ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐẶNG HỮU ANH
TỘI NHẬN HỐI LỘ
THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2016
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐẶNG HỮU ANH
TỘI NHẬN HỐI LỘ
THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số
: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Tất Viễn
Chương 1:
LÝ LUẬN VỀ TỘI NHẬN HỐI LỘ THEO LUẬT HÌNH
5
SỰ VIỆT NAM
1.1.
Khái niệm về tội nhận hối lộ
5
1.2.
Đặc điểm pháp lý của tội nhận hối lộ
7
1.3.
Ý nghĩa của việc nghiên cứu tội nhận hối lộ
8
1.4.
Lịch sử hình thành các quy định về tội nhận hối lộ trong pháp
HÌNH SỰ VIỆT NAM
2.1.
Các dấu hiệu pháp lý cấu thành tội nhận hối lộ
21
2.1.1
Dấu hiệu về mặt chủ thể của tội nhận hối lộ
21
2.1.2. Dấu hiệu về mặt khách quan của tội nhận hối lộ
25
2.1.3. Dấu hiệu về mặt khách thể của tội nhận hối lộ
31
2.1.4. Dấu hiệu về mặt chủ quan của tội nhận hối lộ
34
4
2.2.
57
So sánh tội nhận hối lộ với một số tội phạm về tham nhũng
khác trong Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành
2.3.1. So sánh tội nhận hối lộ với tội tham ô tài sản
58
2.3.2. So sánh tội nhận hối lộ với tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn
59
chiếm đoạt tài sản
2.3.3. So sánh tội nhận hối lộ với tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn
59
gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi
Chương 3:
THỰC TRẠNG, THỰC TIỄN XÉT XỬ VÀ CÁC GIẢI
61
PHÁP ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG TỘI NHẬN HỐI
LỘ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
3.1.
79
3.3.5. Những bất cập trong quy định của pháp luật hình sự về tội
81
nhận hối lộ
5
3.4.
Các giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật và đấu
81
tranh phòng chống tội nhận hội ở Việt Nam hiện nay
3.4.1. Giải pháp trong công tác phát hiện và xử lý tội nhận hối lộ
82
3.4.2. Giải pháp trong việc thực hiện cơ chế quản lý kinh tế
83
3.4.3. Giải pháp về công tác tổ chức cán bộ
84
Kết quả CPI hàng năm của Việt Nam
64
3.2
Tổng số vụ và số bị cáo bị xét xử sơ thẩm về tội nhận hối
70
lộ (2007 - 2013)
3.3
Thống kê xét xử phúc thẩm của Tòa phúc thẩm Tòa án
nhân dân tối cao tại Hà Nội về tội nhận hối lộ theo Điều 279
BLHS (2007 - 2011)
7
73
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay đất nước ta đang trong bối cảnh đổi mới, Đảng và Nhà nước
đang từng bước đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phấn đấu
vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh. Đặc biệt
Việt Nam đã trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)
vào năm 2007, đây là cơ hội tốt cho nước ta tăng cường phát triển, hợp tác
giao lưu với các nước trên thế giới. Bên cạnh những thành quả đã đạt được,
diễn ra trong các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội hiện nay, nâng cao ý
thức trách nhiệm của các cấp, các ngành, các cơ quan, tổ chức, đơn vị, các cán
bộ, công chức và mỗi công dân về công tác phòng, chống tham nhũng. Trong
các văn kiện của Đảng và Nhà nước ta cũng đã thể hiện quyết tâm cao trong
cuộc đấu tranh với các hành vi tham nhũng, nhằm đẩy lùi và hạn chế đến mức
thấp nhất các hậu quả xấu của tệ nạn tham nhũng.
Trong số các tội về tham nhũng đang gây ảnh hưởng nghiêm trọng
đến hoạt động bình thường của các cơ quan, tổ chức thì tội phạm về hối lộ hết
sức được chú ý. Trong những năm gần đây, loại tội phạm này đang có những
diễn biến rất phức tạp. Một loạt những vụ án về hối lộ nghiêm trọng đã xảy ra
trong thời gian qua liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội như:
thương mại, đầu tư xây dựng cơ bản, bảo vệ pháp luật, thể thao, y tế… Mặt
khác tội phạm này đã tạo điều kiện hoặc cơ hội phát sinh nhiều loại tội phạm
khác như buôn lậu, đánh bạc, mua bán ma túy… Trong khi đó hoạt động áp
dụng pháp luật hình sự đấu tranh với loại tội phạm này vẫn còn nhiều khó
khăn, vướng mắc và chưa đạt được nhiều kết quả. Một trong những nguyên
nhân gây khó khăn cho hoạt động xử lý tội phạm về hối lộ là do sự thiếu rõ
ràng và chưa hợp lý trong quy định của luật hình sự hiện hành về các tội
phạm này.
Vì những lý do trên, đấu tranh phòng chống tham nhũng, hối lộ đang
là mục tiêu cấp thiết và cực kỳ quan trọng đối với Đảng và Nhà nước ta. Việc
tiếp tục nghiên cứu các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về
9
tội nhận hối lộ để làm sáng tỏ về mặt khoa học và đưa ra các giải pháp nhằm
hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả của công tác đấu tranh phòng chống
tệ nạn tham nhũng nói chung và hối lộ nói riêng là lý do cho sự cần thiết để
tôi lựa chọn đề tài "Tội nhận hối lộ theo luật hình sự Việt Nam" làm luận
nạp - diễn dịch… Trong các phương pháp trên thì phương pháp phân tích luật
giữ vai trò quan trọng nhất trong tất cả các phương pháp.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận về tội nhận hối lộ theo luật hình sự Việt Nam.
Chương 2: Các quy định về tội nhận hối lộ theo luật hình sự Việt Nam.
Chương 3: Thực trạng, thực tiễn xét xử và các giải pháp đấu tranh
phòng chống tội nhận hối lộ ở Việt Nam hiện nay.
11
Chương 1
LÝ LUẬN VỀ TỘI NHẬN HỐI LỘ THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1. KHÁI NIỆM VỀ TỘI NHẬN HỐI LỘ
Tham nhũng, hối lộ là căn bệnh mang tính phổ biến nhất của quyền
lực. Nó xảy ra ở tất cả các nước trên thế giới, không phân biệt chế độ chính
trị, có mặt trong mọi lĩnh vực liên quan đến hoạt động quản lý xã hội. Việt
Nam coi tham nhũng hối lộ là quốc nạn, cần phải chủ động phòng ngừa và
kiên quyết trừng trị bằng các biện pháp cứng rắn và mạnh mẽ. Vì vậy đấu
tranh chống lại tệ nạn tham nhũng hối lộ là một trong những nhiệm vụ trọng
tâm được Đảng và Nhà nước ta quy định từ rất sớm. Ở nước ta khái niệm
tham nhũng, hối lộ cũng xuất hiện từ rất lâu thông qua thuật ngữ "quan
tham, lại nhũng" tức là quan lại có các quyền hành vơ vét của cải của nhân
dân để làm của riêng. Theo Từ điển tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học
thì: "tham nhũng là lợi dụng quyền hành để nhũng nhiễu nhân dân lấy của
cải" [36, tr. 56]. Còn theo quy định tại Khoản 2 Điều 1 Luật phòng, chống
tham nhũng năm 2005 có quy định: "tham nhũng là hành vi của người có
các tổ chức kinh tế Nhà nước. Chủ thể của tội nhận hối lộ được thực hiện do
người có chức vụ, quyền hạn lợi dụng địa vị của mình để làm trái với nguyên
tắc, trái với nội dung công việc được giao để nhận tiền, tài sản, hoặc lợi ích
vật chất khác từ người đưa hoặc môi giới đưa hối lộ, gây thiệt hại đến lợi ích
của Nhà nước, của công dân và thiệt hại đến lợi ích chung của toàn xã hội.
Về khách thể: tội nhận hối lộ xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của
cơ quan nhà nước, làm cho cơ quan nhà nước bị suy yếu, làm giảm lòng tin
của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.
Về chủ quan: tội nhận hối lộ được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, tức
là người nhận hối lộ thấy trước được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã
hội, thấy trước được hậu quả của hành vi đó nhưng vẫn mong muốn và để
mặc cho hậu quả đó xảy ra.
Về khách quan: người nhận hối lộ lợi dụng chức vụ, quyền hạn mà
mình có để làm một việc có lợi cho người đưa hối lộ và điều kiện để làm việc
đó là sẽ nhận một khoản tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác từ người đưa
hối lộ.
14
Như vậy, nhận hối lộ là hành vi thu lợi bất chính cho bản thân, việc
thu lợi này có thể trực tiếp hoặc thông qua trung gian để nhận tiền, tài sản
hoặc lợi ích vật chất khác. Giữa người nhận hối lộ với người đưa hối lộ hoặc
người môi giới đưa hối lộ có sự thỏa thuận trước. Thời điểm hoàn thành tội
nhận hối lộ tính từ thời điểm người có chức vụ, quyền hạn đã thỏa thuận và
đồng ý sẽ nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác.
1.3. Ý NGHĨA CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU TỘI NHẬN HỐI LỘ
Trong những năm qua, đất nước ta đã đạt được những thành tựu quan
trọng trong công cuộc đổi mới, kinh tế - xã hội không ngừng phát triển, trật tự
TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.4.1. Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội nhận hối lộ
trước Cách mạng tháng Tám năm 1945
Tham nhũng hối lộ là một hiện tượng xã hội xuất hiện từ rất sớm kể từ
khi có sự phân chia giai cấp và hình thành Nhà nước. Vì vậy trong lịch sử
việc đấu tranh phòng ngừa chống tham nhũng hối lộ cũng đã được giai cấp
thống trị của Nhà nước Việt Nam quan tâm.
Từ thế kỷ thứ I trước công nguyên đến thế kỷ thứ X sau công nguyên
đất nước ta chịu sự đô hộ của các triều đại phong kiến phương Bắc, do vậy ở
thời kỳ này pháp luật Trung Hoa đã được áp dụng ở Việt Nam, chủ yếu là bộ
luật nhà Hán và nhà Đường. Trong khoảng thời gian này các quan lại phong
kiến phương Bắc đã có hành vi tham nhũng gây nên sự phẫn nộ trong dân
chúng, làm dấy lên các cuộc khởi nghĩa đấu tranh của nhân dân. Để giải quyết
hậu quả do tham nhũng gây nên, chính quyền đặt lệ phong hầu, cắt đất thưởng
cho những người có công trấn áp phản nghịch. Nhằm hạn chế tệ nạn tham
nhũng của các quan lại và sự nổi dậy của người dân thuộc địa, xoa dịu đi sự
căm phẫn của nhân dân ta, Nhà Hán đã ban hành sáu điều luật quy định cấm
các quan lại không được làm một số việc, ví dụ như: dùng thế lực để chiếm
đoạt ruộng đất của người dân, vơ vét của cải của dân, giết hại dân…
Pháp luật hình sự Việt Nam thời kỳ nhà họ Khúc, họ Đinh và thời kì
tiền Lê: khi đó Nhà nước Đại Cồ Việt được hình thành mang tính chất của
16
một Nhà nước phong kiến. Do Nhà nước ta trong thời kì này còn yếu và đang
bị chiến tranh nên pháp luật hình sự trong thời kỳ này chưa được ban hành.
Đến khi thời nhà Lý lên nắm quyền trị nước thì Bộ luật Hình Thư mới được
ban hành. Đây là bộ luật thành văn đầu tiên của nước ta, trong bộ luật này có
Hồng Đức quy định các tội về chức vụ như sau: "Những kẻ đến cầu cạnh với
quan chủ ty việc trái pháp luật và kẻ vì người khác mà đến cầu cạnh thay, đều
bị xử tội biếm hay phạt; quan chủ ty nghe theo thì phải ghép vào tội làm trái
pháp luật, việc chưa thi hành thì xử tội biếm hay phạt" [46, tr. 63]. Tội nhận
hối lộ được quy định tại Điều 138 với khung hình phạt hết sức nghiêm khắc:
Quan ty làm trái pháp luật mà ăn hối lộ từ 1 quan đến 9
quan thì xử tội biếm hay bãi chức; từ 10 quan đến 19 quan thì xử tội
đồ hay lưu; từ 20 quan trở lên thì xử tội chém. Những bậc công
thần, quý thần cùng những người có tài được dự vào hạng bát nghị
mà ăn hối lộ từ 1 quan trở lên đến 9 quan thì xử phạt tiền 50 quan,
từ 10 quan đến 19 quan thì phạt tiền từ 60 quan đến 100 quan; từ 20
quan trở lên thì xử tội đồ, những tiền ăn hối lộ xử phạt gấp đôi nộp
vào kho [46, tr. 64].
Tội đưa hối lộ được quy định tại Điều 140 Bộ luật Hồng Đức:
Những người đưa hối lộ mà xét ra việc của họ có trái lẽ, thì
theo việc của họ mà định tội. Còn người nào thật oan khổ vì muốn
cho khỏi tội mà hối lộ thì được giảm tội. Người không phải việc
mình mà đi hối lộ thay người khác thì xử tội nhẹ hơn người ăn hối
lộ hai bậc [46, tr. 65].
Pháp luật hình sự nhà Lê là khá hoàn chỉnh, đã phản ánh được những
đặc điểm của xã hội lúc bấy giờ. Trong công cuộc lập pháp thì Quốc triều
Hình luật được xem là bộ luật quan trọng nhất và có giá trị lịch sử trong
khoảng thời gian từ năm 1429 - 1789 và được coi là đỉnh cao của những thành
tựu lập pháp trong các triều đại trước đó.
Ở thế kỷ XVI, XVII, XVIII diễn ra các cuộc chiến tranh giữa nhà
Trịnh - Mạc, rồi đến cuộc nội chiến Trịnh - Nguyễn. Sau đó quân Tây Sơn đã
18
sáng tạo nhất định thể hiện kỹ thuật lập pháp hình sự ở trình độ cao so với các
nước trong khu vực.
Như vậy, từ thời phong kiến trên phương diện pháp luật thì vấn đề đấu
tranh chống những hành vi tham nhũng, hối lộ đã được đặt ra. Tuy nhiên, việc
đấu tranh chống tham nhũng ở nhà nước phong kiến vẫn còn những hạn chế
nhất định. Đây cũng là một đặc điểm của Nhà nước phong kiến mà ở đó vẫn
tồn tại chế độ bóc lột.
Thời kỳ thực dân Pháp xâm lược năm 1858: Pháp thực hiện chính
sách "chia để trị", chia đất nước Việt Nam thành ba sứ với ba chế độ chính trị
khác nhau. Bắc Kỳ là đất nước nửa bảo hộ đặt dưới quyền cai trị của viên
thống sứ người Pháp. Ở Trung Kỳ triều đình bù nhìn vẫn được duy trì với
danh hiệu "chính phủ Nam Triều" nhưng quyền hành thực tế nằm trong tay
viên khâm sứ người Pháp là chủ tịch Hội đồng bảo hộ Trung Kỳ. Ở Nam Kỳ
là đất nước thuộc địa, không còn phụ thuộc vào triều đình Huế. Tại Nam Kỳ
theo Điều 11 sắc luật ngày 25/7/1884 Bộ luật Gia Long được áp dụng đối với
người phạm tội là người bản xứ, trong sắc lệnh ngày 16/3/1890 thực dân Pháp
quy định từ thời điểm này các tòa án ở Nam kỳ phải áp dụng luật hình sự của
Pháp thay cho Bộ luật Gia Long, ngoại trừ trường hợp luật hình sự của Pháp
chưa dự liệu được. Ở Bắc Kỳ, nghị định ngày 02/12/1921 của toàn quân Đông
Dương đã cho áp dụng luật hình An Nam. Ở Trung Kỳ, sắc lệnh số 43 ngày
31/7/1893 của Bảo Đại đã ban hành Hoàng Việt Luật. Trong Luật hình An
Nam gồm 40 chương với 233 điều đã dành Chương XI quy định về những
người chức dịch phạm tội, trong đó quy định tội nhận hối lộ tại Điều 71:
Những người chức dịch nhận những của lót hay nhận lời hứa của người ta,
hay là lễ trình để làm những việc thuộc về chức phận mình phải làm, mà việc
ấy chiếu lệ không được lấy tiền. Hay là đã nhận tiền, nhận lời mà bỏ không
làm phận sự mình nên làm, xét ra quả có chứng cớ, phải phạt giam từ 1 đến 5
năm và phạt bạc từ 80 đồng đến 120 đồng, lại phải cấm quyền công dân.
sức tiến bộ về kỹ thuật lập pháp hình sự ở nước ta lúc bấy giờ. Tuy nhiên do
tình thế hết sức khẩn trương không thể ban hành kịp các văn bản quy phạm
21
pháp luật nói chung và văn bản quy phạm pháp luật hình sự nói riêng nên
ngày 10/10/1945 Nhà nước ta đã ban hành sắc lệnh số 47-SL cho tạm thời giữ
các luật lệ cũ, trong đó có Bộ luật Hình An Nam, Bộ Hoàng Việt hình luật với
điều kiện không trái nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chính thể dân
chủ cộng hòa. Văn bản có liên quan trực tiếp đến việc lợi dụng chức vụ để
phạm tội xâm phạm tài sản Nhà nước trong giai đoạn này phải kể đến sắc lệnh
số 223-SL ngày 17/11/1946 quy định hướng dẫn các Tòa án trừng trị một số
một số tội phạm liên quan đến tài sản, sắc lệnh số 267-SL ngày 15/6/1956 quy
định về việc trừng trị âm mưu hoạt động phá hoại làm thiệt hại đến tài sản của
Nhà nước, của hợp tác xã và của nhân dân, làm cản trở việc thực hiện chính
sách, kế hoạch xây dựng kinh tế và văn hóa. Pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội ngày 21/10/1970 quy định về việc trừng trị các tội phạm xâm phạm
tài sản xã hội chủ nghĩa và tài sản công dân bằng việc lợi dụng chức vụ,
quyền hạn của những người có chức vụ. Những văn bản này có ý nghĩa rất
quan trọng trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và tội tham
nhũng nói riêng.
Sau khi giải phóng miền Nam thống nhất đất nước năm 1975, Chính
phủ cách mạng lâm thời Miền Nam Việt Nam đã ban hành sắc lệnh số 03
ngày 15/3/1976, sắc lệnh này quy định thêm tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn
và quy định tội nhận và đưa hối lộ. Đến năm 1979 trong bối cảnh Mỹ và các
nước thù địch khác ra sức bao vây, cấm vận, chúng ta phải đối phó với hai
cuộc chiến tranh quy mô lớn ở biên giới phía Tây Nam và phía Bắc. Ngoài ra,
đất nước ta còn phải đương đầu với những khó khăn chồng chất về kinh tế và
đời sống, tình hình tiêu cực nhất là tệ nạn hối lộ vẫn diễn biến hết sức phức
như chủ quan duy ý chí, duy trì quá lâu mô hình kinh tế quan liêu, bao cấp
nên không thực hiện được mục tiêu đã đề ra là ổn định tình hình kinh tế - xã
hội và đời sống nhân dân, pháp chế xã hội chủ nghĩa chậm tăng cường, pháp
luật kỷ cương bị buông lỏng. Mặt khác, các văn bản quy phạm pháp luật hình
sự hiện hành không thể hiện toàn diện, đầy đủ chính sách hình sự của Đảng và
Nhà nước ta. Chính vì vậy việc ban hành Bộ luật hình sự trong thời kỳ này là
23
một vấn đề có tính tất yếu khách quan và cấp thiết, có ý nghĩa góp phần thực
hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc
Việt Nam dân chủ cộng hòa. Vì vậy, để thực hiện được các nhiệm vụ đó, ngày
27/6/1985 tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam khóa VII đã thông qua Bộ luật hình sự, có hiệu lực từ ngày 01/01/1986.
Bộ luật hình sự được ban hành là bước tiến quan trọng trong lịch sử lập pháp
hình sự ở nước ta.
Bộ luật hình sự năm 1985 đã kế thừa và phát triển những thành tựu
của pháp luật hình sự Việt Nam nhất là từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945,
tổng kết kinh nghiệm đấu tranh phòng chống tội phạm trong thời gian trước
năm 1985 và dự báo được tình hình tội phạm trong thời gian tới. Đây là Bộ
luật hình sự đầu tiên của Nhà nước ta, Bộ luật này bao gồm có 2 phần: phần
chung và phần các tội phạm, tổng cộng có 20 chương với 280 điều, trong đó
quy định các tội về tham nhũng một cách tương đối đầy đủ tạo điều kiện cho
việc xử lý tội phạm tham nhũng.
Riêng trong Bộ luật hình sự năm 1985, tội nhận hối lộ được quy định
tại Điều 226 đã được sửa đổi, bổ sung tới ba lần: lần thứ nhất vào năm 1991,
lần thứ hai vào năm 1992 và lần thứ ba vào năm 1997. Một mặt thể hiện sự
hoàn thiện pháp luật hiện hành theo các chuẩn mực của khoa học luật hình sự,
mặt khác cũng thể hiện sự vận động phù hợp với tình hình phát triển của xã
năm 1999 (gọi tắt là Bộ luật hình sự năm 1999) thay cho Bộ luật hình sự năm
1985. Bộ luật hình sự năm 1999 ra đời là kết quả của việc tổng kết thực tiễn
đấu tranh phòng, chống tội phạm. Bộ luật hình sự này còn thể hiện toàn diện
chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay, đây là
công cụ sắc bén trong việc đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ chế độ xã
hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa các
đồng bào người dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp
của cơ quan, bảo vệ trật tự xã hội… góp phần vào công cuộc đổi mới của đất
nước, nhất là trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân dưới sự lãnh đạo của
25