Cơ hội và thách thức với hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam khi tham gia AEC - Pdf 39

GVHD: Nguyễn Thị Thúy Hồng

MỤC LỤC

Sinh viên thực hiện: Đoàn Thanh Ngọc - 11132901


GVHD: Nguyễn Thị Thúy Hồng

DANH MỤC VIẾT TẮT
STT
1
2
3
4
5

6

Từ viết tắt
AEC

Nghĩa Tiếng Anh đầy đủ
Nghĩa Tiếng Việt đầy đủ
ASEAN
Economic Cộng đồng kinh tế ASEAN

ASEAN

Community
Association of Southeast Hiệp hội các quốc gia Đông

GVHD: Nguyễn Thị Thúy Hồng

DANH MỤC BẢNG

Sinh viên thực hiện: Đoàn Thanh Ngọc - 11132901


GVHD: Nguyễn Thị Thúy Hồng

DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Giá trị kim ngạch xuất, nhập khẩu Việt Nam- ASEAN giai đoạn
2008- 2015....................................Error: Reference source not found
Biểu đồ 2.2: Cơ cấu xuất khẩu mặt hàng chủ lực sang thị trường ASEAN trong
năm 2015.......................................Error: Reference source not found
Biểu đồ 2.3:

Cơ cấu hập khẩu mặt hàng chủ lực từ thị trường ASEAN trong năm 2015
Error: Reference source not found

Biểu đồ 2.4:

Cơ cấu thị trường xuất khẩu của Việt Nam sang các nước thành viên
ASEAN năm 2015..............................Error: Reference source not found

Biểu đồ 2.5:

Cơ cấu thị trường nhập khẩu của Việt Nam từ các nước thành viên
ASEAN năm 2015..............................Error: Reference source not found

Biểu đồ 2.6:

khắc phục những khó khăn góp phần đưa nền kinh tế Việt Nam hội nhập sâu rộng vào
một thị trường chung và thống nhất.
Chính vì vậy, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Cơ hội và thách thức với hoạt
động thương mại quốc tế của Việt Nam khi tham gia AEC” cho đề án môn
học chuyên ngành.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu:
-

Mục tiêu nghiên cứu:

Đề tài nghiên cứu nhằm phân tích và đánh giá những cơ hội và thách thức với
hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam khi tham gia vào Cộng đồng kinh tế
ASEAN (AEC)
Sinh viên thực hiện: Đoàn Thanh Ngọc - 11132901

1


GVHD: Nguyễn Thị Thúy Hồng
-

Nhiệm vụ nghiên cứu:

Để hoàn thành mục đích nghiên cứu trên, tác giả tập trung vào ba nhiệm vụ sau đây:
Thứ nhất, làm rõ, phân tích sâu hơn một số vấn đề lý luận về hoạt động
thương mại quốc tế và tác động của AEC đối với hoạt động TMQT của một quốc
gia thành viên.
Thứ hai, phân tích toàn diện về thực trạng hoạt động thương mại quốc tế của Việt
Nam khi tham gia AEC, qua đó đánh giá về tác động của AEC đến hoạt động thương
mại quốc tế của Việt Nam khi Việt Nam là thành viên của AEC


2


GVHD: Nguyễn Thị Thúy Hồng
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về hoạt động TMQT và tác động của
AEC đối với hoạt động TMQT của một quốc gia thành viên
Chương 2: Phân tích cơ hội và thách thức đối với hoạt động TMQT của VN khi
tham gia AEC
Chương 3: Định hướng và một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động TMQT
của Việt Nam khi tham gia vào AEC

Sinh viên thực hiện: Đoàn Thanh Ngọc - 11132901

3


GVHD: Nguyễn Thị Thúy Hồng

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG TMQT

Sinh viên thực hiện: Đoàn Thanh Ngọc - 11132901

4


GVHD: Nguyễn Thị Thúy Hồng

Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về hoạt động TMQT và tác

phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Ngày nay, để tồn tại và phát triển các quốc gia đều phải tham gia vào phân công
lao động quốc tế và trao đổi hàng hóa với bên ngoài. Hơn thế nữa, ngày nay TMQT
Sinh viên thực hiện: Đoàn Thanh Ngọc - 11132901

5


GVHD: Nguyễn Thị Thúy Hồng
không chỉ đơn thuần là buôn bán với bên ngoài mà thực chất là cùng với các quan hệ
kinh tế đối ngoại khác tham gia vào phân công lao động quốc tế. Vì vậy, cần coi
TMQT không chỉ là nhân tố bổ sung cho kinh tế trong nước mà còn phải coi sự phát
triển kinh tế trong nước phải thích nghi với lựa chọn phân công lao động quốc tế.
Sự thành công trong chiến lược phát triển kinh tế của nhiều nước là nhận thức
được mối quan hệ hữu cơ giữa kinh tế trong nước và mở rộng quan hệ kinh tế với
bên ngoài. Vấn đề ở đây là phải khai thác được mọi lợi thế của hoàn cảnh chủ quan
trong nước phù hợp với xu thế phát triển của kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế
quốc tế. Đồng thời, phải tính toán lợi thế tương đối có thể dành được và so sánh
điều đó với cái giá phải trả. Thuận lợi có thể tạo ra được nhờ tham gia vào buôn
bán và phân công lao động quốc tế bao giờ cũng tăng thêm khả năng liên kết kinh
tế, hòa nhập với kinh tế bên ngoài, đòi hỏi có khả năng xử lý thành công mối quan
hệ phụ thuộc lẫn nhau.
1.2.
Đặc điểm của TMQT
1.2.1. TMQT có quy mô lớn và tốc độ tăng trưởng nhanh.
Việc trao đổi hàng hóa, dịch vụ hay thực hiện gia công không còn giới hạn trong
phạm vi một quốc gia và phát triển không ngừng cùng với xu hướng gia tăng mở cửa
nền kinh tế của các nước.
Sở dĩ TMQT có tốc độ tăng trưởng nhanh, thậm chí nhanh hơn tăng trưởng GDP
của thế giới là do phân công lao động quốc tế ở mức sâu hơn dẫn tới chuyên môn hóa

và đa phương giữa các quốc gia đối với các công cụ bảo hộ mậu dịch đã và đang tồn
tại trong quan hệ TMQT. Về thực chất, đó là việc thực hiện các biện pháp cắt giảm
thuế quan và dỡ bỏ các hàng rào phi thuế quan đã và đang được áp dụng trong buôn
bán quốc tế. Việc hình thành các liên kết KTQT với các tổ chức KTQT cũng tạo thuận
lợi cho tự do hóa thương mại, trước hết trong khuôn khổ của các tổ chức đó.
1.2.3. Khu vực Châu Á- Thái Bình Dương trở thành trung tâm của TMQT
Các quốc gia ở khu vực châu Á- Thái Bình Dương đều là các quốc gia có nền
kinh tế hết sức năng động, đạt nhịp độ phát triển cao, liên tục qua nhiều năm. Đây là
khu vực có những quốc gia có trình độ phát triển cao dẫn đầu về các phát minh, sáng
chế… và do đó khu vực này đang làm cho trung tâm của nền kinh tế thế giới dịch
chuyển dần về khu vực này. Đặc biệt trong hoạt động TMQT vị thế của các nước trong
khu vực này cũng ngày càng trở nên quan trọng, các hoạt động trao đổi buôn bán hàng
hóa, dịch vụ thường xuyên được diễn ra với quy mô lớn và tốc độ nhanh, cơ cấu các
mặt hàng trao đổi cũng vô cùng phong phú và đa dạng.
1.2.4. Hoạt động của các công ty quốc tế (MNCs/ TNCs) có vai trò rất lớn
trong TMQT
Các công ty đa quốc gia có vai trò to lớn trong việc thúc đẩy hoạt động TMQT
giữa các quốc gia. Đây là các công ty có quy mô rất lớn, mạng lưới hoạt động bao phủ
rộng khắp thế giới, có sự cọ xát giữa các nền văn hóa với nhau. Trong qúa trình hoạt
động của mình các TNCs đã thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu giữa các quốc gia và
gia công quốc tế. Hay nói cách khác là TNCs thúc đẩy thương mại phát triển với ba
dòng lưu thông hàng hoá cơ bản là: hàng hoá xuất nhập khẩu từ công ty mẹ, hàng hoá
bán ra từ các chi nhánh ở nước ngoài và hàng hoá trao đổi giữa các công ty trong cùng
Sinh viên thực hiện: Đoàn Thanh Ngọc - 11132901

7


GVHD: Nguyễn Thị Thúy Hồng
một tập đoàn. TNCs chi phối hầu hết chu chuyển hàng hoá giữa các quốc gia bởi các

Hoạt động TMQT sẽ góp phần giúp các quốc gia đấy mạnh sản xuất những mặt
hàng mà mình có ưu thế để đem trao đổi và buôn bán với nước ngoài. Từ đó góp phần
chuyển dịch cơ cấu kinh tế của quốc gia theo hướng tích cực, các quốc gia sẽ tận dụng
được những lợi thế của mình.
1.3.3

TMQT giúp quốc gia thu được nguồn tài nguyên của nước ngoài

góp phần làm giảm chi phí sản xuất.
Sinh viên thực hiện: Đoàn Thanh Ngọc - 11132901

8


GVHD: Nguyễn Thị Thúy Hồng
Các nhà sản xuất và phân phối tìm thấy các sản phẩm, dịch vụ cũng như bộ phận
cấu thành các sản phẩm hoàn tất được sản xuất ở nước ngoài có thể làm giảm chi phí
cho họ. Điều này khiến cho tỷ suất lợi nhuận có thể tăng lên hoặc việc tiết kiệm chi phí
có thể chuyển sang người tiêu thụ, như thế sẽ cho phép nhiều người tiêu thụ sản phẩm
hơn. Các chiến lược như thế có thể cho phép công ty cải tiến chất lượng sản phẩm của
họ hoặc ít nhất cũng làm cho họ khác với đối thủ cạnh tranh, như thế mới gia tăng
được thị phần và lợi nhuận của công ty.
1.3.4

TMQT góp phần giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập và mức

sống thực tế cho các tầng lớp dân cư.
Thông qua hoạt động sản xuất hàng xuất khẩu, với nhiều công đoạn khác nhau đã
thu hút hàng triệu lao động tham gia với thu nhập không thấp. Điều đó đã giải quyết
được vấn đề bức xúc nhất trong xã hội hiện nay, tạo ra công ăn việc làm cho người lao

GVHD: Nguyễn Thị Thúy Hồng
Vị trí địa lý có vai trò như là nhân tố tích cực hoặc tiêu cực đối với sự phát triển
kinh tế cũng như hoạt động TMQT của một quốc gia. Vị trí địa lý thuận lợi là điều
kiện cho phép một quốc gia tranh thủ được phân công lao động quốc tế, hoặc thúc đẩy
xuất nhập khẩu dịch vụ như du lịch, vận tải, ngân hàng...
1.4.2.1
Tiềm lực của quốc gia về lao động, vốn
Một nước có nguồn nhân lực dồi dào là điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp
trong nước xúc tiến xuất nhập khẩu các mặt hàng có sử dụng sức lao động. Về mặt
ngắn hạn, nguồn nhân lực được xem như là không biến đổi, vì vậy chúng ít tác động
tới sự biến động của hoạt động TMQT.
Vốn cũng là một trong những yếu tố vô cùng quan trọng tác động sâu sắc và mạnh mẽ
đến hoạt động TMQT của các quôc gia. Nếu một quốc gia có tiềm lực về nguồn tài chính
mạnh mẽ sẽ là điều kiện vô cùng thuận lợi để đẩy mạnh và xúc tiến các hoạt động TMQT,
mở rộng quy mô sản xuất các mặt hàng và góp phần làm tăng trưởng kinh tế.
1.4.2.2
Cơ sở hạ tầng quốc gia
Cơ sở hạ tầng tốt là một yếu tố không thể thiếu nhằm góp phần thúc đẩy hoạt
động TMQT. Cơ sở hạ tầng bao gồm: đường xá, bến bãi, hệ thống vận tải, hệ thống
thông tin, hệ thống ngân hàng... có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động TMQT. Nếu các
hoạt động này là hiện đại sẽ thúc đẩy hiệu quả xuất nhập khẩu, ngược lại nó sẽ kìm
hãm tiến trình xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ.
1.4.2.3
Các chính sách và quy định của quốc gia về hoạt động TMQT
Thông qua việc đề ra các chính sách và quy định, Nhà nước thiết lập môi trường
pháp lý nhằm điều chỉnh các hoạt động của các doanh nghiệp nên nó có ảnh hưởng rất
lớn đến hoạt động TMQT. Chúng ta có thể xem xét tác động của các chính sách đó
dưới các khía cạnh sau:
Thuế quan và quota: Khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu
chịu ảnh hưởng trực tiếp của thuế quan và quota.

vậy mà mỗi sự biến động của tình hình kinh tế - xã hội ở nước ngoài đều có
những ảnh hưởng nhất định đến hoạt động kinh tế trong nước. Hoạt động TMQT
là hoạt động trực tiếp quan hệ với các chủ thể ở nước ngoài, chịu sự chi phối và
tác động của các nhân tố ở nước ngoài nên nó lại càng rất nhạy cảm. Bất kỳ một
sự thay đổi nào về chính sách TMQT, tình hình lạm phát, thất nghiệp hay tăng
trưởng và suy thoái kinh tế... của các nước đều ảnh hưởng tới hoạt động TMQT
của các doanh nghiệp ở mỗi quốc gia.
1.4.3.3
Sự phát triển của công nghệ
Ngày nay, khoa học công nghệ tác động đến tất cả các lĩnh vực kinh tế xã hội và
mang lại nhiều lợi ích, trong xuất nhập khẩu nó cũng mang lại hiệu quả cao. Nhờ sự
phát triển của hệ thống bưu chính viễn thông,các doanh nghiệp ngoại thương có thể
đàm thoại trực tiếp với khách hàng qua telex, fax, điện tín... giảm bớt những chi phí đi
lại, xúc tiến hoạt động xuất nhập khẩu. Giúp các nhà kinh doanh nắm bắt các thông tin
về diễn biến thị trường một cách chính xác, kịp thời. Bên cạnh đó, nhờ có hoạt động
TMQT mà các quốc gia được tiếp xúc với các thành tựu công nghệ tiên tiến trên thế
giới, thay thế, đổi mới công nghệ. Khoa học công nghệ còn tác động tới các lĩnh vực
như vận tải hàng hoá, các kỹ nghệ nghiệp vụ trong ngân hàng... Đó cũng chính là các
yếu tố tác động tới hoạt động TMQT.
1.4.3.4
Tỷ giá hối đoái
Sinh viên thực hiện: Đoàn Thanh Ngọc - 11132901

11


GVHD: Nguyễn Thị Thúy Hồng
Tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái là nhân tố quan trọng thực hiện
chiến lược hướng ngoại, đẩy mạnh xuất nhập khẩu. Trong quan hệ buôn bán ngoại
thương, tỷ giá hối đoái có vai trò quan trọng, tác động lớn tới hiệu quả hoạt động xuất

hướng tới không bắt buộc của các nước ASEAN.
Việc hiện thực hóa AEC đã được triển khai trong cả quá trình dài trước đây
và sẽ được tiếp tục thực hiện trong thời gian tới.
1.6

Tác động của AEC đối với hoạt động TMQT của một quốc gia

Sinh viên thực hiện: Đoàn Thanh Ngọc - 11132901

12


GVHD: Nguyễn Thị Thúy Hồng
thành viên
Việc tham gia Cộng đồng kinh tế ASEAN( AEC) đã mang lại nhiều tác động tích
cực và có cả tác động tiêu cực đối với hoạt động TMQT của các quốc gia thành viên.
AEC là một thị trường chung với quy mô rộng lớn, điều đó đã tạo điều kiện
thuận lợi cho các quốc gia thành viên mở rộng việc xuất khẩu hàng hóa ,tăng thêm
khối lượng hàng hóa được trao đổi đối với các nước trong khu vực. Cùng với đó là
việc tăng năng lực cạnh tranh cho hàng xuất khẩu của các quốc gia, vì khi tham gia
AEC, thị trường được tự do mở cửa hơn nên việc xuất khẩu hàng hóa không gặp nhiều
cản trở và khó khăn, các quốc gia đững trước sự cạnh tranh với hàng hóa từ nhiều
quốc gia khác trong nội khối. Đồng thời tham gia AEC cũng góp phần thay đổi cơ cấu
mặt hàng xuất nhập khẩu cũng như thị trường xuất nhập khẩu của một quốc gia thành
viên.
Tuy nhiên, khi tham gia AEC các quốc gia thành viên cũng đứng trước những
“bài toán khó”, những tác động tiêu cực cần có giải pháp để giải quyết triệt để. Cán
cân thương mại của các quốc gia thành viên có thể rơi vào tình trạng mất cân bằng.
Không những thế khi tham gia vào AEC thì các sản phẩm xuất khẩu của các quốc gia
sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh của hàng hóa các nước khác trong nội khối ASEAN.

Thái Lan cũng có quan điểm tương tự. Bên cạnh đó, khoảng 75% người Singapore cho
rằng việc hình thành cộng đồng sẽ giúp ASEAN trở nên cạnh tranh hơn. Tâm lý lạc
quan tương tự cũng được thể hiện ở Malaysia, Philippines, Indonesia và Thái Lan.
Chính vì tâm lý lạc quan đó nên chính phủ các nước đã có những chính sách để tận
dụng lợi thế của các quốc gia, như ở Singapore việc tham gia AEC giúp người dân
nước này có cơ hội nghề nghiệp rất lớn trong ngành dịch vụ du lịch, bởi Singapore có
nhiều kinh nghiệm hơn so với các nước trong khu vực.
Singapore hay các nước như Thái Lan, Malaysia cũng tận dụng cơ hội này để
đầu tư ra nước ngoài. Như Singapore, trong khi người Việt Nam không quan tâm thì
người Singapore đã biết tận dụng AEC để mua nhà ở Việt Nam, vì vốn dĩ giá nhà ở
Việt Nam chỉ bằng 1/7 so với giá nhà ở Singapore.
Ngoài ra, để hội nhập tốt hơn các quốc gia trong nội khối cũng đã có
những chính sách để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thu hút lao động giỏi
từ các nước trong nội khối để phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế của quốc
gia mình.
1.7.2 Bài học cho Việt Nam
Khi tham gia vào AEC Việt Nam cần chuẩn bị cho mình tâm thế thật tốt để
chuẩn bị cho việc hội nhập, tâm lý tốt sẽ là động lực để giúp Việt Nam hội nhập tốt
hơn. Thêm vào đó, Chính phủ cùng các doanh nghiệp trong nước sẽ có những chính
sách để đẩy mạnh tiến trình hội nhập. Việc thu hút nhân tài, không để xảy ra hiện
tượng “ chảy máu chất xám” cũng là một vấn đề đáng quan tâm của nhà nước khi AEC
đi vào thực thi.
Việc tiếp thu những kinh nghiệm của các nước trong nội khối và áp dụng một
cách linh hoạt vào trong điều kiện nước mình cũng là một trong những bài học quan
trọng mà Việt Nam cần áp dụng.

Sinh viên thực hiện: Đoàn Thanh Ngọc - 11132901

14


giá trị giao thương giữa Việt Nam với tất cả các quốc gia thành viên của Tổ chức liên
kết khu vực này chỉ đạt con số 22,9 tỷ USD. Trong khi đó tổng giá trị kim ngạch xuất
nhập khẩu năm 2008 là 30 tỷ USD. Như vậy năm 2009, giá trị kim ngạch xuất nhập
khẩu của Việt Nam với các quốc gia thành viên trong ASEAN giảm 24% so với năm
trước đó.
Sang giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2012, sau khủng khoảng kinh tế trong
năm 2009, thương mại hàng hóa giữa Việt Nam –ASEAN hồi phục trở lại với mức
tăng trưởng 2 con số, tốc độ tăng bình quân cả giai đoạn này đạt 19%/năm. Cụ thể
trong năm 2010, tổng giá trị kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và ASEAN
là 27,3 tỷ USD và nó đã tăng lên đến con số 38,7 tỷ USD vào năm 2012, tăng 69%
so với năm 2009.
Từ năm 2013 đến tháng 11 năm 2015, giá trị kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa
giữa Việt Nam với nội khối ASEAN tăng nhưng với tốc độ chậm hơn. Cụ thể trong
năm 2013, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 40,1 tỷ USD, tăng 3,5%; năm 2014 đạt
42,8 tỷ USD, tăng 6,9% và tính trong đến 11 tháng từ đầu năm 2015 đạt con số 39,2
tỷ USD, chỉ tăng nhẹ 0,1% so với kết quả thực hiện cùng kỳ năm trước.

Sinh viên thực hiện: Đoàn Thanh Ngọc - 11132901

17


GVHD: Nguyễn Thị Thúy Hồng
Biểu đồ 2.1: Giá trị kim ngạch xuất, nhập khẩu Việt Nam- ASEAN giai đoạn
2008- 2015
Đơn vị: Tỷ USD

Nguồn: Tổng cục Hải Quan
2.1.1.2 Xuất khẩu
Trước năm 2010, tính chung ASEAN là đối tác thương mại hàng hóa lớn nhất,

Trong giai đoạn từ 2008- 2015, Việt Nam luôn nhập siêu trong buôn bán với các
nước thành viên ASEAN, nhưng mức nhập siêu ngày càng thu hẹp lại do tốc độ tăng
xuất khẩu nhanh hơn tốc độ tăng nhập khẩu. Cụ thể, năm 2008 có thâm hụt 9.2 tỷ
USD; đến năm 2010 thâm hụt 6 tỷ USD, với tỷ lệ nhập siêu là 57%; năm 2014 thâm
hụt 4 tỷ USD, với tỷ lệ nhập siêu giảm xuống còn 20.3%. Trong 11 tháng tính từ đầu
năm 2015, do kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt 16.8 tỷ USD, giảm 6.3% và kim ngạch
nhập khẩu đạt 22.4 tỷ USD, tăng 5.5% nên mức thâm hụt thương mại là 5.6 tỷ USD,
tăng 40% so với cùng kì năm 2014 và tỷ lệ nhập siêu là 33.5%.
2.1.2 Cơ cấu mặt hàng xuất nhập khẩu của Việt Nam
2.1.2.1 Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu
Bảng 2.1 Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang thị trường ASEAN
từ năm 2008- 2015
Đơn vị: 1000USD

Xăng dầu
các loại
Sắt thép
các loại
Sản phẩm
từ sắt thép
Sản phẩm
từ chất dẻo
Phương
tiện vận tải
và phụ

Năm

Năm


9168106

1154736

1090563

861544

660342

588505

284420

595896

1129912

1372661

1502661

1485000

1210219

121080

167488


707108

949050

827000

919280

tùng

Sinh viên thực hiện: Đoàn Thanh Ngọc - 11132901

19


GVHD: Nguyễn Thị Thúy Hồng
Máy vi tính
và linh kiện
Máy móc

731637

647603

519605

637766

1468031


378550

434125

497802

178171

196972

254535

325099

346437

419567

436256

616384

1706535

1995272

1476871

1175589



243151
207080

103833

133718

195749

230000

256453

286532

305656

2385

2395

1686

1746

1875

2054


8

8

thiết bị
dụng cụ
phụ tùng
khác
Hải sản
Hàng dệt
may
Gạo

1524966

Dầu thô

2824388

Cao su
Cà phê
Các sản

63190
144380

phẩm hóa

133013
2


Nguồn: Tổng cục Thống kê
Năm 2010 là năm bản lề với tiến trình liên kết các thành viên Hiệp hội các Quốc
gia Đông Nam Á (ASEAN)-chuyển sang giai đoạn phát triển mới, hướng tới mục tiêu
hình thành Cộng đồng ASEAN (AC) vào năm 2015 dựa trên trên ba trụ cột Cộng đồng
Chính trị-An ninh (APSC), Cộng đồng Kinh tế (AEC) và Cộng đồng Văn hóa-Xã hội
(ACSC). Do đó, xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN từ năm 2008 đến nay cũng
chia thành 2 giai đoạn.
Trước năm 2010, cơ cấu mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang thị
trường ASEAN chủ lực có dầu thô và gạo, đây là 2 nhóm hàng có nhiều biến động về
giá nên kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang khu vực này chịu ảnh hưởng lớn của
giá dầu thô và gạo trên thị trường thế giới. Tổng trị giá xuất khẩu 2 nhóm hàng trên
sang thị trường ASEAN chiếm khoảng trên 50% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt
Sinh viên thực hiện: Đoàn Thanh Ngọc - 11132901

20


GVHD: Nguyễn Thị Thúy Hồng
Nam sang khu vực thị trường này. Năm 2008, tổng giá trị xuất khẩu gạo từ Việt Nam
sang ASEAN đạt mức hơn 1,5 tỷ USD, nhưng do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng
kinh tế thế giới nên đến năm 2009 con số này đã giảm đi 12,78%. Sau đó, đến năm
2010 giá trị xuất khẩu cho mặt hàng gạo của Việt Nam với các nước ASEAN đã khôi
phục trở lại và đạt đến mức hơn 1,7 tỷ USD. Với mặt hàng dầu thô, giá trị xuất khẩu
sang các nước ASEAN tuy có giảm dần từ năm 2008- 2010, tuy nhiên mặt hàng này
vẫn chiếm tỷ trọng lớn so với các mặt hàng khác xuất khẩu sang ASEAN.
Kể từ năm 2010 đến nay, mặt hàng xuất khẩu sang ASEAN rất đa dạng phong
phú. Ngoài 2 nhóm hàng truyền thống dầu thô và gạo xuất sang ASEAN thì các doanh
nghiệp ở Việt Nam còn phát triển xuất khẩu sản xuất nhiều nhóm hàng như máy vi
tính và linh kiện; sắt thép các loại, máy móc thiết bị dụng cụ & phụ tùng. Ngoài ra,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status