Pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính lý luận và thực tiễn - Pdf 39

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

BÙI TIẾN ĐẠT

PHÁP LUẬT VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH:
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Chuyên ngành
Mã số

:
:

Lý luận và lịch sử nhà nƣớc và pháp luật
60 38 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS.TS. Phạm Hồng Thái

HÀ NỘI - 2008


MỤC LỤC
Mở đầu
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT VỀ XỬ PHẠT
VI PHẠM HÀNH CHÍNH
1.1. Xử phạt vi phạm hành chính và pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của xử phạt vi phạm hành chính
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính
1.2. Nội dung của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính


Trang
1
5
5
5
8
11
11
20
21
24
25
26
27
29
29
30
31
37
37
37
40
71
71
76
79
79
80
81

các hình thức đó
3.3.7. Bổ sung các biện pháp khắc phục hậu quả và phân loại theo từng lĩnh vực
3.3.8. Quy định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, thẩm quyền áp dụng các
biện pháp khắc phục hậu quả
3.3.9. Sửa đổi, bổ sung các biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và đảm bảo
xử phạt vi phạm hành chính theo hướng bảo vệ quyền con người
3.3.10. Quy định thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính phù hợp với từng lĩnh vực
3.3.11. Hợp lý hóa thủ tục xử phạt vi phạm hành chính và tăng tính hiệu lực, hiệu
quả thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

89
89
90

95
97
97
101
102
102
102
104
111
112
113
114
115
115

LXPVPHC
LXLVPHC

Luật Xử phạt vi phạm hành chính
Luật Xử lý vi phạm hành chính

VBQPPL
HĐND

Văn bản quy phạm pháp luật
Hội đồng nhân dân

UBND
TAND

Ủy ban nhân dân
Tòa án nhân dân

LỜI NÓI ĐẦU
1. Sự cần thiết của việc nghiên cứu đề tài
Đấu tranh phòng chống các vi phạm pháp luật nói chung và vi phạm pháp luật
hành chính nói riêng luôn là nhiệm vụ trọng yếu của nhà nước ta. Trong bối cảnh hiện
nay, hệ thống pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính chưa đáp ứng yêu cầu của thực
tiễn. Tính hiểu quả của các biện pháp xử phạt chưa cao; thủ tục xử phạt còn rườm rà;
tình trạng mâu thuẫn, chồng chéo giữa các văn bản… là những điều bức xúc của người
dân cũng như bộ máy hành chính.
Do đó, Nghị quyết của Quốc hội số 11/2007/NQ-QH12 ngày 21 tháng 11 năm
2007 về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khoá XII
(2007-2011) và năm 2008 đã đưa dự án Luật Xử lý vi phạm hành chính vào chương
trình chính thức. Với dự án luật này, nhà nước ta mong muốn tạo một đột phá trong

dựng Bộ luật Xử lý vi phạm hành chính”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp (5).
- Nguyễn Ngọc Bích (2007), “Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và những
bất cập trong quy định pháp luật hiện hành”, Tạp chí luật học (8).
- Trương Khánh Hoàn (2008), “Bất cập của các quy định về biện pháp khắc phục
hậu quả trong xử lý vi phạm hành chính”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp (31,32).
c. Các công trình khoa học nghiên cứu về việc xử phạt vi phạm hành chính
trong một lĩnh vực quản lý nhà nước cụ thể
- Đàm Đức Tuyền (2006), Vi phạm hành chính và áp dụng trách nhiệm hành
chính trong lĩnh vực hải quan tại thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sĩ luật học,
Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh.
- Kim Long Biên (2007). Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực hải quan ở nước ta hiện nay, Luận văn thạc sĩ luật học, Viện Nhà nước
và pháp luật phối hợp đào tạo với Đại học Luật TPHCM.
- Bùi Huy Tùng (2007), Hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong
lĩnh vực giáo dục, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật - ĐHQGHN.
d. Các công trình khoa học nghiên cứu tổng thể về pháp luật về xử lý vi phạm
hành chính (bao gồm cả pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính)


- Đỗ Hoàng Yến (2007), “Pháp luật về xử lý vi phạm hành chính ở một số nước
trên thế giới”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp (10).
- Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp (2005), Bình luận khoa học Pháp lệnh Xử
lý vi phạm hành chính năm 2002, NXB Tư pháp, Hà Nội.
- Bộ Tư pháp (2007), Báo cáo đánh giá hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về
xử lý vi phạm hành chính.
- Bộ Tư pháp, Cơ quan phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) - Dự án VIE/02/015
(2008), Kỷ yếu Hội thảo Định hướng xây dựng Luật Xử lý vi phạm hành chính, Quảng
Ninh, 08-09/5/2008.
e. Các Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam của Khoa Luật – ĐHQGHN,
Trường Đại học Luật Hà Nội đề cập về trách nhiệm hành chính.

Xem xét pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính theo từng thời kỳ. Mỗi giai
đoạn sẽ có pháp luật phù hợp. Từ đó tìm ra quy luật của sự phát triển pháp luật về xử
phạt vi phạm hành chính.
4. Phương pháp thống kê xã hội học
Từ những kết quả thống kê, điều tra, khảo sát về thực trạng vi phạm hành chính
và xử phạt vi phạm hành chính để đề ra những giải pháp hợp lý.
5. Các phương pháp của xã hội học pháp luật
Phân tích cơ sở xã hội của việc xử phạt vi phạm hành chính.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Luận văn là công trình khoa học nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên về pháp luật
xử phạt vi phạm hành chính. Do đó, luận văn sẽ là tài liệu tham khảo cho các nhà
nghiên cứu, giảng viên, học viên, sinh viên.
- Luận văn đưa ra những kiến nghị để hoàn thiện hệ thống pháp luật về xử phạt vi
phạm hành chính. Do đó, luận văn sẽ là tài liệu tham khảo cho các nhà lập pháp.
- Những điểm mới nhất của luận văn là: đưa ra triết lý về về vi phạm hành chính
và pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính; đưa ra cấu trúc mới của hệ thống pháp
luật về xử phạt vi phạm hành chính; đưa ra các giải pháp dựa trên yêu cầu hoàn thiện
pháp luật hiện nay cũng như kinh nghiệm trên thế giới.
7. Cơ cấu của luận văn
Luận văn gồm 3 chương:
Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận về pháp luật về xử phạt vi phạm hành
chính
Chƣơng 2: Thực trạng pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính
Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi
phạm hành chính


CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ
PHÁP LUẬT VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH

Theo báo cáo của Công an các tỉnh, thành phố trên cả nước trong năm 1990 đã phát hiện 523.030 vụ vi phạm
hành chính. Vậy mà, đến 2003, chỉ tính riêng trong lĩnh vực giao thông đường bộ, theo số liệu công bố của Bộ
Công an thì trong 10 tháng đầu năm 2003 có 3.000.000 trường hợp vi phạm pháp luật về giao thông với số tiền
nộp phạt là 347 tỷ đồng, đã quyết định tạm giữ trên 20.000 ôtô, 43,4, vạn môtô, xe máy mắc lỗi nặng, lập biên
bản gần 1000 trường hợp hối lộ sau khi vi phạm (Nguồn: Báo An ninh thủ đô số 1097 ra ngày 03/11/2003 – [44,
tr. 8]


luận về trách nhiệm hành chính thì có hai nhóm biện pháp trách nhiệm hành chính là
các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp khôi phục các quyền và lợi
ích đã bị vi phạm hành chính xâm hại [81, tr. 402].
Tiếp nhận lý luận trên, trong thực tiễn, nhà nước ta thực hiện các hoạt động “xử
phạt vi phạm hành chính” “để đấu tranh phòng ngừa và chống vi phạm hành chính,
góp phần giữ vững an ninh, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước,
quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa,
nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước” (Phần mở đầu của Pháp lệnh Xử lý vi phạm
hành chính 2002). Và khoản 2 Điều 1 PLXLVPHC quy định “xử phạt vi phạm hành
chính được áp dụng đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là cá nhân,
tổ chức) có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà
nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành
chính”. Và Pháp lệnh cũng quy định 3 nhóm biện pháp có thể được áp dụng đối với vi
phạm hành chính: 1. Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính; 2. Các biện pháp khắc
phục hậu quả; 3. Các biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và đảm bảo việc xử
phạt vi phạm hành chính. Áp dụng các hình thức xử phạt vi phạm hành chính và áp
dụng các biện pháp khắc phục hậu quả chính là hai nhóm biện pháp trách nhiệm hành
chính theo lý luận nêu trên. Còn các biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và đảm
bảo việc xử phạt vi phạm hành chính là các biện pháp ngăn chặn hành chính, được áp
dụng trong các trường hợp cần thiết phải ngăn chặn, dập tắt những vi phạm hành
chính, đảm bảo việc xử phạt hay ngăn chặn những hậu quả thiệt hại do vi phạm hành
chính gây ra [81, tr. 378]. Vậy, có thể kết luận xử phạt vi phạm hành chính là việc

các điều 23, 24, 25, 26 của Pháp lệnh này” đã chứng tỏ vấn đề “các biện pháp xử lý
hành chính khác” được lồng ghép vào Pháp lệnh là một sự khiên cưỡng. Bởi vì các
biện pháp hành chính khác (hay còn gọi là các biện pháp cưỡng chế hành chính đặc
biệt) về cơ bản không phải là biện pháp xử lý vi phạm hành chính mà có bản chất rất
khác nhau, đa phần trong số đó là các biện pháp tư pháp hình sự. Trong Bộ luật Tố
tụng Hình sự đã có một số biện pháp tương tự bởi đối tượng áp dụng các biện pháp
này không chủ yếu là đối tượng VPHC [81, tr. 383]. Và chính vì “các biện pháp xử lý
hành chính khác” là một sự lồng ghép không đúng chỗ nên khái niệm “xử lý vi phạm
hành chính” cũng là một phép cộng khiên cưỡng khi Pháp lệnh quy định một cách máy
móc “Xử lý vi phạm hành chính bao gồm xử phạt vi phạm hành chính và các biện
pháp xử lý hành chính khác”. Do đó, có thể khẳng định khái niệm xử lý vi phạm hành
chính theo tinh thần Pháp lệnh không có tính khoa học.
1.1.1.2. Đặc điểm của xử phạt vi phạm hành chính
1. Cơ sở để xử phạt vi phạm hành chính là vi phạm hành chính
Không có VPHC thì không có trách nhiệm hành chính, cũng như cơ sở của trách
nhiệm hình sự là tội phạm, của trách nhiệm dân sự là vi phạm quan hệ dân sự, của
trách nhiệm kỷ luật là vi phạm kỷ luật.
2. Hoạt động xử phạt vi phạm hành chính chủ yếu do các cơ quan quản lý nhà
nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật và do đó được áp dụng theo thủ tục
hành chính do các quy phạm thủ tục hành chính quy định.
Vì VPHC là những vi phạm nhỏ và phổ biến nên việc XPVPHC không theo thủ
tục tư pháp như đối với truy cứu trách nhiệm hình sự và trách nhiệm dân sự, mà theo
thủ tục hành chính và chủ yếu do các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền thực
hiện.


Không phải bất kỳ cơ quan quản lý nhà nước nào cũng có thẩm quyền XPVPHC
mà chỉ có một số cơ quan nhất định trong số đó được nhà nước trao quyền hạn này.
Hoạt động xử phạt vi phạm hành chính, cũng như việc áp dụng các biện pháp cưỡng
chế hành chính nói chung, nằm ngoài hoạt động xét xử của Tòa án. Còn các biện pháp

kháng chiến, kiến quốc đó đã bắt đầu thực hiện những biện pháp bảo đảm an ninh
trật tự. Trong lĩnh vực hành chính Nhà nước cũng bắt đầu thi hành các biện pháp
“có tính cách hành chính” thể hiện bằng việc ban hành văn bản quy định các hình


thức xử phạt đối với các hành vi vi phạm các chính sách của Nhà nước lúc bấy giờ.
Các văn bản của Nhà nước giai đoạn này quy định về vi phạm hành chính và chế
tài hành chính thường có trong nhiều văn bản và trực diện đưa ra các vi phạm và
biện pháp chế tài cụ thể đi liền.
Giai đoạn tiếp theo từ năm 1954 đến năm 1989, xét về mặt kỹ thuật lập quy cũng
như hoạt động xử phạt hành chính so với giai đoạn trước đó, cũng chưa có nhiều
biến chuyển. Việc quy định hành vi vi phạm hành chính và các chế tài đối với
chúng (ngoài những quy định cũ vẫn hiện hành) vẫn do nhiều cơ quan (từ Chính
phủ đến Bộ, Uỷ ban nhân dân) quy định trong các văn bản khác nhau và vẫn theo
cách xử lý tình hưống chứ chưa thành hệ thống, chưa có tính tổng thể, toàn diện.
Điểm đặc trưng là giai đoạn này nổi lên khía cạnh quản lý nhằm xác lập và bảo vệ
các quan hệ xã hội chủ nghĩa. Chính điều này có ảnh hưởng rõ rệt đến việc quy
định các hành vi vi phạm và hệ thống chế tài đối với chúng. Thời kỳ này đã có một
văn bản quy định riêng về XPVPHC là Điều lệ xử phạt vi cảnh ban hành kèm theo
Nghị định số 143/CP ngày 27-5-1977 của Hội đồng Chính phủ.
Năm 1989 được lấy làm mốc cho giai đoạn mới của sự phát triển của pháp luật xử
phạt hành chính. Đấy là năm nước ta ban hành một văn bản chung thống nhất có
tính pháp điển hoá cao cho lĩnh vực xử phạt hành chính – Pháp lệnh xử phạt vi
phạm hành chính - và vì cũng từ đây pháp luật xử phạt vi phạm hành chính nói
riêng và pháp luật nói chung song hành với công cuộc đổi mới, vừa phục vụ sự
nghiệp đổi mới, vừa tự đổi mới trong đó phản ánh tư duy mới về dân chủ hoá xã
hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bước phát triển
(hay có thể coi là hoàn thiện) tiếp theo về quy định hành vi vi phạm hành chính và
chế tài hành chính gắn với việc ban hành Pháp lệnh mới về xử lý vi phạm hành
chính được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 6-7-1995 – Pháp lệnh xử

hình sự
Điểm khác biệt chủ yếu giữa tội phạm và VPHC là mức độ nguy hiểm cho xã hội
của tội phạm cao hơn VPHC. Do đó, việc phân biệt này nhiều khi phụ thuộc quan
niệm mang tính chủ quan của nhà làm luật trong từng thời kỳ. Có nhiều hành vi được
coi là tội phạm khi đã bị xử phạt VPHC vì hành vi đó. Vì vậy, trong thực tiễn áp dụng
pháp luật, nhiều hành vi bị “nhập nhằng” giữa truy cứu trách nhiệm hình sự và truy
cứu trách nhiệm hành chính.
Lịch sử lập pháp ở nước ta, pháp luật về XPVHHC luôn đi sau pháp luật hình sự
và kế thừa những quan điểm lập pháp của luật hình sự. Nhiều khái niệm, chế định của
luật hình sự được tiếp nhận trong pháp luật về XPVPHC như tình tiết tăng nặng, giảm
nhẹ, phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết, sự kiện bất ngờ, hình thức xử phạt chính
và bổ sung, các biện pháp ngăn chặn…
2. Hệ thống pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính gồm nhiều văn bản quy
phạm pháp luật hợp thành
Không như hệ thống pháp luật hình sự quy định tội phạm và hình phạt trong duy
nhất Bộ luật hình sự, hệ thống pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính được hợp
thành bởi nhiều VBQPPL khác nhau. Pháp lệnh XLVPHC 2002 chỉ quy định những
vấn đề cơ bản mang tính nguyên tắc về XPVPHC. Nhiều vấn đề của Pháp lệnh được
các nghị định của Chính phủ và các thông tư, quyết định, chỉ thị của Bộ quy định chi
tiết. Đặc biệt, toàn bộ các vi phạm hành chính và các biện pháp xử phạt, biện pháp


khắc phục hậu quả cụ thể trong từng lĩnh vực được quy định rải rác ở rất nhiều nghị
định về XPVPHC trong các lĩnh vực quản lý nhà nước.
3. Vi phạm hành chính và các biện pháp chế tài đối với vi phạm hành chính trong
từng lĩnh vực thường được quy định ở nhiều văn bản dưới luật
Pháp lệnh XLVPHC đã ủy quyền cho Chính phủ quy định các vi phạm hành
chính và các biện pháp xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả cụ thể trong từng lĩnh
vực quản lý nhà nước.
4. Hệ thống pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính không có tính ổn định cao


5. Công văn số 2770/BC-BTP ngày 16/9/2005 của Bộ Tư pháp báo cáo Thủ tướng

6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.

Chỉnh phủ về kết quả kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương quy định về xử lý vi phạm hành chính.
Hiến pháp Việt Nam 1992 (sửa đổi bổ sung năm 2001).
Luật Cạnh tranh 2004.
Luật Đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 2006.
Luật Quản lý thuế 2006.
Luật Sở hữu trí tuệ 2005.
Nghị định số 143/CP ngày 27/05/1977 về việc ban hành “Điều lệ xử phạt vi cảnh”.
Nghị định số 74/2003/NĐ-CP ngày 19/11/2003 quy định xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực điện lực.

13. Nghị định số 134/2003/NĐ-CP ngày 14/11/2003 quy định chi tiết thi hành một số
điều của pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002.
14. Nghị định số 49/2004/NĐ-CP ngày 11/4/2004 quy định xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực giáo dục.
15. Nghị định số 100/2004/NĐ-CP ngày 25/02/2004 quy định về xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực thuế.
16. Nghị định số 126/2004/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động
xây dựng, quản lý công trình hạ tầng đô thị và quản lý sử dụng nhà.

35.
36.
37.
38.

39.
40.
41.

lĩnh vực an ninh và trật tự, an toàn xã hội.
Nghị định số 152/2005/NĐ-CP ngày 15/12/2005 quy định về xử lý vi phạm hành
chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ.
Nghị định 20/2006/NĐ-CP ngày 20/02/2006 quy định chi tiết thi hành Luật thương
mại về kinh doanh dịch vụ giám định thương mại.
Nghị định 35/2006/NĐ-CP ngày 31/3/2006 quy định chi tiết thi hành Luật thương mại
về hoạt động nhượng quyền thương mại.
Nghị định số 56/2006/NĐ-CP ngày 06/6/2006 về xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực văn hóa thông tin.
Nghị định số 70/2006/NĐ-CP ngày 24/7/2006 quy định việc quản lý tang vật, phương
tiện bị tạm giữ theo thủ tục hành chính.
Nghị định số 97/2006/NĐ-CP ngày 15/9/2006 quy định việc áp dụng hình thức xử
phạt trục xuất theo thủ tục hành chính.
Nghị định số 106/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 quy định xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp.
Nghị định số 129/2006/NĐ-CP ngày 31/10/2006 quy định xử phạt vi phạm hành
chính trong quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia.
Nghị định số 97/2007/NĐ-CP ngày 07/06/2007 quy định việc xử lý vi phạm hành
chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan.
Nghị định số 146/2007/NĐ-CP ngày 14/09/2007 quy định xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ.

51. Nguyễn Đăng Dung (2008), “Bản tính tuỳ tiện của Nhà nước”, Tạp chí Nhà nước và
pháp luật (11), tr. 3-9,46.
52. Nguyễn Sĩ Dũng (2007), Thế sự - Một góc nhìn, NXB Tri thức, Hà Nội.
53. Nguyễn Ngọc Điện (2006), “Giải pháp cho bài toán “chất lượng nhân văn của luật””,
Tạp chí Nghiên cứu lập pháp (10), tr. 17-23.
54. Nguyễn Ngọc Điện (2008), “Tôn trọng pháp luật, lách luật và ứng xử của nhà nước”,
Tạp chí Nghiên cứu lập pháp (1), tr. 25-26,36.
55. Bùi Xuân Đức (2006), “Về vi phạm hành chính và hình thức xử phạt hành chính:
những hạn chế và giải pháp đổi mới”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật (2), tr. 18-25.
56. Gorshumov D.N. (2006), “Những yếu tố tâm lý – xã hội trong thực thi pháp luật”, Tạp
chí Nghiên cứu lập pháp (7), tr. 14-17.
57. Trần Thu Hạnh (1998), Vi phạm hành chính và tội phạm – Những vấn đề lý luận và
thực tiễn, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường ĐHKHXH&NV - ĐHQGHN.
58. Trương Khánh Hoàn (2008), “Bất cập của các quy định về biện pháp khắc phục hậu
quả trong xử lý vi phạm hành chính”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp (31,32), tr. 81-83.
59. Trần Minh Hương (2005), “Thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật và xử
lý vi phạm hành chính”, Tạp chí luật học (5), tr. 17-24.
60. Nguyễn Hữu Khiển (2006), “Trách nhiệm công dân trong nhà nước pháp quyền”, Tạp
chí Quản lý nhà nước, tr. 5-8.
61. Khoa Luật – ĐHQGHN (2005), Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật,
NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
62. Khoa Luật – ĐHQGHN (2005), Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, NXB Đại học
Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
63. Tường Duy Kiên (2005), “Tăng cường hoạt động lập pháp bảo đảm quyền con người
đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam’, Tạp chí Nhà nước và
pháp luật (5), tr. 34-41.
64. Vũ Văn Nhiêm (2007), “Bàn về hình thức văn bản và thẩm quyền quy định về quyền
và nghĩa vụ của công dân”, Tạp chí Khoa học pháp lý (5), tr. 3-10.



phạm hành chính năm 2002, NXB Tư pháp, Hà Nội.
80. Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp (2008), Báo cáo phúc trình Đề tài nghiên cứu
khoa học cấp Bộ “Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng môn hình Bộ luật Xử lý vi phạm
hành chính ở Việt Nam”.
81. Nguyễn Cửu Việt (2008), Giáo trình Luật hành chính Việt Nam, NXB Chính trị Quốc
gia, Hà Nội.
82. Đỗ Hoàng Yến (2002), “Tăng cường và đổi mới cơ chế kiểm tra, giám sát trong xử lý
vi phạm hành chính”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp (8), tr. 35-38.
83. Đỗ Hoàng Yến (2007), “Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và việc xây dựng
Bộ luật Xử lý vi phạm hành chính”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp (5), tr. 36-41.


84. Đỗ Hoàng Yến (2007), “Pháp luật về xử lý vi phạm hành chính ở một số nước trên thế
giới”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp (10), tr. 52-55.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status