạn trong những
vi phạm nhất định về tố tụng trọng tài, thỏa thuận trọng tài. Các hình thức hòa giải,
thƣơng lƣợng không có đƣợc ƣu thế này vì không đƣợc đƣa ra quyết định cuối
cùng nên vụ tranh chấp có nguy cơ không đƣợc giải quyết triệt để, tòa án xét xử
theo nguyên tắc hai cấp và có những thủ tục đặc biệt nhƣ giám đốc thẩm, tái thẩm
dẫn đến quá trình giải quyết tốn thời gian và công sức của các bên.
Thứ ba, đảm bảo bí mật kinh doanh, uy tín nghề nghiệp, tạo khả năng tiếp
tục duy trì mối quan hệ sau khi giải quyết tranh chấp.
Tố tụng trọng tài áp dụng nguyên tắc xét xử không công khai, phiên họp
trọng tài chỉ có các bên tranh chấp tham dự nếu các bên đồng ý thì trọng tài viên có
thể cho phép ngƣời khác tham dự. Trọng tài viên phải có nghĩa vụ giữ bí mật liên
quan tới vụ tranh chấp - đây là tiêu chuẩn đạo đức quan trọng của trọng tài viên
trong giải quyết tranh chấp thƣơng mại. Phán quyết của trọng tài chỉ đƣợc công bố
rộng rãi nếu đƣợc các bên cho phép. Ƣu điểm này là lợi thế của trọng tài, đặc biệt
trong quá trình giải quyết các vụ tranh chấp liên quan tới bí mật kinh doanh. Các
bên trong tranh chấp sẽ tránh đƣợc dƣ luận không tốt phát sinh khi theo đuổi vụ
kiện. Các bên giữ đƣợc nội dung vụ tranh chấp, kết quả giải quyết tranh chấp nên
có thể bảo vệ đƣợc uy tín nghề nghiệp trên thƣơng trƣờng.
Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài có chứa đựng yếu tố thỏa thuận, các
bên có cơ hội đồng thuận với nhau về nhiều vấn đề. Trọng tài là phƣơng thức giải
quyết tranh chấp có sự xuất hiện của ngƣời thứ ba trung lập. Ngƣời thứ ba này sẽ
mở ra cơ hội giải quyết mâu thuẫn giữa các bên, tạo không khí thân thiện khiến các
bên cởi mở hơn trong quá trình giải quyết bất đồng. Phán quyết của trọng tài ít
nhiều chứa đựng tính thƣơng mại, mềm dẻo trung hòa đƣợc lợi ích nên các bên tự
nguyện thi hành nhiều hơn. Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài không bị chi phối
bởi tâm lí thắng thua căng thẳng nhƣ tại tòa án, các bên sẽ có sự nhƣợng bộ nhất
định trong việc bảo vệ quyền lợi của mình nhằm đạt đƣợc sự đồng thuận. Tất cả
những điều đó sẽ tạo ra cơ hội cho hai bên tiếp tục quan hệ bạn hàng sau khi giải
6. Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội (2003), Pháp lệnh trọng tài thương mại, Hà Nội.
CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO KHÁC
7. Nguyễn Hoàng An (2005), "Để tránh đi đến một thỏa thuận "bất đắc dĩ"", Dân
chủ và pháp luật, Số chuyên đề về trọng tài thƣơng mại quốc tế.
8. Bộ Tƣ pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Cơ quan
hợp tác quốc tế Nhật Bản (2004), Kỷ yếu các tọa đàm tổ chức tại Việt
Nam trong khuôn khổ dự án JICA 2000- 2003, Quyển 2.
9. Nguyễn Minh Chí, (2005), "Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam những chặng
đƣờng phát triển", Dân chủ và pháp luật, Số chuyên đề Trọng tài thƣơng
mại quốc tế năm 2005.
10. Nguyễn Minh Chí (2006), "Thực trạng và phƣơng hƣớng hoạt động của Trung
tâm trọng tài quốc tế Việt Nam", Hội thảo khoa học: Trọng tài, Bộ Tƣ
pháp tổ chức.
11. Công ước NEWYORK 1958 về công nhận và thi hành các quyết định của trọng
tài nước ngoài.
12. Nguyễn Minh Đoan (chủ biên) (2006), Các nguyên tắc pháp luật xã hội chủ
ngh Việt Nam thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế, Nxb Tƣ pháp, Hà Nội.
13. Dƣơng Văn Hậu, (1999), Trọng tài thương mại Việt Nam trong tiến trình đổi
mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
14. Đào Văn Hội (2004), Hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp kinh tế ở
nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
15. Hội luật gia Việt Nam (2002), Tờ trình Số 439/HLGVN ngày 1/2 về dự án Pháp
lệnh trọng tài, Hà Nội.
16. Nguyễn Hồng Khởi (2006), "Hai giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động
của Trung tâm trọng tài thƣơng mại Hà Nội khi Việt Nam là thành viên
của tổ chức thƣơng mại thế giới", Kỷ yếu hội nghị khoa học của Bộ Tƣ
pháp: Tọa đàm về thực trạng sử dụng trọng tài thương mại tại Việt Nam,
31. Trung tâm Thƣơng mại quốc tế và Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam
(2003), "Trọng tài và các phƣơng thức giải quyết tranh chấp lựa chọn",
Kỷ yếu hội nghị khoa học của Bộ Tƣ pháp: Tọa đàm về thực trạng sử
dụng trọng tài thương mại tại Việt Nam, Hà Nội.
TÀI LIỆU THAM KHẢO TIẾNG ANH
32. Black’slaw dictionary (1990.
33. OKEZEICHUKWUMERRIJE (1994), Choice of law in international
commercial arbitration, Queron books westport, connecticut law.
TRANG WEB
34. http://viac.org.vn
35. http://vnexpress.net
36. http://www.hca.org.vn