Tội không chấp hành án theo luật hình sự việt nam - Pdf 39

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ THU HUYỀN

Téi kh«ng chÊp hµnh ¸n
theo LuËt h×nh sù ViÖt Nam

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2016


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ THU HUYỀN

Téi kh«ng chÊp hµnh ¸n
theo LuËt h×nh sù ViÖt Nam
Chuyên ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN NGỌC CHÍ

HÀ NỘI - 2016


LỜI CAM ĐOAN


Khái niệm Tội không chấp hành án .................................................. 10

1.1.2.

Một số đặc điểm của Tội không chấp hành án .................................. 15

1.2.

SỰ CẦN THIẾT VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC QUI ĐỊNH TỘI
KHÔNG CHẤP HÀNH ÁN TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM ... 21

1.2.1.

Sự cần thiết của việc qui định Tội không chấp hành án trong
Luật hình sự Việt nam ..................................................................... 21

1.2.2.

Ý nghĩa của việc qui định Tội không chấp hành án trong luật hình sự .. 22

1.3.

LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN TỘI KHÔNG CHẤP HÀNH ÁN
THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ NĂM 1945 ĐẾN NAY ... 23

1.3.1.

Tội không chấp hành án trƣớc khi có Bộ Luật hình sự 1985 .......... 23


Mặt chủ quan ................................................................................... 44

2.1.5.

Phân biệt Tội không chấp hành án với một số tội phạm khác có
liên quan ........................................................................................... 46

2.2.

HÌNH PHẠT VÀ CÁC BIỆN PHÁP TƢ PHÁP ............................ 53

2.2.1.

Hình phạt.......................................................................................... 53

2.2.2.

Các biện pháp tƣ pháp ..................................................................... 56

Chương 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG
CAO HIỆU QUẢ XỬ LÝ TỘI KHÔNG CHẤP HÀNH ÁN ..........58
3.1.

THỰC TRẠNG XỬ LÝ TỘI KHÔNG CHẤP HÀNH ÁN ............ 58

3.2.

CƠ SỞ CỦA CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ XỬ
LÝ TỘI KHÔNG CHẤP HÀNH ÁN .............................................. 68



Tăng cƣờng công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật ......... 78

3.4.2.

Đẩy mạnh công tác hƣớng dẫn và áp dụng pháp luật...................... 78

3.4.3.

Kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao chất lƣợng của đội ngũ cán
bộ thuộc các cơ quan tƣ pháp .......................................................... 79


3.4.4.

Tăng cƣờng sự phối hợp giữa các cơ quan có liên quan đến việc
giải quyết các vụ án ......................................................................... 81

3.4.5.

Tăng cƣờng công tác kiểm tra, giám sát đối với các hoạt động
tƣ pháp, các cơ quan tƣ pháp và cán bộ thuộc cơ quan tƣ pháp ...... 81

3.4.6.

Xây dựng án lệ ................................................................................. 83

3.4.7.

Tăng cƣờng sự lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan tƣ pháp ........ 84

Tên bảng

Trang

Bảng 2.1: Thống kê khung hình phạt tù có thời hạn Điều 304
BLHS 1999

55

Bảng 3.1: Số liệu tình hình xét xử tội phạm trên toàn quốc từ năm
2011-2015

63

Bảng 3.2: Số liệu các vụ án xâm phạm hoạt động tƣ pháp đã bị khởi
tố, điều tra, truy tố, xét xử trong 05 năm 2011 -2015

64

Bảng 3.3:

Số liệu các vụ án Tội không chấp hành án đã bị khởi tố,
xét xử 05 năm 2011 -2015

65


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong hệ thống các cơ quan nhà nƣớc, các cơ quan tƣ pháp giữ vị trí

án là giai đoạn cuối cùng của quá trình giải quyết một vụ án, chấp hành bản
án, quyết định của tòa án có mối quan hệ hữu cơ với giai đoạn khởi tố, điều
tra, truy tố, xét xử. Nếu việc chấp hành bản án không đƣợc thực thi thì toàn bộ
hoạt động của cơ quan điều tra, truy tố, xét xử trƣớc đó cũng trở nên vô nghĩa.
Nếu nhƣ một bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật không đƣợc
chấp hành hoặc chấp hành không nghiêm thì trật tự kỷ cƣơng xã hội bị vi
phạm, quyền lực Nhà nƣớc bị xem thƣờng. Chính vì vậy, việc bảo đảm hiệu
lực của các bản án, quyết định của Tòa án là một yêu cầu khách quan trong
hoạt động quản lý Nhà nƣớc.
Tội không chấp hành án đƣợc quy định trong chƣơng các tội xâm phạm
hoạt động tƣ pháp (Điều 304) của Bộ luật hình sự năm 1999. Hành vi không
chấp hành án là hành vi xâm hại đến hoạt động đúng đắn của các cơ quan tƣ
pháp. Chính vì vậy, Tội không chấp hành án đã gây những tổn hại không nhỏ
đến việc thực hiện chức năng và uy tín của các cơ quan tƣ pháp.
Hiện nay, tình hình tội phạm nói chung và Tội không chấp hành bản án
nói riêng đang ngày càng diễn biến phức tạp. Đặc biệt là Tội không chấp hành
bản án đang có chiều hƣớng gia tăng, điều này đã gây bức xúc trong dƣ luận.
Thực tiễn cho thấy nhiều tổ chức, cá nhân vì chạy theo lợi nhuận đã thực hiện
hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng về việc không chấp hành án. Những
hành vi này cần bị xử lý hình sự để răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung, đáp
ứng yêu cầu phòng ngừa và đấu tranh đối với tội phạm nói chung và Tội
không chấp hành án nói riêng.
Mặc dù đã đƣợc quy định thành một điều luật riêng (Điều 304) tại Bộ
luật Hình sự năm 1999, điều này đã tạo cơ sở pháp lý cho các cơ quan tiến

2


hành tố tụng trong việc áp dụng pháp luật đối với loại tội phạm này, nhƣng
trên thực tiễn thi hành đã chỉ ra, bên cạnh mặt tích cực còn bộc lộ những hạn

bị áp dụng biện pháp cƣỡng chế cần thiết'' (hiện tại toàn bộ chƣơng các tội
xâm phạm hoạt động tƣ pháp trong đó có tội danh không chấp hành án của Bộ
luật hình sự đều chƣa có hƣớng dẫn) nên khó cho các cơ quan tố tụng trong
việc khởi tố, truy tố, điều tra và xét xử.
Sự phát triển, bổ sung và đề cao quyền con ngƣời, quyền cơ bản của
công dân trong Hiến pháp 2013 đặt ra yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện các
quy định của Bộ luật hình sự hiện hành. Quyền con ngƣời cần đƣợc bảo đảm
thông qua hệ thống các cơ quan tƣ pháp nhƣ quyền làm chủ, quyền bảo vệ tài
sản, quyền đƣợc bảo đảm về tính mạng, danh dự, nhân phẩm...đƣợc thông qua
hệ thống các cơ quan tƣ pháp
Việc chấp hành bản án là giai đoạn cuối cùng của quá trình giải quyết
một vụ án, chấp hành bản án, quyết định của tòa án có mối quan hệ hữu cơ
với giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử. Nếu việc chấp hành bản án
không đƣợc thực thi thì toàn bộ hoạt động của cơ quan điều tra, truy tố, xét xử
trƣớc đó cũng trở nên vô nghĩa. Nếu nhƣ một bản án, quyết định của Tòa án
có hiệu lực pháp luật không đƣợc chấp hành hoặc chấp hành không nghiêm
thì trật tự kỷ cƣơng xã hội bị vi phạm, quyền lực Nhà nƣớc bị xem thƣờng.
Chính vì vậy, việc bảo đảm hiệu lực của các bản án, quyết định của Tòa án là
một yêu cầu khách quan trong hoạt động quản lý Nhà nƣớc.
Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật hình sự và nâng
cao hiệu quả áp dụng xử lý Tội không chấp hành án là cần thiết nên tác giả
chọn đề tài “Tội không chấp hành án theo Luật hình sự Việt Nam” làm
luận văn thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu
Do Tội không chấp hành án có vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ
các hoạt động của các cơ quan tƣ pháp, đồng thời là điều kiện cần thiết để

4




Các tác giả chủ yếu đề cập đến trách nhiệm hình sự, tìm hiểu và bình
luận về các tội xâm phạm hoạt động tƣ pháp trong Luật Hình sự Việt Nam,
đảm bảo quyền con ngƣời trong hoạt động tƣ pháp ở Việt Nam trong giai
đoạn hiện nay, hoặc nghiên cứu các tội xâm phạm hoạt động tƣ pháp với tƣ
cách là đối tƣợng hoạt động của Viện Kiểm sát nhân dân, chƣa có công trình
khoa học nào nghiên cứu sâu về riêng Tội không chấp án theo quy định của
luật hình sự Việt Nam.
Nhƣ vậy, tình hình nghiên cứu trên đây lại một lần nữa cho phép khẳng
định việc nghiên cứu đề tài "Tội không chấp hành án theo luật hình sự Việt
Nam” là đòi hỏi khách quan, cấp thiết, vừa có tính lý luận, vừa có tính thực tiễn.
3. Đối tượng, mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những yếu tố cơ bản của Tội không chấp hành
án, qua đó thấy đƣợc những tồn tại, hạn chế và rút ra phƣơng pháp đúng đắn
thiết yếu trong đấu tranh phòng chống tội phạm không chấp hành án. Đồng
thời cho ta thấy đƣợc tình hình diễn biến của loại tội phạm này và có biện
pháp đúng đắn để ngăn chặn và đi đến đẩy lùi tội phạm. Qua đó thấy đƣợc
việc đấu tranh phòng chống tội phạm là trách nhiệm của toàn xã hội, cần có
sự phối hợp của các cơ quan, ban ngành nhằm tạo nên sức mạnh để đẩy lùi tội
phạm này góp phần giữ vững an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội. Tạo sự
tin tƣởng của nhân dân đối với hệ thống các cơ quan tƣ pháp.
3.2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn này nghiên cứu các quy định của pháp luật về Tội
không chấp hành án dƣới khía cạnh lập pháp hình sự và áp dụng chúng trong
thực tiễn, từ đó luận văn đƣa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định
về Tội không chấp hành án trong luật hình sự Việt Nam, cũng nhƣ đề xuất
những giải pháp nâng cao hiệu quả của tội này trong thực tiễn áp dụng.

6

7


4. Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu
Đề tài đƣợc thực hiện trên cơ sở phƣơng pháp luận chủ nghĩa duy vật
lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng Mác-Xít, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về
Nhà nƣớc và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc ta về xây dựng Nhà
nƣớc pháp quyền, về chính sách hình sự, về vấn đề cải cách tƣ pháp đƣợc thể
hiện trong các Nghị quyết Đại hội Đảng VIII, IX, X và các Nghị quyết số 08NQ/TW ngày 02/01/2002, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 26/5/2005 về
Chiến lƣợc cải cách tƣ pháp đến năm 2020 của Bộ Chính trị.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, luận văn đã sử dụng các phƣơng
pháp cụ thể và đặc thù của khoa học luật hình sự nhƣ: phƣơng pháp phân tích
và tổng hợp; phƣơng pháp so sánh, đối chiếu; phƣơng pháp diễn dịch; phƣơng
pháp quy nạp; phƣơng pháp thống kê, điều tra xã hội học để tổng hợp các tri
thức khoa học luật hình sự và luận chứng các vấn đề tƣơng ứng đƣợc nghiên
cứu trong luận văn.
5. Những điểm mới và đóng góp của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa quan trọng về phƣơng diện
lý luận và thực tiễn, vì đây là công trình nghiên cứu đầu tiên và có hệ thống ở
cấp độ một luận văn thạc sĩ luật học về Tội không chấp hành án, mà trong đó
giải quyết nhiều vấn đề quan trọng về lý luận và thực tiễn liên quan tới Tội
không chấp hành án trong luật hình sự Việt Nam. Những điểm mới cơ bản
của luận văn là:
- Tổng hợp các quan điểm khoa học trong nƣớc về Tội không chấp
hành án để xây dựng nên khái niệm Tội không chấp hành án, bảo đảm tính
chính xác, khoa học, đồng thời chỉ ra các đặc điểm cơ bản của tội không chấp
hành bản án trong mối tƣơng quan so sánh với một số chế định khác;
- Nghiên cứu chỉ ra những đặc điểm chủ yếu của quá trình hình thành
và phát triển của Tội không chấp hành án trong luật hình sự Việt Nam từ năm
1945 cho đến nay;

trong luật hình sự, là sơ sở cho việc xác định một hành vi có phải là tội phạm
hay không. Đã có nhiều định nghĩa khoa học về tội phạm ở những cách tiếp
cận và quan điểm khác nhau” [23]. Khái niệm tội phạm đƣợc hình thành
trong quá trình phát triển, hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam. Trong Bộ
luật hình sự năm 1985, khái niệm này đã phản ánh một cách khá đầy đủ các
quy định về tội phạm và xác định cụ thể hành vi nào là tội phạm. Tuy nhiên
do sự phát triển của xã hội khái niệm tội phạm cũng đƣợc sửa đổi cho phù
hợp với hoàn cảnh thực tế, trên cơ sở kế thừa và phát huy những nguyên tắc,
chế định hình sự pháp luật của nƣớc ta, Bộ luật hình sự 1999 đã sửa đổi khái
niệm về tội phạm có tính khoa học thể hiện tập trung nhất quan điểm của Nhà
nƣớc ta về tội phạm.
Tội không chấp hành án là một trong các tội xâm phạm hoạt động tƣ
pháp. Hiện nay, pháp luật Việt Nam chƣa có quy định nào định nghĩa hoặc
hƣớng dẫn chính thức về khái niệm “Hoạt động tƣ pháp”, mà tồn tại nhiều
quan điểm khác nhau.
Quan điểm thứ nhất cho rằng hoạt động tƣ pháp bao gồm hoạt động của
các cơ quan tiến hành tố tụng nhƣ Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án;
của những ngƣời tiến hành tố tụng nhƣ Thủ trƣởng Cơ quan điều tra, Điều tra
viên, Viện trƣởng, Phó thủ trƣởng Cơ quan Cơ quan điều tra, Điều tra viên,

10


Viện trƣởng, Phó viện trƣởng Viện kiểm sát, kiểm sát viên; Chánh án, Phó
Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm và Thƣ ký Tòa án.
Quan điểm thứ hai cho rằng hoạt động tƣ pháp còn bao gồm các chủ
thể đƣợc giao tiến hành một số hoạt động tố tụng nhƣ: Hải quan, Kiểm lâm,
Bộ đội Biên phòng, Kiểm sát biển; Cơ quan thi hành án (dân sự và hình sự).
Quan điểm thứ ba cho rằng, khái niệm hoạt động tƣ pháp phải hiểu theo
nghĩa rộng, bao gồm ba dạng hoạt động: hoạt động tƣ pháp trong lĩnh vực tố

pháp (Giám định, Luật sƣ, Công chứng, Hộ tịch, Tƣ vấn pháp luật...) đều
nhằm phục vụ cho quá trình làm sáng tỏ chân lý, tìm ra sự thật của các vụ
việc đã diễn ra trên thực tế, để trên cơ sở đó, Tòa án đƣa ra phán quyết theo
qui định của pháp luật. Kết thúc giai đoạn xét xử, Tòa án quyết định những
vấn đề thuộc về nội dung vụ án, xác định trách nhiệm pháp lý và chế tài thích
hợp cho từng đối tƣợng cụ thể, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà
nƣớc, cơ quan, tổ chức và của công dân. Các bản án và quyết định xét xử của
Tòa án không những nhân danh Nhà nƣớc mà còn thể hiện quyền lực tối cao
của pháp quyền có hiệu lực thi hành, Điều 106 của Hiến pháp 2013 đã nêu rõ:
"Bản án, quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ
quan nhà nước, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu
quan phải nghiêm chỉnh chấp hành" [37, Điều 106]. Vì vậy, các bản án và
quyết định của Tòa án phải đƣợc nghiêm chỉnh chấp hành thì lúc đó kết quả
của các cơ quan tiến hành tố tụng mới đƣợc thực thi trên thực tế.
Hoạt động tƣ pháp là hoạt động của các Cơ quan điều tra, Viện kiểm
sát, Toà án và Cơ quan thi hành án trong việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử
và thi hành án đối với các vụ án hình sự, dân sự, kinh tế, lao động và giải
quyết các quan hệ pháp luật khác đƣợc phát sinh theo quy định của pháp luật,
nhằm bảo vệ các quyền của Nhà nƣớc, của các tổ chức, của công dân. Hoạt
động tƣ pháp là hoạt động quyền lực Nhà nƣớc do các cơ quan tƣ pháp thực
hiện. Các hoạt động này do ngƣời đại diện của các cơ quan tƣ pháp nhân danh
Nhà nƣớc trực tiếp thực hiện theo chức danh đƣợc bổ nhiệm.
12


Nhƣ vậy, theo qui định của BLHS 1999, hoạt động tƣ pháp là hoạt
động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án, do đó xâm phạm đến sự đúng đắn
của các hoạt động này đƣợc coi là hành vi nguy hiểm cho xã hội đến mức
phải xử lý bằng chế tài hình sự.
Chủ thể của các tội xâm phạm hoạt động tƣ pháp chủ yếu là cán bộ

ngƣời bị giam, giữ trốn, không chấp hành án.
Tội không chấp hành án là một trong các tội xâm phạm hoạt động tƣ
pháp, nên nó cũng xâm hại đến khách thể loại của nhóm tội phạm này là sự
đúng đắn trong hoạt động tƣ pháp, bao gồm hoạt động điều tra, truy tố, xét xử
và thi hành án. Tội không chấp hành án hành án có mối liên hệ logic với các
tội phạm khác trong chƣơng các tội xâm phạm hoạt động tƣ pháp, tạo thành
một tổng thể hoàn chỉnh trừng trị những hành vi xâm phạm đến tính đúng đắn
trong quá tình giải quyết vụ án.
Từ những phân tích trên cho thấy, có thể đƣa ra khái niệm không chấp
hành án nhƣ sau: không chấp hành án là hành vi của những người có khả
năng, điều kiện để chấp hành án nhưng cố ý không chấp hành bản án, quyết
định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật đối với họ.
Qua khái niệm không chấp hành án cho thấy đó chính là hành vi không
chấp hành bản án, quyết định của tòa án mà bản án và quyết định của tòa án là
kết quả hoạt động tƣ pháp trong việc giải quyết các vụ án. Nhƣng đó chƣa
phải là kết quả cuối cùng của hoạt động tƣ pháp. Bản án cũng nhƣ các quyết
định của tòa án chỉ có ý nghĩa thực sự khi đƣợc chấp hành. Hành vi cố ý
không chấp hành bản án hoặc quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật
không chỉ trực tiếp xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan thi hành án
mà còn vô hiệu hóa kết quả của các hoạt động tƣ pháp đã đƣợc thực hiện.
Từ khái niệm trên cho thấy hành vi không chấp hành án chính là không
chấp hành bản án. Về mặt lý luận cho đến nay chƣa có tác giả nào đề cập một
cách toàn diện về nội hàm của khái niệm bản án, quyết định của Tòa án, vì có

14


thể mọi ngƣời quan niệm pháp luật quy định về vấn đề này khá rõ ràng. Tuy
nhiên, trong thực tiễn pháp lý, khái niệm bản án, quyết định của Tòa án đôi
khi có những quan điểm khác nhau từ phía những ngƣời tiến hành và tham gia

ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm
tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích
hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp
luật xã hội chủ nghĩa [30, Điều 8].
Từ định nghĩa này có thể định nghĩa khái quát tội phạm nhƣ sau: Tội
phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật hình sự và phải
chịu hình phạt.
Điều 304 quy định tội Không chấp hành án thuộc Chƣơng XXII các tội
xâm phạm hoạt động tƣ pháp BLHS 1999 nhƣ sau: “Người nào cố ý không
chấp hành bản án hoặc quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật mặc
dù đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết, thì bị phạt cải tạo không
giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm” [30, Điều 304].
Cũng giống nhƣ các tội phạm khác, Tội không chấp hành án là hành vi
nguy hiểm cho xã hội đƣợc quy định trong Bộ luật hình sự, do ngƣời có năng
lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý. Tuy nhiên, so với các loại
tội phạm khác, Tội không chấp hành án có những đặc điểm riêng nhƣ sau:
Thứ nhất, Tính nguy hiểm cho xã hội
Không chấp hành án là hành vi nguy hiểm cho xã hội cần phải đƣợc
hình sự hóa. Tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi là dấu hiệu cơ bản nói lên
bản chất chính trị, xã hội của tội phạm, dấu hiệu này đƣợc coi là dấu hiệu nội
dung quyết định những dấu hiệu khác của tội phạm. Một hành vi sở dĩ bị quy
định trong luật hình sự là tội phạm và phải chịu TNHS vì nó có tính nguy
hiểm cho xã hội do đã gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho các
quan hệ xã hội đƣợc luật hình sự bảo vệ. Tầm quan trọng của quan hệ xã hội
do tính chất của quan hệ đó trong các thang giá trị xã hội do giai cấp thống trị

16


thiết lập. Do đó, tính chất của quan hệ xã hội có thể bị thay đổi ở những xã


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status