MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Ấn Độ là một đất nước của tôn giáo, nơi chung sống hòa hợp của hầu hết
các tôn giáo thế giới. Việt Nam không chỉ là một nước đa dân tộc, đa tôn
giáo mà còn chịu ảnh hưởng sâu sắc các tôn giáo từ Ấn Độ để tạo nên bức
tranh về tôn giáo, tín ngưỡng đa dạng và phong phú. Góp phần không nhỏ
vào bức tranh văn hóa đa dạng đó là quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa hay
nói cách khác chính là sự giao lưu tiếp biến tôn giáo.
Quá trình đó là nhu cầu tất yếu, đồng thời nó cũng là cơ sở để gắn bó
đạo - đời trong cảnh quan văn hóa xã hội Việt Nam. Các tôn giáo ngoại nhập
ở Việt Nam đã và đang hội nhập với đời sống văn hóa xã hội Việt Nam, qua
đó phát huy giá trị tốt đẹp của mình trong đời sống xã hội.
Trước đó, nhân dân Việt Nam đã xây dựng được một nền văn hóa rực
rỡ, độc đáo, có bản sắc riêng, mà hiện nay các nhà sử học và khảo cổ học gọi
là "Nền văn minh sông Hồng". Người Việt Nam vốn có một thái độ bao
dung cởi mở về văn hóa và tín ngưỡng, ít có những thành kiến Tôn giáo, sẵn
sàng chọn lọc trong những nền văn hóa bên ngoài những yếu tố làm phong
phú nền văn hóa độc đáo của họ. Người Việt Nam cũng có thể chấp nhận
những tín ngưỡng khác nhau từ bên ngoài và dung hòa chúng với tín ngưỡng
cổ truyền.
Do vậy Phật giáo đã bắt rễ dễ dàng trên mảnh đất Việt Nam với những
người nông dân Việt Nam đang đau khổ và khát vọng sự giải thoát, đã tiếp
nhận Phật giáo một cách tự nhiên và gần gũi.
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VỀ TÔN GIÁO ẤN ĐỘ
1.1 Khái quát về các tôn giáo của Ấn Độ du nhập vào Việt Nam.
Tôn giáo là niềm tin vào những cái gì được coi là siêu nhiên, thiêng
liêng hay thần thánh cũng như những đạo lý, lễ nghi và tổ chức liên quan
tộc người, của nhiều luồng văn minh. Do vậy, Việt Nam trở thành một quốc
gia đa tôn giáo, tín ngưỡng là sự hòa hợp tất yếu.
1.2 Quá trình du nhập của các tôn giáo Ấn Độ vào Việt Nam.
Với vị trí địa lý nằm ở khu vực Đông Nam Á có ba mặt giáp biển, Việt
Nam rất thuận lợi trong mối giao lưu với các nước trên thế giới và cũng là
nơi rất dễ cho việc thâm nhập các luồng văn hóa, các tôn giáo trên thế giới.
Phật giáo du nhập vào nước ta từ rất sớm, nó không chỉ ăn sâu và bám
rễ vào trong đời sống tâm linh mà còn phát triển song hành với văn hóa của
người Việt. Kể từ khi du nhập vào nước ta, Phật giáo Việt Nam được chia
thành hai phái là Tiểu thừa và Đại thừa.
Từ nửa sau thế kỷ thứ II, Luy Lâu ( Bắc Ninh) đã tồn tại như một trung
tâm Phật giáo quan trọng và phồn thịnh. Vào đầu công nguyên, Ấn Độ đã có
được sự giao thương mạnh mẽ với Trung Đông, và gián tiếp với vùng Địa
Trung Hải, do đó họ cần có một nguồn cung cấp nguyên vật liệu, vật phẩm
cho sự giao thương này. Họ giong buồm, theo gió mùa tây nam mà đi về
đông, đến Giao Chỉ, rồi có thể từ Giao Chỉ mà lại theo tiếp đường biển hay
đường bộ vào trong nội địa Trung Hoa. Trong khi đợi gió mùa đông bắc để
quay về Ấn, sự lưu trú của số thương gia này đã lan truyền dần những nét
văn hóa Ấn Độ, trong đó có việc thờ cúng Phật, tụng kinh… Những tăng sĩ
mà các thương nhân đem theo trên thuyền buôn nhằm làm công việc cầu
khấn sự phù trợ của đức Phật, là những người đã trực tiếp truyền bá Phật học
và lập nên trung tâm Phật giáo Luy Lâu.
Đến đời nhà Lý, Trần, Phật giáo phát triển cực thịnh, có ảnh hưởng đến
tất cả mọi vấn đề trong cuộc sống và được coi như Quốc giáo. Đến đời hậu
Lê thì Nho giáo được coi là Quốc giáo và Phật giáo đi vào giai đoạn suy
thoái. Nhìn chung Phật giáo vào Việt Nam trải qua bốn giai đoạn:
đặc trưng văn hóa, mặt khác nó tác động vào chính văn hóa Việt Nam mà
kết quả là Phật giáo sẽ thích ứng chọn lọc, hội nhập với nền văn hóa, được
làm phong phú và sâu sắc thêm bởi các giá trị văn hóa bản địa.
Từ khi Phật giáo du nhập vào Việt Nam, các vị tiền bối đã khai thác tính
tích cực của giáo lí để phục vụ cho việc dựng nước và giữ nước của dân tộc.
Khi Phật giáo đạt tới mức cực thịnh ở nước ta dưới triều Lý, các vua nhà Lý
đã lấy đạo Phật làm quốc đạo. Tôn người đạo cao đức trọng nhất trong Giáo
hội làm Quốc sư để vấn kế hưng nước, an dân.
Do Phật giáo không phải là thuần tín ngưỡng mà là tôn giáo lý trí cho
nên viêc nghiên cứu Phật giáo có thể soi sáng cho ngành Phật học trên hành
trình tìm chân lý. Với luật nhân quả của đạo Phật đã trở thành nếp sống tín
ngưỡng của người Việt Nam: biết lựa chọn ăn ở hiền lành và nghiệp có thể
thay đổi nen phải tự biết sủa chữa và tu dưỡng.
Đạo Phật đến với con người qua những lời dạy thiết thực gắn liền với
hành vi cử chỉ của mỗi con người, những mối quan hệ giữa con người với
con người, giữa con người với xã hội trong bất kì tình huống nào cũng phải “
làm chủ” trước những đột biến của nội tâm và ngoại cảnh. Do vậy, người
Việt Nam luôn dám sống là chính mình, luôn làm chủ được hoàn cảnh sau
khi vấp ngã, chịu trách nhiệm với chính cuộc sống
Đạo lý ảnh hưởng nhất là giáo lý từ bi, tinh thần hiếu hòa. Trong đối
nhân xử thế hằng ngày, người Việt vẫn luôn tâm niệm“ thương người như
thể thương thân”, luôn trọng nghĩa tình, xem nó lên trên hết “ vì tình vì
nghĩa ai vì đĩa xôi đầy”. Chữ “tình” chiếm một vị trí quan trọng trong đời
sống đạo đức của người dân Việt Nam… Không chỉ giới hạn trong tình cảm
gia đình, hàng xóm mà còn đối với cả kẻ thù . Trong lịch sử đã không ít
trường hợp với những tù binh chiến tranh, luôn được đối xử tử tế, được mở
đường hiếu sinh, được cấp đầy đủ quân lương khi về nước. Tinh thần thương
người của dân tộc Việt Nam còn được nâng lên thành những chuẩn tắc trong
đất và không) đâu đâu cũng có thần.
Chúng ta đều biết, Bàlamôn giáo là tôn giáo phân biệt đẳng cấp khắc
nghiệt, cơ sở giáo lí nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi cho tầng lớp tăng lữ.
Khi vào Chămpa, tư tưởng này đã là công cụ thống trị của các triều đại
Chămpa để bảo vệ cho giai cấp quý tộc. Về sau, sự phận biệt đẳng cấp dần
dần mất đi cùng với vương quyền và thần quyền. Nhưng trong nghi lễ tang
ma quan niệm ấy vẫn còn rõ nét, đó là sự quy định các loại lễ tang dành cho
các dòng tộc theo đẳng cấp từ xa xưa.
Về luân lý, Ấn Độ giáo quy định con người phải chịu 3 trọng ân: ơn trời,
ơn thầy, ơn tổ tiên. Trong tâm linh của người Việt luôn đề cao truyền thống
uống nước nhớ nguồn, thờ cúng tổ tiên, tưởng nhớ ơn sinh thành, nuôi
dưỡng của ông bà, cha mẹ “ Ơn cha như núi Thái Sơn – Nghĩa mẹ như nước
trong nguồn chảy ra” và đặc biệt trong tư tưởng của người Việt vai trò của
người thầy, người cô luôn được coi trọng “ nhất tự vi sư, bán tự vi sư”. Điều
này rất phù hợp và hài hòa trong lối nghĩ, tư tưởng và đạo lý của người dân
Việt Nam.
Ấn Độ giáo được biết đến là tôn giáo đa thần nên tác động của nó đối
với văn hóa Việt Nam còn được biểu hiện nhiều trong kiến trúc, phong tục
tập quán, trong sinh hoạt vật chất và tinh thần cùng với sự biến đổi của văn
hóa bản địa tạo nên những điểm nhấn trong đời sống xã hội của người Việt.
2.1.2 Ảnh hưởng của tôn giáo Ấn Độ qua phong tục, tập quán của người
Việt.
Phong tục, tập quán là biểu hiện đặc thù và nét đặc sắc văn hóa của mỗi
dân tộc, thông qua đó việc tìm hiểu về phong tục tập quán càng làm rõ nết
đặc sắc mang bản chất truyền thống của các dân tộc. Đối với người Việt
Nam phong tục tập quán chịu ảnh hưởng khá nhiều từ Phật giáo như Lễ hội
Chùa. Từ lâu, những ngôi chùa đã trở nên quen thuộc, trở thành một phần
nguyên tắc “ trong chay, ngoài bội” – bên trong tung kinh cầu quốc thời dân
an, siêu độ cô hồn tử sĩ, bên ngoài có hát tuồng sân khấu do chính các nhà sư
đóng tuồng chứ không phải nghệ sĩ…Các vị Phật Ấn Độ xuất thân là nam
giới, khi vào Việt Nam bị biến thành "Phật ông - Phật bà" do tính tổng hợp,
hài hòa âm dương - một trong những đặc tính khác của lối tư duy nông
nghiệp, nó ảnh hưởng rất lớn đến Phật giáo Việt Nam làm cho Phật giáo
Việt Nam có phần thiên về nữ tính.
Chính vì vây, thay vì tiếp nhận những phong tục nguyên mẫu, nguời
Việt đã dần biến đổi để phù hợp với tín ngưỡng bản địa. Do vậy, những triết
lý Phật giáo không còn biên giới cho ý thức giai cấp, chính trị…Đó là điều
kiện tốt nhất để góp phần cho phong tục tập quán dân gian trong đời sống
văn hóa xã hội ngày một bền vững và tốt đẹp hơn.
Trong dòng chảy của quá trình giao lưu tiếp biến, đạo Bàlamôn cũng đã
có những ảnh hưởng tới phong tục tập quán của người Việt.
Theo thống kê của ban tuyên giáo chính phủ năm 2004 cả nước cố gần
40000 tín đồ Bàlamôn, trong đó chủ yếu các tín đồ là người Chăm. Cho nên
những ảnh hưởng của tôn giáo này phần nhiều là với người Chăm.
Một số tập tục nghi lễ đặc trưng mà người Chăm có ảnh hưởng từ đạo
Bàlamôn như tục cưới hỏi, tục ma chay… Trong đạo Bàlamôn chia làm hai
phái: phái thiêu và phái chôn, nhưng người theo phái chôn rất ít, không đáng
kể. Trong lễ hỏa táng của người Chăm, họ quan niệm rằng khi người ta chết
phải làm lễ hỏa táng để linh hồn người chết được siêu thoát lên thiên đàng.
Ngược lại nếu người chết không được thiêu thì linh hồn người chết sẽ không
siêu thoát, đưa đến việc linh hồn người quá cố sẽ bắt tất cả người thân trong
dòng tộc của họ, cho nên người Chăm Bàlamôn rất coi trọng tục hỏa táng
với rất nhiều lễ nghi phức tạp và có sự khác nhau giữa đám tang của các tầng
lớp trong xã hội do ảnh hưởng chế độ đẳng cấp của Ấn Độ. Ngoài ra tục hoả
táng còn quy định Tục còn quy định khi người bệnh hấp hối, sắp chết, tất cả
trúc, điêu khắc và thơ văn , còn đạo Bàlamôn thì có ảnh hưởng chủ yếu tới
kiến trúc của người Chăm.
Phật giáo vào Việt Nam từ đầu công nguyên biến đổi để phù hợp với
văn hóa bản địa với trung tâm Luy Lâu - bảo tàng Phật giáo của Việt Nam
với vô số các công trình nghệ thuật mang phong cách phật giáo. Ví dụ : thời
Lý Nam Đế , ngôi chùa Khai Quốc được xây dựng đã cho thấy vị trí của
Phật Giáo trong đời sống xã hội.
Cùng với thời gian, Phật giáo ngày càng thâm nhập sâu và có vai trò to
lờn trong văn hóa Đại Việt thời Lý – Trần: chùa chiền được xây dựng khắp
nơi. Triều Lý đã cho xây dựng 950 ngôi chùa và 84000 tòa Bảo tháp. Thời
Lý – Trần đã tạo nên An Nam tứ đại khí: chuông Quy Điền, Tháp Báo
Thiên, tượng Phật chùa Quỳnh Lâm, vạc đồng chùa Phổ Minh…
Về kiến trúc. Thế giới biết đến kiến trúc của Ấn Độ là các tháp, mộ với
lối kiến trúc theo chiều cao, không phải theo dạng thức nhà ở - không có
khoảng không gian bên trong kiến trúc này. Sau khi vào Việt Nam thì lại
phát triển theo kiểu "kiến trúc nhà" .
Chùa, Tháp vẫn là một trong những công trình kiến trúc có giá trị văn
hóa truyền thống dân gian khá đậm nét. Chùa, Tháp cũng là những kiến trúc
nhằm thõa mãn nhu cầu Tôn giáo của Phật giáo. Do vậy,những ý tưởng triết
lý Tôn giáo nhà Phật đã trở thành yếu tố chủ đạo của kiến trúc Chùa, Tháp.
Như Chùa Một Cột là một tác phẩm nghệ thuật, một công trình kiến trúc
phản ảnh triết lý tổng hợp của Phật giáo Việt Nam. Phật giáo với địêu khắc
truyền thống dân gian Việt Nam :
Điêu khắc mang những giá trị tinh thần để tưởng niệm, để giáo dục tinh
thần công dân. Tất cả các tượng đều biểu hiện hoặc là một thứ đạo đức hoặc
tình cảm Tôn giáo cố gắng làm nổi bật sự trầm tĩnh và cao cả của tâm linh từ
trong sự lương thiện. Điêu khắc Phật giáo đã đạt đến sự hòa nhã tĩnh mặc,
Độ giáo. Và hiện nay đang còn rất nhiều các công trình đền tháp mang đậm
dấu ấn của tôn giáo Ấn Độ như: Tháp PoKlongRai ở Ninh Thuận, cum tháp
Mỹ sơn, tháp PoNaGa Nha Trang . Nói đến kiến trúc đền tháp Chăm Pa,
hiện nay đang còn lưu giữ 19 khu đền tháp với 40 kiến trúc lớn nhỏ trên dãi
đất miền Trung, Tây Nguyên ngày nay, hệ thống kiến trúc đền tháp Chăm Pa
chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của tôn giáo Ấn Độ. Đa số các khu đền tháp đều
mang hình núi Mêru( còn gọi là núi vàng nằm ở dãy HymaLaya thu nhỏ)
theo như quan niệm của người theo Ấn Độ giáo thì các vị thần luôn ngự ở
trung tâm thế giới trên núi Mêru, nên đền thờ vàng ở hạ giới phải thể hiện
như núi vũ trụ Mêru.,không những thế kiến trúc đền tháp Chăm còn màng
bố cục đậm nét của Ấn Độ giáo. Khi xây các đền tháp người Chăm luôn
hướng các đền tháp trong cụm vào tâm, các trục quay ra bốn hướng, hướng
mặt tiền quay về hướng đông phương mặt trời mọc, nơi nguồn gốc của sự
sống. Hiện nay cụm tháp cổ thể hiện nguyên vẹn được bố cục đó phải nói
đền tháp Chăm PoKlongRai ở Ninh Thuận, cụm tháp ở Mỹ Sơn. Đa số các
cụm tháp được phân bố theo bố cục,ở trung tâm là một ngọn đền(Kalan), và
xung quanh được bao quanh bởi những ngọn tháp nhỏ hoặc những công
trình phụ, chính ngôi đền chính đó chính là tượng trưng cho ngọn núi Mêru
trung tâm của vũ trụ của thần linh, đó chính là màu sắc của tôn giáo Ấn Độ.
Kiến trúc Chăm Pa được thể hiện qua các tháp Chăm thờ các vị thần
Ấn Độ giáo và các vị vua Chăm được hóa thần còn sót lại cũng như dấu tích
của các tòa thành cổ, tu viện phật giáo thời Indrapura. Về phong cách kiến
trúc điêu khắc các tháp được các nhà nghiên cứu thường chia ra làm nhiều
thời kỳ, mỗi một thời kỳ có những thay đổi khác nhau, dấu dấn riêng biệt
của người Chăm là kỹ thuật làm gạch kết dính để xây tháp và chạm trổ trên
đá.
Cùng với nền điêu khắc của người Khmer và người Java, nền điêu khắc
Chăm Pa là một trong ba nền điêu khắc chịu ảnh hưởng của Ấn Độ đạt tới
Nhiều người quá lạm dụng yếu tố mê tín gây tốn tiền của cúng bái, lễ lạt.
Thậm chí nhiều người còn quá cả tin dẫn đến bị lợi dụng mât tiền mất của.
Nhiều người thì thụ động cho rằng con người đã có số mạng định trước thì
còn phấn đấu làm gì cho mệt. Như thế thì chẳng khác nào Phật giáo đã làm
con người ta mất đi động lực sinh tồn, xã hội không thể tiến lên được với
những người như thế.
Một bộ phận lại cho rằng chăm cúng bái có thể giải được những tội lỗi
họ đã gây ra cho xã hội. Có thể thấy rõ tâm lý này qua vụ án PMU tai tiếng
đang khiến dư luận rất bức xúc hiện nay. Hai chủ mưu chủ yếu của vụ này là
Bùi Tiến Dũng và nguyên thứ trưởng Nguyễn Việt Tiến là những người hết
sức mê tín. Họ cho dựng cả một bức tượng Quan Âm bồ tát hành trăm triệu
đồng, tu bổ chùa chiền, lễ bái tốn kém.
Với đạo Bàlamôn, ảnh hưởng của nó chủ yếu là trong các tập tục, tập
quán, tín ngưỡng còn mang tính lạc hậu, quan niệm không xuất phát từ thực
tế. Một số tập tuc mang tính khắt khe, giáo điều như quan niệm về sự giải
thoát, sự trưởng thành, quan niệm về sinh con…
CHƯƠNG III : KẾT LUẬN
Quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa là quá trình tất yếu của nhân loại,
trong đó tôn giáo góp phần quan trọng trong quá trình đó. Giá trị lớn nhất
của đạo đức tôn giáo là góp phần duy trì đạo đức xã hội, hoàn thiện nhân
cách cá nhân, hướng con người đến Chân - Thiện - Mỹ. Tuy nhiên, đạo đức
tôn giáo cũng còn nhiều yếu tố tiêu cực, nó hướng con người đến hạnh phúc
hư ảo và làm mất tính chủ động, sáng tạo của con người. Vấn đề đặt ra là,
cần nhận điện đúng vai trò của đạo đức tôn giáo, biết kế thừa và chọn lọc
những tinh hoa, song phải phù hợp nhằm phát huy những giá trị tốt đẹp của
tôn giáo và hạn chế những tác động tiêu cực của nó đối với việc hoàn thiện