Kiem toan du an dau tu xay dung cong trinh - Pdf 39

ĐATN: Kiểm toán dự án đầu tư xây dựng công trình

GVHD: Phan Thị Hiền

PHẦN I
TỔNG QUAN CHUNG VỀ KIỂM TOÁN

Vũ Việt Đức – Quản lý xây dựng công trình giao thông K50

1


ĐATN: Kiểm toán dự án đầu tư xây dựng công trình

GVHD: Phan Thị Hiền

CHƯƠNG 1
LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN KIỂM TOÁN

1.1.

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN KIỂM TOÁN THẾ GIỚI

Kiểm toán ra đời vào khoảng thế kỷ thứ ba trước Công nguyên, gắn liền với nền văn minh
Ai Cập và La Mã cổ đại. Ở thời kỳ đầu, kiểm toán chỉ mới ở mức độ sơ khai, biểu hiện là
những người làm công tác kiểm toán đọc to những số liệu, tài liệu cho một bên độc lập nghe
và sau đó chứng thực. Khi xã hội phát triển xuất hiện của cải dư thừa, hoạt động kế toán ngày
càng được mở rộng và ngày một phức tạp thì việc kiểm tra, kiểm soát về kế toán và tài chính
càng được quan tâm hơn.
Đến thời kỳ cách mạng công nghiệp bùng nổ ở châu Âu, xuất hiện nhiều thành phần kinh tế
kéo theo sự ra đời nhiều loại hình doanh nghiệp khác nhau. Cùng với sự phát triển của thị

được xác lập và thông qua bởi Đạo luật về các công ty thương mại ngày 24/07/1966. Đồng
thời, kiểm toán nội bộ ở Pháp cũng đã được hình thành chính thức vào những năm 60 thế kỷ
XX ở những công ty con thuộc tập đoàn ngoại quốc. Đến 1965 Hội kiểm toán viên nội bộ của
Pháp được thành lập và sau này phát triển trở thành Viện kiểm toán viên nội bộ của Pháp vào
năm 1973.
Ở giai đoạn đầu, khi mới hình thành, kiểm toán độc lập được biểu hiện thông qua việc cung
cấp dịch vụ kiểm toán của một hoặc một nhóm kiểm toán viên hoặc của một văn phòng kiểm
toán độc lập riêng biệt. Mô hình này đến nay vẫn đang được duy trì và vẫn phát huy hiệu quả
ở một số nước trên thế giới. Tuy nhiên, trong xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, mô
hình này bộc lộ nhiều hạn chế về khả năng cạnh tranh, nên nó đang dần dần chuyển sang sát
nhập để hình thành các tổ chức, tập đoàn lớn, có đủ tiềm lực về tài chính và sức mạnh để cạnh
tranh trong tương lai và sẵn sàng đáp ứng mọi nhu cầu của nền kinh tế thị trường. Điển hình là
các công ty kiểm toán tầm cỡ quốc tế như: KPMG Peat Marwick (Mỹ); Enst and Young (Mỹ);
PricewaterhouseCoopers (Anh) và Deloitte Touche Tohmatsu International (Mỹ). Mỗi công ty
thuộc nhóm Big4 này đều có trên 13.000 nhân viên và đặt văn phòng trên 110 quốc gia.
Ngày nay, Kiểm toán phát triển mạnh mẽ và có mặt ở tất cả các nước trên thế giới. Các
hiệp hội Kiểm toán được thành lập với nhiều hoạt động chuyên môn phong phú, giúp nền kinh
tế, tài chính thế giới vững vàng hơn.
1.2.

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN KIỂM TOÁN TẠI VIỆT NAM

Nếu như thuật ngữ kiểm toán và hoạt động nghề nghiệp kiểm toán đã được biết đến và phát
triển từ lâu trên thế giới. Thì tại Việt Nam, kiểm toán mới được chấp nhận từ khi chuyển đổi
cơ chế quản lý, từ nền kinh tế kế hoạch hoá sang nền kinh tế thị trường có định hướng của nhà
nước. Trong cơ chế quản lý kinh tế mới, Nhà nước lãnh đạo và quản lý nền kinh tế không phải
bằng biện pháp hành chính mà bằng pháp luật, bằng biện pháp kinh tế, bằng đòn bẩy và công
cụ kinh tế. Kinh tế thị trường cũng đòi hỏi các hoạt động kinh tế - tài chính phải diễn ra một
cách bình đẳng, công khai, minh bạch. Hoạt động kiểm toán hình thành và phát triển trở thành
một nhu cầu tất yếu đối với hoạt động kinh doanh và nâng cao chất lượng quản lý tài chính.

của kiểm toán độc lập ngày càng được khẳng định trong nền kinh tế thị trường Việt Nam. Sau
khi Chính phủ ban hành Nghị định 105/2004/NĐ-CP ngày 30/03/2004 về Kiểm toán độc lập
(được sửa đổi bổ sung bằng Nghị định 133/2005/NĐ-CP ngày 31/10/2005) đã tạo một “luồng
gió mới”, đẩy nhanh quá trình phát triển của ngành kiểm toán Việt Nam. Đặc biệt, ngày
29/03/2011 Luật kiểm toán độc lập đã được Quốc hội thông qua, đây là văn bản pháp luật cao
nhất về kiểm toán độc lập lần đầu tiên được công bố tại Việt Nam, đã nâng cao vị thế của
kiểm toán độc lập, đặt cơ sở pháp lý ổn định, bền vững cho sự phát triển nghề nghiệp kiểm
toán.
Theo số liệu thống kê của “Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam” (VACPA) đến năm
2012, cả nước đã trên 170 doanh nghiệp kiểm toán với trên 10.000 người làm việc tại 226 văn
phòng, chi nhánh. Trong 170 doanh nghiệp kiểm toán có 161 công ty TNHH, 5 doanh nghiệp
100% vốn nước ngoài, 4 công ty hợp danh, 34 công ty là thành viên Hãng kiểm toán quốc tế,
2.800 người được Bộ Tài chính cấp chứng chỉ Kiểm toán viên, trên 700 Kiểm toán viên
(KTV) đạt trình độ quốc tế.

Vũ Việt Đức – Quản lý xây dựng công trình giao thông K50

4


ĐATN: Kiểm toán dự án đầu tư xây dựng công trình

GVHD: Phan Thị Hiền

CHƯƠNG 2
LÝ LUẬN CHUNG VỂ KIỂM TOÁN
2.1. KHÁI NIỆM, BẢN CHẤT VÀ Ý NGHĨA, CHỨC NĂNG CỦA KIỂM TOÁN
2.1.1. Định nghĩa, bản chất kiểm toán
2.1.1.1. Định nghĩa Kiểm toán


• Độc lập về chuyên môn được thể hiện ở chỗ trong các hoạt động kiểm toán, kiểm toán
viên chỉ tuân theo chuẩn mực chuyên môn và luật pháp, không bị chi phối hoặc tác động

Vũ Việt Đức – Quản lý xây dựng công trình giao thông K50

5


ĐATN: Kiểm toán dự án đầu tư xây dựng công trình

GVHD: Phan Thị Hiền

bởi lợi ích vật chất hoặc tinh thần nào làm ảnh hưởng đến tính trung thực, khách quan và
độc lập nghề nghiệp của mình.
• Độc lập về quan hệ kinh tế thể hiện ở chỗ kiểm toán viên không được nhận làm kiểm
toán cho các đơn vị mình, có quan hệ kinh tế hoặc quyền lợi kinh tế. Như góp vốn cổ
phần, cho vay hoặc vay vốn từ khách hàng, hoặc là cổ đông chi phối của khách hàng,
hoặc có ký kết hợp đồng gia công, dịch vụ, đại lý tiêu thụ hàng hoá.
• Độc lập về quan hệ xã hội được thể hiện đó là kiểm toán viên không được nhận làm
kiểm toán ở những đơn vị mà bản thân có quan hệ họ hàng thân thuộc (như bố, mẹ, vợ,
chồng, con cái, anh chị em ruột), với những người trong bộ máy quản lý (Hội đồng quản
trị, Ban Giám đốc, các trưởng, phó phòng và những người tương đương).
- Thu thập và đánh giá các bằng chứng: Để có thể đánh giá và đưa ra ý kiến về các thông tin
cần thẩm định, kiểm toán viên cần phải thu thập đầy đủ các bằng chứng kiểm toán thích
hợp. Bằng chứng kiểm toán là tất cả các tài liệu, thông tin do kiểm toán viên thu thập được
có liên quan đến cuộc kiểm toán và dựa trên các thông tin này kiểm toán viên hình thành
nên ý kiến của mình. Thực chất quá trình kiểm toán là quá trình mà kiểm toán viên sử dụng
các phương pháp kỹ thuật kiểm toán để thu thập và đánh giá các bằng chứng kiểm toán.
- Các thông tin có thể định lượng được (đối tượng kiểm toán) Các thông tin có thể định
lượng được của 1 đơn vị bao gồm nhiều dạng khác nhau. Những thông tin này có thể là các

Bản chất của kiểm toán là quá trình các chuyên gia độc lập, có nghiệp vụ thu thập và đánh
giá các bằng chứng về các thông tin có thể định lượng được của một đơn vị cụ thể. Nhằm mục
đích xác nhận và báo cáo về mức độ phù hợp, giữa các thông tin này và các chuẩn mực đã
được thiết lập.
2.1.2. Ý nghĩa, chức năng của kiểm toán
2.1.2.1. Ý nghĩa, tác dụng của Kiểm toán

Kiểm toán sinh ra từ yêu cầu của quản lý và phục vụ cho yêu cầu của quản lý. Từ đó có thể
thấy rõ ý nghĩa, tác dụng của kiểm toán trên nhiều mặt:
Thứ nhất: Kiểm toán tạo niềm tin cho “những người quan tâm”. Trong cơ chế thị trường, có
nhiều người quan tâm tới tình hình tài chính và sự phản ánh của nó trong tài liệu kế toán, bao
gồm:
-

Các cơ quan nhà nước.
Các nhà đầu tư.
Các nhà quản trị doanh nghiệp và các nhà quản lý khác.
Người lao động.
Khách hàng, nhà cung cấp và những người quan tâm khác.

Có thể nói việc tạo ra niểm tin cho những người quan tâm là yếu tố quyết định sự ra đời và
phát triển của kiểm toán với tư cách là một hoạt động độc lập.
Thứ hai: Kiểm toán góp phần hướng dẫn nghiệp vụ củng cố nề nếp hoạt động tài chính, kế
toán nói riêng và hoạt động của quản lý nói chung. Hoạt động tài chính bao gồm nhiều mối
quan hệ về đầu tư, về kinh doanh, về phân phối, về thanh toán. Thông tin kế toán là sự phản
ánh của hoạt động tài chính. Ngoài việc chứa đựng phức tạp các mối quan hệ tài chính, thông
tin kế toán còn là sản phẩm của quá trình xử lý thông tin bằng phương pháp kỹ thuật đặc thù.
Do đó, nhu cầu hướng dẫn nghiệp vụ và củng cố nề nếp trong quản lý tài chính càng có đòi
hỏi thường xuyên và ngày càng ở mức độ cao hơn.
Thứ ba: Kiểm toán góp phần nâng cao hiệu quả và năng lực quản lý. Kiểm toán không chỉ

 Chức năng bày tỏ ý kiến

Bày tỏ ý kiến là đưa ra ý kiến nhận xét của kiểm toán viên về tính trung thực, mức độ hợp
lý của các thông tin tài chính kế toán. Chức năng bày tỏ ý kiến có thể được hiểu rộng với ý
nghĩa cả kết luận về chất lượng thông tin và cả pháp lý, tư vấn qua xác minh:
- Tư vấn cho quản lý nhà nước trong việc phát hiện bất cập của chế độ tài chính, kế toán, qua

đó kiến nghị với các cơ quan quản lý nhà nước xem xét, nghiên cứu hoàn thiện cho phù
hợp.
- Tư vấn cho việc quản lý của các đơn vị được kiểm toán. Thông qua việc chỉ ra những sai sót,
yếu kém của hệ thống kiểm soát nội bộ, công tác quản lý tài chính, kiểm toán viên gợi mở,
đề xuất các biện pháp khắc phục hoàn thiện đối với đơn vị. Trong nhiều trường hợp, thông
qua kiểm toán, các tổ chức đơn vị doanh nghiệp đã kịp thời chấn chỉnh hệ thống kiểm soát
nội bộ, chế độ quản lý tài chính ở đơn vị mình. Qua đó khai thác có hiệu quả hơn năng lực
tài chính phát triển đơn vị.
2.2. CÁC KHÁI NIỆM CHÍNH CỦA KIỂM TOÁN
2.2.1. Cơ sở dẫn liệu
Cơ sở dẫn liệu: Là những giải trình của nhà quản lý doanh nghiệp về những khoản mục trên
báo cáo tài chính hay báo cáo quyết toán vốn. Những cơ sở dẫn liệu xuất phát từ các nguyên
Vũ Việt Đức – Quản lý xây dựng công trình giao thông K50

8


ĐATN: Kiểm toán dự án đầu tư xây dựng công trình

GVHD: Phan Thị Hiền

tắc kế toán đối với ghi chép và báo cáo số liệu trên báo cáo tài chính. Có 3 yêu cầu với cơ sở
dẫn liệu:

- Phát sinh các nghiệp vụ bất thường.
2.2.3. Trọng yếu và rủi ro

Vũ Việt Đức – Quản lý xây dựng công trình giao thông K50

9


ĐATN: Kiểm toán dự án đầu tư xây dựng công trình

GVHD: Phan Thị Hiền

Theo chuẩn mực số 320 trong Hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam Ban hành theo
Quyết định số 28/2003/QĐ-BTC ngày 14 tháng 3 năm 2003 của Bộ trởng Bộ Tài chính:
2.2.3.1. Trọng yếu

Trọng yếu: Là khái niệm về tầm cỡ, bản chất của sai phạm kể cả bỏ sót các thông tin tài
chính, hoặc là riêng lẻ, hoặc là từng nhóm, khi mà trong một bối cảnh cụ thể nếu dựa vào các
thông tin này để xét đoán thì sẽ không chính xác hoặc sẽ đi đến những kết luận sai lầm.
Mức trọng yếu là một mức giá trị do KTV xác định tùy thuộc vào tầm quan trọng và tính
chất của thông tin hay sai sót được đánh giá trong từng hoàn cảnh cụ thể. Mức trọng yếu là
một ngưỡng, một điểm chia cắt chứ không phải là nội dung của thông tin cần phải có. Tính
trọng yếu của thông tin phải được xem xét cả trên phương diện định lượng và định tính.
KTV vận dụng tính trọng yếu như sau:
- Ước lượng sơ bộ về mức trọng yếu.
- Phân bổ tính trọng yếu cho từng bộ phận.
- Ước tính sai sót kết hợp trên BCTC.

Về bản chất, khái niệm trọng yếu gắn với tính hệ trọng của vấn đề xem xét. Một yếu tố định
tính quan trọng cần xem xét đó là bản chất của khoản mục hoặc vấn đề đánh giá. Có những sai


Phân loại rủi ro

Rủi ro tiềm tàng: Là khả năng trong BCTC có những sai sót nghiêm trọng hay những điều
không bình thường. Trước khi xem xét tính hiệu lực của hệ thống kiểm soát nội bộ, KTV phải
thu thập các thông tin sau để đánh giá rủi ro tiềm tàng của doanh nghiệp:
- Bản chất kinh doanh của đơn vị.
- Nhân tố ảnh hưởng đến ngành nghề của doanh nghiệp.
- Bản chất của bộ phận, khoản mục trên BCTC, báo cáo quyết toán vốn.

Rủi ro kiểm soát: Là các khả năng mà hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị không phát
hiện và ngăn chặn các gian lận và sai sót. KTV phải tìm hiểu đầy đủ về hệ thống kiểm soát nội
bộ của doanh nghiệp, để đánh giá mức độ rủi ro kiểm soát và có phương pháp kiểm toán phù
hợp.
Rủi ro phát hiện: Là khả năng mà các bước kiểm toán không phát hiện được các sai sót và
gian lận nghiêm trọng hiện có trong số dư tài khoản hoặc các loại nghiệp vụ.
Rủi ro kiểm toán: Nếu trong BCTC còn tồn tại những sai sót và gian lận nghiêm trọng mà
kiểm toán viên không phát hiện ra, do đó đưa ra nhận xét không thích hợp về BCTC, lúc đó sẽ
có rủi ro kiểm toán.
 Mối quan hệ các loại rủi ro trong kiểm toán

Rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát nằm ngày trong chức năng hoạt động kinh doanh, môi
trường quản lý, cũng như trong bản chất các số dư tài khoản hay nghiệp vụ.
Nếu KTV đánh giá tốt rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát thì hạn chế tối đa được rủi ro
phát hiện và từ đó giảm bớt rủi ro kiểm toán.
2.2.3.3. Mối quan hệ giữa trọng yếu và rủi ro

Trọng yếu & Rủi ro kiểm toán có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, đó là mối quan hệ t ỷ lệ
nghịch. Mức trọng yếu càng cao thì rủi ro kiểm toán càng thấp và ngược lại. Nếu mức trọng
yếu có thể chấp nhận tăng lên thì rủi ro kiểm toán sẽ giảm xuống, vì khi đó giá trị sai sót có

chứng kiểm toán thích hợp phải giúp KTV đạt được mục tiêu kiểm toán và đưa ra ý kiến kiểm
toán phù hợp. Như vậy, bằng chứng kiểm toán là thích hợp khi nó đáng tin cậy có liên quan
đến mục tiêu kiểm toán. Tính đáng tin cậy của bằng chứng kiểm toán chịu ảnh hưởng của
nhiều yếu tố như nguồn gốc, hình thức của bằng chứng kiểm toán và từng trường hợp cụ thể.
Tính đầy đủ: là yêu cầu về số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập phải đủ để đưa ra
kết luận kiểm toán. Tất nhiên, yêu cầu đầy đủ không đặt ra một số lượng cụ thể mà đòi hỏi sự
xét đoán nghề nghiệp của KTV, trong mối quan hệ với các nhân tố quyết định số lượng bằng
chứng kiểm toán. Khi thu thập số lượng bằng chứng, KTV cần lưu ý: Bộ phận nào trọng yếu
thì phải thu thập nhiều bằng chứng, bộ phận nào có nhiều rủi ro tiềm tàng và kiểm soát thì thu
thập bằng chứng nhiều hơn.
 Các phương pháp thu thập bằng chứng:
- Đối chiếu giữa sổ sách và thực tế
- Xem xét việc thực hiện HTKSNB
- Phỏng vấn

Vũ Việt Đức – Quản lý xây dựng công trình giao thông K50

12


ĐATN: Kiểm toán dự án đầu tư xây dựng công trình

GVHD: Phan Thị Hiền

- Thực hiện xác nhận, tính toán
- Phân tích mối quan hệ tài chính
- Ý kiến chuyên gia
2.2.5. Hoạt động liên tục

Theo chuẩn mực số 570 trong Hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam Ban hành theo



ĐATN: Kiểm toán dự án đầu tư xây dựng công trình

GVHD: Phan Thị Hiền

Báo cáo kiểm toán là văn bản do KTV lập và công bố thể hiện ý kiến chính thức của mình
về vấn đề kiểm toán, báo cáo kiểm toán là sản phẩm cuối cùng của công việc kiểm toán.
Các yếu tố cơ bản của báo cáo kiểm toán gồm: Đối tượng của kiểm toán; chuẩn mực để
đánh giá; chuẩn mực kiểm toán; các giới hạn về phạm vi và ý kiến của KTV.
 Có 4 loại báo cáo kiểm toán được kiểm toán viên phát hành:
- Báo cáo nêu ý kiến chấp nhận toàn phần.
- Báo cáo nêu ý kiến chấp nhận từng phần (bị giới hạn về phạm vi hay bất đồng ý kiến).
- Báo cáo nêu ý kiến không chấp nhận.
- Báo cáo nêu ý kiến từ chối nhận xét.
2.2.8. Hồ sơ kiểm toán

Theo chuẩn mực số 230 trong Hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam Ban hành theo
Quyết định số120/1999/QĐ-BTC ngày 27 tháng 9 năm 1999 của Bộ trưởng Bộ Tài chính:
Hồ sơ kiểm toán là các tài liệu do KTV lập, thu thập, phân loại, sử dụng và lưu trữ. Tài liệu
trong hồ sơ kiểm toán được thể hiện trên giấy, trên phim, ảnh, trên phương tiện tin học hay bất
kỳ phương tiện lưu trữ nào khác theo quy định của pháp luật.
 Hồ sơ kiểm toán dùng để:
- Lưu trữ những bằng chứng thu được trong quá trình thực hiện kiểm toán và làm cơ sở cho

việc đưa ra ý kiến của KTV.
- Trợ giúp cho việc kiểm tra, soát xét và đánh giá chất lượng công việc kiểm toán.
- Trợ giúp cho việc xử lý các phát sinh sau cuộc kiểm toán.
 Yêu cầu đối với hồ sơ kiểm toán:
- Phải có đề mục rõ ràng, ghi tên đơn vị được kiểm toán, đối tượng kiểm toán, kỳ kiểm toán.


Kiểm toán nhà nước

Kiểm toán quy tắc

Kiểm toán BCTC

Kiểm toán độc lập

Kiểm toán hiệu quả

Kiểm toán dự án

Phân loại khác

Kiểm toán hiệu năng

Hình 2: Phân loại kiểm toán
2.3.1. Theo mục đích (đối tượng) cuộc kiểm toán

2.3.1.1. Kiểm toán hoạt động
Là việc kiểm tra và đánh giá về sự hữu hiệu và tính hiệu quả đối với hoạt động của một bộ
phận, một dự án, phương án, một quy trình, từ đó có những đề xuất về biện pháp cải tiến.
Đối tượng của cuộc kiểm toán này rất đa dạng, nên nó không có chuẩn mực chung để đánh
giá. Các chuẩn mực đó có thể là mục đích yêu cầu khi đưa phương án, một dự án, một quy
trình đi vào hoạt động. Kết quả kiểm toán phục vụ cho bản thân đơn vị được kiểm toán.
2.3.1.2. Kiểm toán tuân thủ

Vũ Việt Đức – Quản lý xây dựng công trình giao thông K50


thông tin hoạt động và thông tin tài chính; Kiểm tra tính hiệu quả của một hoạt động; Kiểm tra
tính tuân thủ pháp luật và quy định nội bộ.
Phạm vi và mục đích của kiểm toán nội bộ rất linh hoạt tuỳ thuộc yêu cầu quản lý, điểu
hành của Ban lãnh đạo đơn vị. Báo cáo kiểm toán nội bộ chủ yếu phục vụ doanh nghiệp, ít có
giá trị pháp lý.
2.3.2.2. Kiểm toán Nhà nước

Vũ Việt Đức – Quản lý xây dựng công trình giao thông K50

16


ĐATN: Kiểm toán dự án đầu tư xây dựng công trình

GVHD: Phan Thị Hiền

Kiểm toán Nhà nước là hệ thống bộ máy chuyên môn của Nhà nước, thực hiện chức năng
kiểm toán đối với các đơn vị, tổ chức có sử dụng Ngân sách Nhà nước, tài sản công.Khách thể
kiểm toán là tất cả các hoạt động có liên quan đến việc quản lý và sử dụng ngân sách nhà
nước, lĩnh vực kiểm toán chủ yếu là kiểm toán tuân thủ và kiểm toán tài chính.
Cơ sở pháp lý của cuộc kiểm toán là hệ thống chuẩn mực kiểm toán Nhà nước và luật kiểm
toán Nhà nước. Các cuộc kiểm toán được thực hiện theo lệnh kiểm toán, căn cứ trên kế hoạch
và không thu phí nhằm phục vụ mục đích quản lý của Nhà nước, do vậy tính chất pháp lý của
cuộc kiểm toán là rất cao.
Kiểm toán Nhà nước chủ yếu thực hiện thực hiện chức năng kiểm toán tuân thủ, xác nhận
tính đúng đắn, hợp pháp của tài liệu và số liệu kiểm toán, báo cáo quyết toán của các cơ quan
nhà nước, các đơn vị sự nghiệp, đơn vị kinh tế nhà nước và các đoàn thể quần chúng, các tổ
chức xã hội sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước cấp.
Tại Việt Nam: Kiểm toán Nhà nước Việt Nam là một cơ quan nhà nước có chức năng kiểm
toán tài sản công, kiểm tra chi tiêu, đánh giá các báo cáo tài chính các cơ quan thuộc chính

thông qua việc ký kết hợp đồng kinh tế.
Hoạt động kiểm toán độc lập là nhu cầu cần thiết, trước hết vì lợi ích của bản thân doanh
nghiệp, của các nhà đầu tư trong và ngoài nước, lợi ích của chủ sở hữu vốn, các chủ nợ, lợi ích
và yêu cầu của Nhà nước. Người sử dụng kết quả kiểm toán phải được đảm bảo rằng những
thông tin họ được cung cấp là trung thực, khách quan, có độ tin cậy cao để làm căn cứ cho các
quyết định kinh tế hoặc thực thi trách nhiệm quản lý và giám sát của mình.
Điều 2 của Nghị định số 105/2004/NĐ-CP ngày 30/3/2004 của Chính phủ quy định “Kiểm
toán độc lập là việc kiểm tra và xác nhận của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán về
tính trung thực và hợp lý của các tài liệu, số liệu kế toán và báo cáo tài chính của các doanh
nghiệp, tổ chức (gọi chung là đơn vị được kiểm toán) khi có yêu cầu của các đơn vị này”.
2.3.3. Theo lĩnh vực kiểm toán
 Kiểm toán thông tin

Kiểm toán thông tin: hướng vào việc đánh giá tính trung thực và hợp pháp của các tài liệu
làm cơ sở pháp lý cho việc giải quyết các mối quan hệ kinh tế, tạo niềm tin cho những người
quan tâm đến tài liệu kế toán.
 Kiểm toán quy tắc

Kiểm toán quy tắc: hướng vào việc đánh giá tình hình thực hiện các thể lệ, chế độ, luật
pháp của đơn vị được kiểm toán trong quá trình hoạt động.
 Kiểm toán hiệu quả

Kiểm toán hiệu quả: hướng vào mối quan hệ giữa một bên là các sản phẩm dịch vụ làm ra
với một bên là các nguồn lực đã tạo ra chúng với yêu cầu có kết quả tối đa và chi phí về nguồn
lực tối thiểu.
 Kiểm toán hiệu năng

Kiểm toán hiệu năng: hướng vào mối quan hệ giữa mục tiêu và kết cụ thể của một chương
trình.
2.3.4. Một số cách phân loại khác

pháp kiểm toán là các biện pháp, cách thức, thủ tục, thủ pháp được sử dụng trong công tác
kiểm toán nhằm thực hiện mục tiêu kiểm toán đã đặt ra.
Theo quan điểm của kiểm toán hiện đại thì có hai phương pháp kiểm toán bao gồm:
 Phương pháp kiểm toán hệ thống
 Phương pháp kiểm toán cơ bản.
2.4.1. Phương pháp kiểm toán hệ thống
2.4.1.1. Khái niệm

Là phương pháp kiểm toán trong đó các kiểm toán viên tiếp cận HTKSNB để xây dựng các
thủ tục kiểm toán.
Thực chất, phương pháp này là tìm hiểu đánh giá HTKSNB của đơn vị, thu thập bằng
chứng về tính thích hợp và hiệu quả của HTKSNB để khoanh vùng rủi ro, xác định trọng tâm,
phương hướng kiểm toán.
Sau khi nghiên cứu HTKSNB, KTV phải trả lời được câu hỏi “Liệu công việc kiểm toán
tiếp theo có thể dựa vào hệ thống kiểm soát nội bộ hay không? Mức độ thoả mãn về kiểm soát
trong từng trường hợp cụ thể?

Vũ Việt Đức – Quản lý xây dựng công trình giao thông K50

19


ĐATN: Kiểm toán dự án đầu tư xây dựng công trình

GVHD: Phan Thị Hiền

Tuỳ thuộc mức độ thoả mãn về kiểm soát để tiến hành các thử nghiệm và kiểm tra có dựa
vào các quy chế kiểm soát của đơn vị hay không.
2.4.1.2. Nội dung


phân tích những ưu, nhược điểm của HTKSNB. Chỉ ra những chỗ kiểm soát còn thiếu, yếu;
những rủi ro tiềm ẩn chưa được kiểm soát phát hiện. Có 4 bước trong phân tích hệ thống:
- Hình dung quy trình nghiệp vụ lý tưởng về nghiệp vụ đang được kiểm toán. (Tính lý tưởng

phụ thuộc kiến thức, trình độ, am hiểu và kinh nghiệm của KTV.).
- Xem xét quy trình nghiệp vụ hiện tại của đơn vị được kiểm toán. (Quy trình nghiệp vụ hiện
tại được thể hiện bằng văn bản là các chế độ và thực tế quy trình xử lý nghiệp vụ của đơn
vị.).
- So sánh quy trình nghiệp vụ hiện tại với quy trình nghiệp vụ lý tưởng.
Vũ Việt Đức – Quản lý xây dựng công trình giao thông K50

20


ĐATN: Kiểm toán dự án đầu tư xây dựng công trình

GVHD: Phan Thị Hiền

- Tiến hành các thử nghiêm kiểm soát, trên cơ sở đó tìm ra điểm mạnh, yếu của đơn vị được

kiểm toán, vùng tiềm ẩn rủi ro trong quy trình.
2.4.2. Phương pháp kiểm toán cơ bản
2.4.2.1. Khái niệm

Là phương pháp kiểm toán, trong đó các thủ tục các kỹ thuật kiểm toán được thiết kế nhằm
thu thập các bằng chứng có liên quan đến dữ liệu về đối tượng kiểm toán và xử lý thông tin
cung cấp.
Đặc trưng của phương pháp này là tiến hành các thử nghiệm (thử nghiệm cơ bản), các đánh
giá đều dựa trên hệ thống thông tin, dựa trên các báo cáo liên quan đến đối tượng kiểm toán và
hệ thống thông tin nội bộ của đơn vị (thử nghiệm theo số liệu).



ĐATN: Kiểm toán dự án đầu tư xây dựng công trình

GVHD: Phan Thị Hiền

 Chuẩn bị kiểm toán

Chuẩn bị kiểm toán là giai đoạn đầu tiên của quy trình kiểm toán, mục đích là tiếp cận
những thông tin, xác định nhu cầu, khả năng (mục tiêu kiểm toán, mức trọng yếu, đánh giá rủi
ro) để xây dựng kế hoạch và chương trình kiểm toán.
 Thực hiện kiểm toán

Thực hiện kiểm toán là quá trình thực hiện đồng bộ các công việc đã được hoạch định trong
kế hoạch kiểm toán. Thực chất của giai đoạn này là KTV áp dụng các phương pháp kiểm toán
để thu thập, đánh giá các bằng chứng kiểm toán theo kế hoạch và chương trình kiểm toán đã
thiết kế.
 Kết thúc kiểm toán
Kết thúc kiểm toán là giai đoạn mà KTV dựa trên cơ sở các bằng chứng kiểm toán thu thập
được trong giai đoạn thực hiện kiểm toán, để hình thành ý kiến kiểm toán, lập và phát hành
báo cáo kiểm toán. Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 700 quy định (VAS 700) quy định “Mục
tiêu của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán là đưa ra ý kiến kiểm toán về báo cáo tài
chính, trên cơ sở đánh giá các kết luận rút ra từ bằng chứng kiểm toán thu thập được và trình
bày ý kiến kiểm toán một cách rõ ràng bằng văn bản, trong đó nêu rõ cơ sở của ý kiến đó”
Ở giai đoạn này KTV cũng tiến hành hoàn chỉnh hồ sơ kiểm toán và giải quyết những phát
sinh sau khi lập báo cáo kiểm toán.

Vũ Việt Đức – Quản lý xây dựng công trình giao thông K50

22

cơ quan của Nhà nước ban hành. Với các chuẩn mực loại này, tính pháp lý của quy định đạt
mức cao và có ý nghĩa điều tiết các hành vi của nhiều phía có liên quan. Vì vậy, hình thức này
bao hàm những quy định chung nhất với tính pháp lý cao cho kiểm toán Nhà nước và kiểm
toán độc lập. Hiện nay, hình thức này được ứng dụng phổ biển ở các nước Tây Âu. Tại Việt
Nam, Luật kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước và Luật kiểm toán của kiểm toán độc lập đã
được ban hành và được coi là văn bản pháp lý cao nhất về kiểm toán.
3.1.2.

Vai trò của chuẩn mực kiểm toán

Vũ Việt Đức – Quản lý xây dựng công trình giao thông K50

23


ĐATN: Kiểm toán dự án đầu tư xây dựng công trình

GVHD: Phan Thị Hiền

Việc ban hành hệ thống các chuẩn mực kiểm đã giúp cho hoạt động của cơ quan kiểm toán
và các kiểm toán viên có được đường lối hoạt động rõ ràng, thực hiện công việc kiểm toán trôi
chảy đạt chất lượng cao. Các chuẩn mực kiểm toán là điều kiện để các kiểm toán viên nâng
cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và thực hiện được đạo đức nghề nghiệp.
Hệ thống chuẩn mực kiểm toán là cơ sở để kiểm tra đánh giá chất lượng, hiệu quả và độ
tuân thủ của các kiểm toán viên cũng như các đoàn kiểm toán khi thực hiện kiểm toán tại các
đơn vị. Ngoài ra hệ thống chuẩn mực kiểm toán là cơ sở để kiểm tra tính đúng đắn các nhận
xét của kiểm toán viên trong báo cáo kiểm toán và là cơ sở để giải quyết các tranh chấp phát
sinh giữa kiểm toán viên, đoàn kiểm toán với các đơn vị được kiểm toán đồng thời cũng là cơ
sở pháp lý giúp cho các kiểm toán viên và đoàn kiểm toán giải toả được trách nhiệm của mình
về các vấn đề có thể xảy ra trong tương lai.


ĐATN: Kiểm toán dự án đầu tư xây dựng công trình

GVHD: Phan Thị Hiền

Đầu năm 2013, Bộ Tài chính đã chính thức sửa đổi lại các chuẩn mực kiểm toán đã ban
hành. Theo đó, hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam được cập nhật mới nhất đến
01/01/2013 và có hiệu lực bao gồm:
- VSA 220: Kiểm soát chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính.
- VSA 230: Tài liệu, hồ sơ kiểm toán.
- VSA 240: Trách nhiệm của kiểm toán viên liên quan đến gian lận trong quá trình kiểm toán
-

báo cáo tài chính.
VSA 250: Xem xét tính tuân thủ pháp luật và các quy định trong kiểm toán báo cáo tài
chính.
VSA 260: Trao đổi các vấn đề với Ban quản trị đơn vị được kiểm toán.
VSA 265: Trao đổi về những khiếm khuyết trong kiểm soát nội bộ với Ban quản trị và Ban
Giám đốc đơn vị được kiểm toán.
VSA 300: Lập kế hoạch kiểm toán báo cáo tài chính.
VSA 315: Xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu thông qua hiểu biết về đơn vị
được kiểm toán và môi trường của đơn vị.
VSA 320: Mức trọng yếu trong lập kế hoạch và thực hiện kiểm toán.
VSA 330: Biện pháp xử lý của kiểm toán viên đối với rủi ro đã đánh giá.
VSA 402: Các yếu tố cần xem xét khi kiểm toán đơn vị có sử dụng dịch vụ bên ngoài.
VSA 450: Đánh giá các sai sót phát hiện trong quá trình kiểm toán.
VSA 500: Bằng chứng kiểm toán.
VSA 501: Bằng chứng kiểm toán đối với các khoản mục và sự kiện đặc biệt.
VSA 505: Thông tin xác nhận từ bên ngoài.
VSA 510: Kiểm toán năm đầu tiên - số dư đầu kỳ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status