Sáng kiến góp phần nâng cao nhận thức các quan điểm chỉ đạo công tác dân vận theo tinh thần nghị quyết lần thứ 7 của ban chấp hành trung ương đảng khóa xi - Pdf 39

GÓP PHẦN NÂNG CAO NHẬN THỨC CÁC QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO
CÔNG TÁC DÂN VẬN THEO TINH THẦN NGHỊ QUYẾT LẦN THỨ 7
CỦA BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG KHÓA XI .
GV: LÊ THỊ TRỌN – PHÓ TRƯỞNG KHOA DÂN VẬN
Tiếp thu quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh,
Đảng ta luôn xác định Công tác vận động nhân dân hay công tác dân vận là một
trong những công tác cơ bản của Đảng ; là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đối
với toàn bộ sự nghiệp cách mạng của nước ta; là điều kiện quan trọng bảo đảm
cho sự lãnh đạo của Đảng và củng cố, tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa
Đảng, Nhà nước với nhân dân.
Xác định đúng vị trí, vai trò và tầm quan trọng của công tác dân vận, từ
khi ra đời đến nay Đảng ta luôn quan tâm đến công tác dân vận. Đã có nhiều
nghị quyết, chỉ thị của Đảng về công tác dân vận, nhất là từ sau đổi mới đến nay
như NQTW 8B (khóa VI) về đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường
mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân; NQ 23,24,25 (khóa IX) về phát huy sức
mạnh đại đoàn kết dân tộc, về công tác dân tộc, tôn giáo; NQ số 11, 20, 25, 26,
27 (khóa X) về công tác phụ nữ, công nhân, thanh niên, về nông nghiệp, nông
dân, nông thôn, về đội ngũ trí thức; đặc biệt, ngày 02 tháng 5 năm 2013, hội nghị
lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã ra Nghị quyết số 25NQ/TW về tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân
1


vận trong tình hình mới. Nghị quyết Trung ương lần này đã đề cập nhiều vấn đề
mang tính tổng kết thực tiễn công tác dân vận trong thời gian qua và đặt ra những
yêu cầu cấp bách phải đổi mới công tác vận động nhân dân trong thời gian tới,
đặc biệt nghị quyết đã đưa ra các quan điểm chỉ đạo đổi mới công tác dân vận
một cách sâu sát, toàn diên so với các nghị quyết trước đó.
Quan điểm thứ nhất, Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân
dân, vì nhân dân; nhân dân là chủ, nhân dân làm chủ.
Ở quan điểm này Đảng ta nhấn mạnh, chủ thể làm cách mạng là nhân
dân: “nhân dân là chủ, nhân dân làm chủ”. Sở dĩ Đảng ta phải nhấn mạnh điều

lợi ích; quyền lợi phải đi đôi với nghĩa vụ công dân; chú trọng lợi ích trực tiếp
của người dân; huy động sức dân phải đi đôi với bồi dưỡng sức dân; những gì
có lợi cho dân thì hết sức làm, những gì có hại cho dân thì hết sức tránh
So với nghị quyết trung ương 8B, quan điểm này Đảng ta nhấn mạnh hơn
đến lợi ích trực tiếp của người dân đồng thời xác định một lần nữa trách nhiệm
của cán bộ, công chức, viên chức là phải bảo đảm, bảo vệ, chăm lo quyền, lợi ích
3


chính đáng của người dân như lời dạy của Bác: “Việc gì lợi cho dân ta phải hết
sức làm, việc gì có hại đến dân ta phải hết sức tránh”(Sđd, tập 4, tr. 56 - 57).
Cơ sở xuất phát của quan điểm này cũng dựa trên lý luận của chủ nghĩa
Mác – Lê nin, tư tưởng HCM và thực tiễn sinh động của đất nước. Theo
C.Mác:"Tất cả những gì mà con người đấu tranh để giành lấy, đều dính liền với
lợi ích của họ" (C.Mác – Ph Ăngghen, toàn tập, Nxb Sự thật, H. 1978, tập 1, tr
98)). Lênin cho rằng: "Những lý tưởng cao cả nhất cũng không đáng một xu nhỏ,
chừng nào người ta không biết kết hợp chặt chẽ những lý tưởng đó với lợi ích của
chính ngay những người đang tham gia cuộc đấu tranh ...” (V.I. Lênin, toàn tập,
Nxb M. 1974, tập 1, tr. 510-511) Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chúng ta tranh được tự
do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì.
Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đù”
(Sđd, tập 10, tr. 271) . Thực tiễn công cuộc đổi mới cho thấy công tác dân vận
chỉ có thể thành công nếu trước hết bảo vệ và đáp ứng được trên thực tế lợi ích
thiết thân của người dân, kết hợp hài hòa các lợi ích, gắn chặt quyền lợi và nghĩa
vụ công dân.
Để thực hiện tốt qann điểm này, các cấp, các ngành, địa phương, đơn vị
cần tập trung giải quyết những bức xúc, nguyện vọng chính đáng của nhân dân;
gắn chặt công tác vận động, giáo dục với đảm bảo lợi ích mọi mặt của nhân dân,
đồng thời phải giáo dục cho người dân thấy rõ lợi ích cùng với nghĩa vụ và trách
nhiệm của công dân. Khi phát động các phong trào thi đua yêu nước cần khắc

sóc sức khỏe, củng cố lòng tin, tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa nhân dân với
Đảng, Nhà nước.
Quan điểm thứ tư: Công tác dân vận là trách nhiệm của cả hệ thống
chính trị, của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đoàn viên, hội viên các
đoàn thể nhân dân, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang. Trong đó, Đảng lãnh
đạo, chính quyền tổ chức thực hiện, Mặt trận, đoàn thể làm tham mưu và
nòng cốt.
Quan điểm này của Đảng một lần nữa nhấn mạnh, công tác quần chúng
không chỉ là trách nhiệm của các đoàn thể, mà còn là trách nhiệm của các tổ chức
khác trong hệ thống chính trị, có phối hợp với nhau dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Trong đó, trách nhiệm của Đảng là lãnh đạo toàn bộ công tác dân vận; trách
nhiệm của chính quyền Nhà nước là tổ chức thực hiện công tác dân vận; Mặt trận
Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân là các cơ quan tham mưu công tác dân vận.
Trong bài viết Dân vận năm ngày 15 tháng 10 năm 1949, khi đề cập đến
vấn đề ai làm công tác dân vận,Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Tất cả cán bộ
chính quyền, tất cả cán bộ Đoàn thể và tất cả hội viên của các tổ chức nhân dân
(Liên Việt, Việt Minh, v.v…) đều phải phụ trách Dân vận”. Nghị quyết Trung
ương 8B khóa VI cũng khẳng định : “Công tác quần chúng không chỉ là trách
6


nhiệm của các đoàn thể, mà còn là trách nhiệm của các tổ chức khác trong hệ
thống chính trị, có phối hợp với nhau dưới sự lãnh đạo của Đảng. Mọi cán bộ,
đảng viên, nhân viên nhà nước đều phải làm công tác quần chúng theo chức trách
của mình”.
Trách nhiệm của Đảng là lãnh đạo toàn bộ công tác dân vận; Đảng phải
làm tốt vai trò lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát việc thực hiện công tác dân
vận từ Trung ương đến cơ sở…
Trách nhiệm của chính quyền Nhà nước là tổ chức thực hiện công tác dân
vận: một là, thể chế hóa các quan điểm, chủ trương mới của Đảng về dân vận

bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang thực hiện công tác dân vận; các hình thức tập
hợp nhân dân phải phong phú, đa dạng, khoa học, hiệu quả.
Ở nước ta, thể chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ là
nền tảng cho toàn bộ công cuộc cải cách và đổi mới toàn diện về kinh tế, chính
trị, văn hóa, xã hội song song với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước. Trong thể chế đó, vấn đề nhân dân làm chủ được xem là yếu tố trung tâm
của mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước, hoạt động của Đảng, Nhà nước đều từ
nhân dân và vì nhân dân. Nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình không chỉ
thông qua bộ máy Nhà nước mà còn tự mình thực hiện quyền ấy. Mặt khác, Nhà
8


nước tồn tại để phục vụ nhân dân chứ không phải nhân dân tồn tại để phục vụ
Nhà nước. Vì vậy, sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đều xuất phát
từ nhu cầu dân chủ của người dân, phục vụ lợi ích của nhân dân, đây là những
đảm bảo quan trọng để nhân dân thực sự là chủ và thực sự làm chủ.
Phát huy quyền làm chủ của nhân dân không chỉ là "dân biết, dân bàn, dân
làm, dân kiểm tra" mà Đảng, chính quyền phải tạo cơ chế và điều kiện để "dân ra
quyết định, dân giám sát và dân được hưởng". Muốn vậy, Đảng và Nhà nước cần
tiếp tục bổ sung, hoàn thiện các văn bản nhằm cụ thể hóa, thể chế hóa nội dung
cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”; triển khai thực
hiện, đưa nghị quyết vào cuộc sống.
Đa dạng hóa các hình thức tập hợp nhân dân là hợp với quy luật phát triển
của xã hội trong nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế ở nước ta.
Có như vậy mới phát huy được khả năng sáng tạo phong phú của nhân dân để
giải quyết những lợi ích, nguyện vọng chính đáng về các mặt của các tầng lớp
nhân dân và đóng góp thiết thực vào sự nghiệp chung của đất nước. Tuy nhiên,
việc phát triển các tổ chức quần chúng phải theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản,
và tự trang trải, tạo môi trường và điều kiện để nhân dân phát huy sức lực, trí tuệ
sáng tạo theo nguyện vọng trên cơ sở pháp luật. Các hình thức tập hợp nhân dân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status