Chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp từ thực tiễn thi hành tại bắc giang - Pdf 39

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

LỤC THỊ THU HÒE

CHÕ §é TAI N¹N LAO §éNG, BÖNH NGHÒ NGHIÖP
Tõ THùC TIÔN THI HµNH T¹I B¾C GIANG
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS. LÊ THỊ HOÀI THU

HÀ NỘI - 2015


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi, các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong
bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
Luận văn đảm bảo tính chính xác tin cậy và trung thực.Tôi đã hoàn
thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài
chính theo quy định của khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết lời cam đoan này đề nghị khoa Luật xem xét để
tôi có thể bảo vê Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN

Lục Thị Thu Hòe


Chương 2: THỰC TRẠNG CHẾ ĐỘ TAI NẠN LAO ĐỘNG, BỆNH NGHỀ
NGHIỆP VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI TỈNH BẮC GIANG ............... 26
2.1. Lịch sử hình thành và phát triển chế độ tai nạn lao động, bệnh
nghề nghiệp ................................................................................................... 26
2.1.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1960.................................................. 26
2.1.2. Giai đoạn từ năm 1960 đến 1986.......................................................... 26
2.1.3. Giai đoạn từ năm 1986 đến 1994.......................................................... 27
2.1.4. Giai đoạn từ năm 1994 đến nay ............................................................ 28
2.2. Thực trạng các quy định pháp luật về bảo hiểm tai nạn lao động,
bệnh nghề nghiệp........................................................................................... 30
2.2.1. Về đối tượng hưởng............................................................................... 30
2.2.2. Về các trường hợp được coi là tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.......... 31
2.2.2.1. Trường hợp được coi là tai nạn lao động .......................................... 31
2.2.2.2. Trường hợp được coi là bệnh nghề nghiệp ........................................ 34
2.2.3. Về tỷ lệ đóng góp ................................................................................... 38
2.2.4. Về mức trợ cấp bồi thường.................................................................... 40
2.2.5. Về xử phạt vi phạm ................................................................................ 47
2.3. Thực tiễn thi hành chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp tại tỉnh
Bắc Giang ....................................................................................................... 48
2.3.1. Tình hình tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; công tác thi hành chế độ
tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp tại địa bàn tỉnh Bắc Giang .................... 48
2.3.2. Kết quả đạt được ................................................................................... 55
2.3.3. Tồn tại, nguyên nhân ............................................................................. 56
2.4. Những điểm mới của chế tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp trong
pháp luật hiện hành ...................................................................................... 61
2.4.1. Trong chế độ bảo hiểm xã hội ............................................................... 61
2.4.2. Trong chế độ An toàn, Vệ sinh lao động ............................................... 63


Kết luận Chương 2 ........................................................................................ 68


Bênh nghề nghiệp

ILO

Tổ chức lao động quốc tế

Luật BHXH

Luật Bảo hiểm xã hội

NLĐ

Người lao động

NSDLĐ

Người sử dụng lao động

TNLĐ

Tai nạn lao động


DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu bảng

Tên bảng

Bảng 2.1: Số lượt người được hưởng chế độ TNLĐ, BNN

Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp tạo ra gánh nặng tài chính rất lớn
cho người lao động, gia đình của họ, cũng như sự phát triển kinh tế xã hội.

1


Cái giá lớn nhất của bệnh nghề nghiệp chính là mạng sống con người. Tai nạn
lao động, Bệnh nghề nghiệp làm bần cùng hóa người lao động và gia đình họ,
ảnh hưởng lớn tới cả cộng đồng.
Để trợ giúp người lao động trong trường hợp bị TNLĐ, BNN, Nhà
nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quy định trách nhiệm bồi thường
của người sử dụng lao động và trách nhiệm chi trả trợ cấp của tổ chức BHXH.
Qua 8 năm (Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006) thi hành Luật bảo hiểm
xã hội cho thấy, bên cạnh nhiều kết quả đạt được, còn có những tồn tại.
Trong đó có các quy định về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Hiện nay
đã có Luật BHXH 2014 ra đời thay thế Luật BHXH 2006 có hiệu lực từ
ngày 01/01/2015 và Luật An toàn vệ sinh lao động có tác động và ảnh
hưởng đến chế độ TNLĐ, BNN. Từ những thay đổi và yêu cầu hiện tại, việc
tìm hiểu chế độ tai nạn lao động bệnh nghề nghiệp trong luật BHXH là hết
sức cần thiết. Do đó tác giả đã chọn đề tài: “Chế độ tai nạn lao động, bệnh
nghề nghiệp từ thực tiễn thi hành tại Bắc Giang” làm đề tài luận văn thạc
sĩ của mình. Qua đó tác giả muốn đóng góp một cái nhìn rõ ràng cụ thể sâu
sắc hơn về các quy định về chế độ tai nạn lao động bệnh nghề nghiệp từ tình
hình thực hiện tại tỉnh Bắc Giang. Qua đó đánh giá thực trạng quy định pháp
luật về chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và đưa ra những kiến
nghị, giải pháp phù hợp.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu, hệ thống hóa quy định pháp luật, thực trạng chế độ
tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp từ thực tiễn thi hành tại tỉnh Bắc Giang.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các quy định pháp luật về chế độ

trường Đại học Luật Hà Nội.
- Phạm Thị Phương Loan (2011), Chế độ tai nạn lao động, thực trạng và
giải pháp hoàn thiện, Luận văn thạc sĩ Luật học, trường Đại học Luật Hà Nội.
- Lê Thị Thanh Nhàn (2013), Chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề

3


nghiệp trong Luật Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp của, khoa
Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Bên cạnh các công trình nghiên cứu về lý luận và thực trạng pháp luật
của chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp còn có những công trình
nghiên cứu khoa học trên các tạp chí về chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp cụ thể như:
- Lê Kim Dung (2011), “Tiêu chí của pháp luật bồi thường tai nạn lao động”,
Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật (5);
- Đỗ Ngân Bình (2000), “Vấn đề bồi thường thiệt hại do tai nạn lao
động”, Tạp chí Luật học, trường Đại học Luật Hà Nội (6);
- Lê Thị Hoài Thu (2002), “Xây dựng Luật Bảo hiểm xã hội”, Tạp chí
nghiên cứu lập pháp Văn phòng Quốc hội (3);
- Lê Thị Hoài Thu (2014), “Thực trạng pháp luật an sinh xã hội ở Việt
Nam và phương hướng hoàn thiện”, Nhà nước và pháp luật, Viện nhà nước
và pháp luật (01);
- Lê Thị Hoài Thu (2012), “Bảo đảm an sinh xã hội trách nhiệm của
Doanh nghiệp”, Nghiên cứu lập pháp, Văn phòng Quốc hội (16);
Mặc dù có rất nhiều công trình nghiên cứu về chế độ tai nạn lao động,
bệnh nghề nghiệp tuy nhiên chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu
đưa ra những giải pháp hoàn thiện đóng góp phù hợp với Luật Bảo hiểm xã
hội 2014 và Luật an toàn, vệ sinh lao động cũng như chưa có một công trình
nghiên cứu thực trạng chế độ Bảo hiểm xã hội tai nạn lao động, bệnh nghề


5


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TAI NẠN LAO ĐỘNG,
BỆNH NGHỀ NGHIỆP VÀ CHẾ ĐỘ TAI NẠN LAO ĐỘNG,
BỆNH NGHỀ NGHIỆP
1.1. Khái quát chung về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
1.1.1. Khái niệm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
1.1.1.1. Khái niệm tai nạn lao động
Tai nạn lao động (TNLĐ) xuất hiện cùng với quá trình lao động sản
xuất của con người có thể xảy ra ở mọi ngành nghề, mọi quốc gia. TNLĐ
không chỉ ảnh hưởng đến cuộc sống, sức khỏe, thu nhập của bản thân NLĐ
mà còn ảnh hưởng đến thân nhân, doanh nghiệp đơn vị nơi NLĐ làm, Nhà
nước và xã hội. Một quốc gia, một xã hội, mỗi gia đình chỉ thực sự phát triển
khi đảm bảo an sinh xã hội mà trong đó vấn đề TNLĐ được quan tâm.
Trong các văn bản luật Quốc tế không nêu ra một khái niệm cụ thể về
tai nạn lao độ, theo đó, tại Công ước số 121 về trợ cấp TNLĐ 1964 đã nêu rõ
“mỗi nước thành viên phải đưa ra định nghĩa về “tai nạn lao động” và chỉ rõ
các điều khoản trong định nghĩa” [30, Điều 7].
Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, TNLĐ được hiểu là tai nạn
bất ngờ xảy ra do lao động hay quá trình lao động, có thể gây tử vong hoặc gây
cho cơ thể tổn thương hoặc một rối loạn chức năng vĩnh viễn hay tạm thời [39].
Theo giáo trình BHXH của trường Đại học Lao động – Xã hội thì
TNLĐ là tai nạn xảy ra gây tác hại đến cơ thể NLĐ do tác động của yếu tố
nguy hiểm và có hại trong sản xuất [37, tr.371].
Theo Bộ luật lao động 2012:“TNLĐ là tai nạn gây tổn thương cho bất
kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho NLĐ, xảy ra
trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao

thường xuyên và kéo dài gây nên sự tích lũy tiềm tàng về bệnh tật cho cơ thể.
Theo giáo trình BHXH của trường Đại học Lao động – Xã hội, BNN là

7


một hiện trạng bệnh lý mang tính chất đặc trưng nghề nghiệp hoặc liên quan
đến nghề nghiệp mà nguyên nhân gây bệnh do tác động thường xuyên và kéo
dài của điều kiện lao động xấu [37, tr.374]
Điều kiện lao động xấu là không đảm bảo các yêu cầu an toàn, vệ sinh
lao động.Việc xác định BNN phải dựa trên kết quả giám định và xác định các
yếu tố độc hại có trong môi trường làm việc của NLĐ.Trong đó dấu hiệu “gắn
liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động” chính là dấu hiệu quan
trọng phân biệt giữa BNN và bệnh thông thường. Điều kiện lao động có hại của
nghề nghiệp có thể là hệ quả của các yếu tố vật lý như nhiệt độ, độ ẩm tiếng ồn,
rung động, các bức xạ có hại…. do các yếu tố hóa học như các chất độc, các
loại hơi, khí độc, bụi độc, các chất phóng xạ… do các yếu tố sinh hóa như sinh
vật, vi sinh vật, các loại vi khuẩn, siêu vi khuẩn, côn trùng…hoặc các yếu tố về
tư thế lao động, độ tiện nghi về không gian nơi làm việc, mất vệ sinh, các yếu
tố tâm lý không thuận lợi…Điều kiện lao động có hại của nghề nghiệp tác động
dần dần, phá hủy các bộ phận, chức năng của NLĐ và sinh ra bệnh.
BNN không chỉ tác động đến sức khỏe mà còn là nguyên nhân khiến
sức lao động của NLĐ bị ảnh hưởng. Khi bị BNN ở mức độ nhẹ, một số
trường hợp vẫn có thể tham gia lao động, nhưng hiệu suất và chất lượng công
việc sẽ bị giảm sút. Trường hợp nặng hơn không đủ sức khỏe để lao động,
người bị BNN phải nghỉ việc, ảnh hưởng đến thu nhập của bản thân, NSDLĐ.
Việc xác định BNN phụ thuộc vào khả năng xác định các yếu tố độc
hại của môi trường lao động và trình độ phát triển kinh tế xã hội ở mỗi quốc
gia. Nhìn chung, dù ở góc độ nào theo chúng tôi, BNN là bệnh mà NLĐ mắc
phải do thường xuyên thực hiện nhiệm vụ lao động trong môi trường có yếu

công nghệ mới, NLĐ phải được huấn luyện an toàn vệ sinh lao động phù
hợp với điều kiện vận hành an toàn thiết bị, máy móc mới. NLĐ không
thể biết để thực hiện đúng các yêu cầu kỹ thuật đảm bảo an toàn nếu
không được huấn luyện.

9


Không khám sức khỏe định kỳ cho NLĐ:
Khám sức khỏe định kỳ là để cảnh báo tình trạng sức khỏe của NLĐ,
để từ đó họ thực hiện tốt các phương tiện bảo hộ bảo vệ cá nhân trong quá
trình lao động sản xuất. Đồng thời là cơ sở để NSDLĐ biết được tình trạng
môi trường làm việc đã đảm bảo toàn lao động chưa, từ đó tiến hành cải thiện
môi trường lao động không để ảnh hưởng đến sức khỏe NLĐ.
Đối với NLĐ không được khám sức khỏe định kỳ thì không phát hiện
được tình trạng sức khỏe, từ đó có thể họ phải làm việc trong điều kiện quá
sức sẽ gây mỏi mệt, thiếu quan sát, mất bình tĩnh, vận hành máy móc không
chính xác dẫn đến khả năng xảy ra TNLĐ rất cao hoặc có BNN mà không
phát hiện để chữa trị kịp thời ảnh hưởng đến sức khỏe, chất lượng cuộc sống.
Ý thức chấp hành quy trình an toàn, vệ sinh lao động của NLĐ kém:
Ở những ngành nghề, công việc có mối nguy hiểm, trong quá trình
lao động sản xuất đều phải có quy trình hướng dẫn đảm bảo an toàn lao
động, vệ sinh lao động cho NLĐ.Tuy nhiên, NLĐ chưa nghiêm túc chấp
hành quy trình trong quá trình lao động sản xuất, từ đó xuất hiện các hiện
tượng làm bừa, làm ẩu, không tuân thủ quy trình, không sử dụng các trang
thiết bị bảo hộ, không chấp hành mệnh lệnh, làm việc không có sự phân
công dẫn đến TNLĐ. Việc không chấp hành quy trình, quy định thường
thấy ở những lao động trẻ, họ chủ quan, lơ là với các mối nguy hiểm, với
những lời cảnh báo an toàn trong lao động. Vì vậy tất yếu những mối nguy
hiểm và tai nạn luôn có thể xảy ra.

môi trường không tốt, hành vi không an toàn.
TNLĐ, BNN có thể phòng ngừa, do vậy phương pháp có hiệu quả để
phòng ngừa TNLĐ là tránh những hành vi không an toàn và xây dựng, đảm
bảo môi trường an toàn cho NLĐ.

11


1.2. Chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
1.2.1. Khái niệm chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
Chế độ TNLĐ, BNN là một trong các chế độ BHXH bao gồm các quy
định nhằm đảm bảo thu nhập và bảo đảm sức khỏe cho NLĐ trong các trường
hợp bị TNLĐ hoặc BNN. NLĐ bị TNLĐ, BNN không chỉ tổn thất về kinh tế
mà còn ảnh hưởng lớn đến tinh thần của NLĐ. Mục đích của chế độ này là
bảo vệ sự mất khả năng lao động lao động do TNLĐ, BNN gây ra, giúp NLĐ
nhanh chóng ổn định cuộc sống, từ đó góp phần đảm bảo an sinh xã hội.
Quan niệm về chế độ TNLĐ, BNN cũng có sự khác nhau giữa các quốc
gia trên thế giới.
Đối với hầu hết các quốc gia, chế độ TNLĐ, BNN bao gồm trợ cấp
thương tật bệnh tật, dưỡng sức phục hồi sức khỏe và các chế độ khác kèm
theo chế độ thương tật, bệnh tật.
Tại Trung Quốc các chi phí y tế trong thời gian điều trị bao gồm tiền
đăng ký khám bệnh, phí khám bệnh, tiền thuốc xét nghiệm, tiền phẫu thuật…
sẽ do ngành BHXH chi trả 70%, đơn vị sở tại của người bảo hiểm trả 30%,
tiền ăn uống sẽ do đơn vị chi trả 2/3 theo tiêu chuẩn trợ cấp ăn uống đi công
tác địa phương. Ngoài ra NLĐ còn được hưởng các chế độ khác như tiền trợ
cấp tàn tật, tiền nghỉ hưu tàn tật [41, tr.231-232].
Ở Phần Lan bảo hiểm chịu trách nhiệm 100% về những chăm sóc dành
cho TNLĐ hay BNN và được hưởng trợ cấp hàng ngày chi trả trong thời gian
không có khả năng lao động tạm thời và tối đa là một năm. Chi phí hòa nhập

hiểu theo nghĩa này cũng cần lưu ý trường hợp NSDLĐ chưa tham gia BHXH
bắt buộc cho NLĐ theo quy định của nhà nước thì trách nhiệm chi trả của quỹ
BHXH sẽ được dịch chuyển sang NSDLĐ để bảo vệ quyền lợi của NLĐ.
Trong trường hợp này, NSDLĐ sẽ phải trả cho NLĐ một khoản tiền ngang
với mức quy định trong các văn bản pháp luật về BHXH.
Chế độ bảo hiểm TNLĐ, BNN chỉ được coi là thực sự đầy đủ khi được

13


xem xét theo nghĩa rộng. Bởi vì, trong thời gian NLĐ nghỉ việc điều trị
TNLĐ, BNN không những bị mất thu nhập từ lao động mà một loạt các chi
phí y tế phát sinh ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống bản thân và gia đình.
Những thiếu hụt về thu nhập và sự tăng lên về chi phí đã xuất hiện nhu
cầu cần được bảo hiểm của NLĐ. Có thể coi những quy định của Nhà nước về
trách nhiệm của NSDLĐ trong việc chi trả cho NLĐ trong giai đoạn điều trị
là những quy định về trách nhiệm “bảo hiểm” trực tiếp cho NSDLĐ đối với
NLĐ của mình [39].
Dù rất khác nhau về tính chất, biểu hiện lâm sàng…song giữa TNLĐ và
BNN lại có điểm chung là đều làm suy giảm lao động của NLĐ hoặc gây tử vong,
từ đó làm giảm hoặc mất thu nhập từ lao động của NLĐ. Chính vì thế NLĐ bị tai
nạn lao động hay BNN đều là đối tượng áp dụng chung một chế độ BHXH [38].
Có thể nói mặc dù mỗi quốc gia có quan niệm khác nhau về chế độ
TNLĐ, BNN, nhưng theo chúng tôi, chế độ TNLĐ, BNN được hiểu là chế độ
BHXH do quỹ BHXH chi trả nhằm bù đắp một phần hoặc thay thế thu nhập từ
lao động của NLĐ bị giảm hoặc mất do giảm khả năng lao động mà nguyên
nhân là TNLĐ, BNN.
1.2.2. Nguyên tắc chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
Thứ nhất, nguyên tắc bảo đảm công bằng
Ý nghĩa xã hội của chế độ TNLĐ, BNN chỉ được thực hiện khi chế độ

NLĐ.Mục tiêu này chỉ đạt được tối ưu khi được Nhà nước thống nhất quản lý
và đảm bảo thực hiện.
Thứ tư, mức hưởng chế độ TNLĐ, BNN được tính trên cơ sở mức
đóng, thời gian đóng BHXH.
Bất cứ NLĐ nào tham gia BHXH cũng đều phải đóng tài chính nhất định
vào quỹ BHXH. Quỹ này được chi trả các chế độ BHXH cho chính những
NLĐ đã đóng BHXH khi họ bị TNLĐ, BNN hoặc gặp phải những rủi ro khác.
Tuy nhiên, để đảm bảo công bằng khi NLĐ có mức đóng và thời gian đóng
khác nhau, nhà nước quy định mức hưởng và thời gian hưởng chế độ TNLĐ,
BNN tương ứng với thời gian đã đóng bảo hiểm và mức đóng bảo hiểm.

15


Thứ năm, thực hiện chế độ TNLĐ, BNN phải đơn giản, dễ dàng thuận
tiện, bảo đảm kịp thời và đầy đủ quyền lợi của NLĐ tham gia BHXH.
Khi bị TNLĐ, BNN NLĐ đã bị ảnh hưởng rất nhiều đến sức khỏe, tinh
thần…Họ cần sự hỗ trợ cả về vật chất và tinh thần, trong giai đoạn họ điều trị
vẫn bảo đảm cuộc sống cho bản thân, trang trải các chi phí. Vì vậy, việc thực
hiện chi trả chế độ TNLĐ, BNN cho NLĐ phải đảm bảo tính kịp thời và đầy
đủ cho NLĐ. Như vậy, BHXH nói chung và bảo hiểm TNLĐ, BNN nói riêng
mới thực sự có ý nghĩa đối với NLĐ và gia đình họ.
1.2.3. Nội dung chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
1.2.3.1. Đối tượng và điều kiện hưởng chế độ tai nạn lao động, bệnh
nghề nghiệp
 Đối tượng hưởng chế độ TNLĐ, BNN
Theo Điều 34 Công ước 102 về quy phạm tối thiểu về an toàn xã hội
năm 1952 của Tổ chức Lao động Quốc tế, đối tượng được hưởng trợ cấp
TNLĐ, BNN bao gồm: “ những loại làm công ăn lương được quy định, tổng
số ít nhất chiếm 50% toàn bộ những người làm công ăn lương và đối với trợ

sinh và sinh viên, những người tham gia tự nguyện vào các hoạt động vì lợi
ích cộng đồng [41, tr.341]
Ở Đan Mạch, tất cả những người làm công ăn lương phải có bảo hiểm
TNLĐ. Một số nhóm người lao động độc lập cũng phải tham gia bảo hiểm
TNLĐ. Những người tham gia bảo hiểm được quyền ký hợp đồng với một
công ty bảo hiểm tư nhân được chấp nhận [41, tr.381]
Ở Thụy Điển, đối tượng của chế độ TNLĐ, BNN là tất cả những người
thực hiện một hoạt động làm công ăn lương hay độc lập cũng như học viên của
một số trường nghiệp vụ được bảo hiểm cho những rủi ro về TNLĐ [41, tr.438]
Đối tượng hưởng chế độ bảo hiểm TNLĐ không chỉ bao gồm NLĐ mà
còn có thân nhân của NLĐ. Như pháp luật Trung Quốc quy định, khi NLĐ bị
mất do TNLĐ, BNN thì thân nhân của họ sẽ được hưởng các quyền lợi bao

17


gồm: tiền trợ cấp tang lễ, tiền tử tuất và lương hưu của người chết [41, tr.163]
Thân nhân của NLĐ thường được xác định là cha mẹ, vợ chồng, con
của NLĐ. Trong trường hợp NLĐ bị chết do TNLĐ, BNN thì thân nhân của
họ được hưởng bảo hiểm. Đó là sự bù đắp một phần thiệt hại về vật chất và
tinh thần cho thân nhân NLĐ.
Có thể nói, việc quy định đối tượng hưởng chế độ TNLĐ, BNN ở mỗi
quốc gia có thể khác nhau, tuy nhiên tác giả cho rằng đối tượng được hưởng
chế độ này trước hết phải là NLĐ và có tham gia BHXH. Như vậy, mới đảm
bảo mối quan hệ “đóng - hưởng” của NLĐ.
 Điều kiện hưởng chế độ TNLĐ, BNN
Không phải mọi trường hợp bị TNLĐ, BNN đều được hưởng chế độ
TNLĐ, BNN mà họ phải đáp ứng những điều kiện nhất định theo luật định.
Điều 6 Công ước số 121, Công ước về trợ cấp TNLĐ, 1964:
Các chế độ trợ cấp cho người bị TNLĐ và BNN nên bao gồm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status